vhnt, số 300
27 May 1997
Trong số này:
thư vhnt.................................................................PCL
T h ơ:
1 - Ðứng trông ngày tháng........................................Chinh
2 - Nhớ người dưng............................................Cát Nhu
3 - Như một lời chia tay.........................Nguyễn Xuân Thiệp
4 - Kinh chiều...............................................Hoàng Vi Kha
5 - Cánh ve sầu................................................Thu-Hồng
6 - Ai? ..............................................Trương Trọng Hoàng
7 - Hương xưa.............................................Hồ Văn Mẫn
8 - Hoài niệm......................................................Ý Nhi
D i ễ n Ð à n V ă n H ọ c:
9 - Nhìn Lại 40 Năm Văn Học Chiến Tranh:
Chiến-Tranh & Văn-Học Việt-Nam Hải Ngoại sau 1975 (phần 3)
........................................................Nguyễn Vy-Khanh
T r u y ện N g ắn / S án g T ác:
10 - Thiên đường xanh của mẹ.........................Ðinh Yên Thảo
Chào bạn đọc,
Trở lại sau một cuối tuần nghỉ lễ dài, mong chúng ta tìm lại được niềm vui bình thản với những công việc tiếp tục.
Vhnt số này gửi đến bạn những sáng tác thơ văn và phần cuối bài tiểu luận của Nguyễn Vy-Khanh, đề mục "Chiến-Tranh & Văn-Học Việt-Nam Hải Ngoại sau 1975".
Ðinh Yên Thảo với "Thiên Ðường Xanh của Mẹ", một bài tùy bút cảm động với cảm xúc rất thật và gần gũi về Mẹ. Hình ảnh Mẹ vẫn luôn là hình ảnh đẹp và dịu dàng nhất trong lòng. Dù còn Mẹ hay mất mẹ, thì hình ảnh đằm thắm của Mẹ vẫn mãi mãi ở bên lòng, đem hơi ấm và tình thương ngọt ngào, nhẹ nhàng và an lành, hạnh phúc nhất.
Xin chúc bạn một ngày vui.
thân ái,
PCL/vhnt
Ðứng Trông Ngày Tháng
Bước về sóng sánh mưa bay
Ngồi nghe phố kể những ngày phù du
Nhớ khan những lá môi hồng
Thả trôi sợi tóc bay mù bến sông.
Bước về theo những truông mây
Người đi qua núi, ôm đầy chiêm bao
Ðứng trông ngày tháng xa mờ
Ngồi đây gõ những vần thơ úa màu.
Chinh
20/3/1997
NHỚ NGƯỜI DƯNG
Em trót dại để tim mình mở ngỏ
Người lẻn vào không một chút âu lo
Người "đột nhập" không một chút đắn đo
Và tim em thuộc về người từ đó
Và cứ thế hết xuân rồi sang hạ
Lối em về người lại cứ "vờ" qua
Ðể bước chân khi sắp sửa đến nhà
Bỗng luống cuống bởi tia nhìn vội vã
Em trót dại trao cho người tất cả
Ðể bây giờ ngồi khóc mối tình xa
Lời hẹn ước ngày xưa giờ xa lạ
Người quên rồi ngày tháng đã qua
Và cứ thế thu đi rồi đông đến
Nỗi nhớ trong em lại cứ thêm lên
Ðã nhiều lần em tự nhủ phải quên
Nhưng quên chẳng được, nhớ lại thêm nhiều
Cát Nhu
Như Một Lời Chia Tay
như một lời chia tay
tôi gửi lại
một góc phố rực lá vàng
quán cà phê mở cửa dưới giàn hoa giấy
tiếng chim lúc mình hôn nhau
tôi gửi lại
căn nhà. gió động cây đàn gỗ chùng dây. cửa sổ
nhìn ra sông. hoàng hôn
tím màu hoa đồng thảo
hồn tôi suốt bao đêm cùng đốm lửa vườn xưa
thức trong cây và đất
đợi chờ ai. hừng đông mưa
phượng đỏ một lời yêu dấu cũ
là lúc chia xa
tôi gửi lại
con hẻm mùa đông
gầy yếu
tiếng rao hàng vào giấc ngủ khuya
những khuôn mặt bạn bè với nhiều nếp gãy
cuộc đời. sướng. khổ. nhọc nhằn
tôi gửi lại
tôi gửi lại
thành phố như một đóa quỳ vàng
(thành phố mối tình đầu của tôi. nay gửi lại)
nắng. mưa
ngôi mộ người thân với chút tro than
ôi chút lòng hoài vọng sót
gửi nụ cười trên môi em bé có tên gọi Bình Minh
tôi gửi lại
đất và người
gió bắt đầu từ lãng quên
Saigon, tháng 5-1995
Nguyễn Xuân Thiệp
Kinh Chiều
Chiều xuống
Sương phủ mờ mọi vật
Bên song thưa
Dáng mẹ ngồi lặng im
Chút ánh sáng,
hững hờ và yếu ớt
Soi bóng gầy
đổ xuống thềm lạnh câm!
Mẹ khóc
không chỉ bằng giọt lệ gầy qua khóe mắt
mà chính bằng cuộc tan biến thương đau
giọt lệ đỏ như những giọt máu nào
đang chảy ngược về nhiều năm trước
Mẹ mang thân một loài cổ thụ
che cỏ cây bé nhỏ trước cơn giông
lốc trốc da,
máu chảy,
vẫn gắng gồng
mang đời Mẹ đổi đời cho con trẻ
Trong dòng chảy phủ phàng và nghiệt ngã
Trò chiến tranh Mẹ chỉ là nạn nhân
Thương tâm thay định mệnh đã an phần
Dao đồ tể có màng chi sinh mạng
Bảy mươi năm
nổi trôi theo vận nước
Khổ đau nào Mẹ chẳng bước chân qua
có ai ngờ đời vẫn lắm xót xa
Bảy mươi tuổi sống đời không Tổ Quốc!
Nắng đất khách không làm vui được Mẹ
Mưa tha hương chỉ thêm xót trong lòng
Lũ cháu con, bọn chúng có biết không?
Mẹ cam phận chỉ vì thương con cháu
Có đôi khi giữa công viên ngơ ngáo
Chốn đông người Mẹ vẫn thật cô đơn
Tháng năm qua, tóc Mẹ trắng thêm hơn
Nhìn chiếc lá rơi xa cành...
Mẹ khóc!
Và ánh sáng cuối ngày đã tắt
Mẹ vẫn ngồi im lặng với câu kinh
Lòng Mẹ đau, khi niệm câu Thái Bình
Không dám hỏi bao giờ về cố quốc!
Bao nhiêu năm vẫn hoài câu kinh ấy
Phật trên trời gạt gẫm Mẹ bao năm
Mẹ gắng tin
dù biết có thể lầm
Kinh Mẹ đọc chiều nay sẽ khác
Dù ngày mai Mẹ đây đã thác
vẫn mong rằng đất nước lại trổ hoa
những lời kinh chợt bỗng thiết tha
Ngày đang tắt
nhưng lòng Người đang nhóm Nắng!
Hoàng Vi Kha
Cánh Ve Sầu
Nó xa nhà đi học
Khi mới chín tuổi đời
Những đêm hè không ngủ
Nó nhớ Mẹ khôn nguôi
Bước chân sầu lặng lẽ
Giữa khung trời bơ vơ
Muốn tìm hương của Mẹ
Nhưng kiếm ở đâu giờ?
Thông rừng reo vi vút
Hoà lẫn tiếng ve kêu
Âm thanh nào chất ngất
Cho hồn nó đìu hiu
Nó thích trùm chăn đơn
Nhìn ve thay màu sắc
Lập lòe cánh ve non
Như thiên thần trước mặt
Nó hình dung Mẹ nó
Ðẹp tựa một bà tiên
Nó nép mình nói nhỏ:
Con thương Mẹ dịu hiền
Thông rừng vẫn reo vui
Nhưng Mẹ ở đâu rồi?
Trên trời sao lấp lánh
(Sao nào của Mẹ tôi?)
Thu-Hồng
5/13/97
AI?
Gió chiều nhẹ khiến lòng chạnh nhớ
Nhớ về nhà hay nhớ về ai?
Ký ức vẽ nhạt nhòa trong mắt
Có hoa, cỏ, cây và có ai?
Ðến ngày nao sẽ về phương ấy
Bước chân về chốn xưa tìm ai?
Khối lòng mỏng manh như cánh bướm
Vật đổi sao dời ai gặp ai?
Trương Trọng Hoàng
hương xưa
Con đường xưa em đi
Hàng me dài xanh lá
Giữa khung trời mùa hạ
Chim líu lo ân tình
Nắng vào hồn lung linh
Môi hồng thơm tuổi dại
Thịt da thời con gái
Thương áo mỏng lụa mềm
Thương bàn tay trao duyên
Ðường nằm yên ngửa mặt
Soi tình yêu trong vắt
Gío hôn tóc bồng bềnh
Trời và mây mông mênh
Hàng me cười lá rụng
Bảo em hay làm nũng
Cho ngọt ngào yêu dương
Cỏ hoa bên vệ đường
Ôm chân ngà quên lối
Bảo em hay hờn dỗi
Cho ai hoài thương em
Những ngày xưa êm đềm
Tan như chùm hoa biển
Còn chăng là kỷ niệm
Một ngày hè rất thương
Cùng em đi trên dường
Nắng vàng nghiêng bóng nhỏ
Có hàng me nhung nhớ
Có bóng mát cuộc đời
Của Sài Gòn xa xôi...
Hồ Văn Mẫn
Ottawa
Hoài Niệm
Ta nhận im lặng một đời
Ta nhận mang nỗi đơn côi một mình
Ta nhận cuộc sống lặng thinh
Ta nhận đơn lẻ... bóng hình người xa.
Còn đâu những buổi chiều tà
Còn đâu đổi kẹo bạc hà ô mai
Còn đâu dáng "đó" chờ "ai"
Còn đâu "ai" "đó" từng ngày lang thang
Nhớ thương ngày tháng bẽ bàng
Nhớ thương chiều xuống nắng vàng bơ vơ
Nhớ thương ngày ấy dại khờ
Nhớ thương hình bóng trong mơ uà vào
Người xưa giờ ở chốn nao
Người xưa hình bóng nhuốm màu sương sa
Người xưa nay đã nhạt nhoà
Người xưa - mây trắng - bay xa mất rồi...
Ý Nhi
(D. H.)
Nhìn Lại 40 Năm Văn Học Chiến Tranh Văn Học Chiến Tranh Sau 1975
tiếp theo kỳ 3:
Một khuynh hướng khác viết về chiến tranh như quá khứ nhìn lại và với cái nhìn suy tư của kẻ chín mùi đời, trong số có Ðỗ Thúc Vịnh với Hoàng Hôn Tùy Bút (1991), Nỗi Ám Ảnh Của Quê Hương (1996). Vũ Ký có Truyện Và Ký (1994). Doãn Quốc Sỹ viết Dấu Chân Cát Xóa (1995) về những hành hương trí thức của hai thanh niên trên đất Mỹ, Người Vái Tứ Phương viết về đời sống ở miền Nam sau 1975, Mình Lại Soi Mình chuyện va chạm sống chung sau 1975 và cuộc vượt thoát của nhân vật Phượng. Cỏ Ðùm (1996) gồm những chiêm nghiệm về chiến tranh vừa qua, về những biến cố lịch sử khác, v.v... Phan Lạc Tiếp viết Nỗi Nhớ (1995) bút ký 20 năm chinh chiến của một sĩ quan hải quân, kế tiếp là Quê Nhà Bốn Mươi Năm Trở Lại (1995) bút ký người và cảnh quê nhà trùng phùng. Trong loại này còn có tiểu thuyết Trên Sông Hồng Cuồn Cuộn (1995) của Nguyễn Tường Bách viết về giai đoạn Tự Lực Văn Ðoàn và những con người cách mạng dân tộc sau đó.
Có người viết nhắm độc giả bản xứ, như Jade Huỳnh Quang Ngọc với South Wind Changing (199 ), hay cuốn Behind The Bamboo Hedges muốn nói lên một số sự thực về chiến tranh và miền Nam vẫn bị hiểu lầm, Mai Ngu yen trong God's Will về một Việt Nam đất hứa không cộng sản, Công Huyền Tôn Nữ Nha Trang với The Mơn of Hòa Bình, một tổng kết lịch sử; trong khi Le Ly Hayslip viết When Heaven and Earth Changed Places nói lên cái nhìn của một nạn nhân chiến tranh muốn quên quá khứ. Tất cả viết với kinh nghiệm sống thời chiến tranh và sau đó.
THƠ là thể loại rất phong phú tại hải ngoại, có những nhà văn trong nước không chuyên về thơ, khi ra hải ngoại lại làm thơ như Võ Phiến, Phan Nhật Nam, Duy Lam, Tạ Tỵ; có vị rất độc đáo, như Thanh Nam, Cao T ần Lê Tất Ðiều, Mai Thảo...
Tô Thùy Yên sau 10 năm tù cải tạo (sau thêm ba), nhà thơ khổ hạnh thốt lên những tiếng lòng bi tráng:
Vĩnh biệt ta-mười-năm chết dấp
Chốn rừng thiêng ỉm tiếng nghìn thu
Mười năm mặt xạm soi khe nước
Ta hóa thân thành vượn cổ sơ
... Ta về cúi mái đầu sương điểm,
Nghe nặng từ tâm lượng đất trời.
Cám ơn hoa đã vì ta nở.
Thế giới vui từ mỗi lẻ loi
...Ta về như hạc vàng thương nhớ
Một thuở tràn gian bay lướt qua.
Ta tiếc đời ta sao hữu hạn,
Ðành không trải hết được lòng ta.
(Ta Về)
Thơ Tô Thùy Yên chống cộng như một tập đoàn tàn bạo, một khối tảng vô hình. Ông tố cáo quyền lực hủy hoại con người. Thơ ông lấy triết lý và suy tưởng của con người để chống bạo lực do đó thoa.t nhìn không có cái mãnh liệt của thơ chống cộng nhưng mãnh liệt đâm xoáy con người:
Thanh Tâm Tuyền với Thơ Ở Ðâu Xa (1990) là những sáng tác trong suốt thời gian bị tù cải tạo. Thơ về những chịu đựng của kiếp người, buồn nhưng không ủy mị, buồn triết lý, buồn sâu. Khi còn trong vòng tục lụy của thù hận "cải tạo":
Soi bóng trong mắt nghếch của trâu
- đen ướt màu bùn, hiền giả - người vỗ về trâu
Trên những cánh đồng khốn nạn dạn dầy
Qua suốt những mùa đông dài ác nghiệt
Vẫn mãi lãng du bóng trăng xanh
dù đêm lốc tối thúc quật chôn dấp
Vẫn lầm lủi bóng tù khổ sai và trâu trong ánh chớp xé rọi luống cày"
(Thơ Tặng Bạn Ði Cày, 1988)
Tuột dốc té nhào trên hẻm núi
Chết điếng toàn thân trong giây lâu
Mưa rơi đều hạt mưa phơi phới
Ngày đang tàn hiu quạnh rừng sâu...
... Ðầm mình trong hạnh của ẩn mật
Mắt hoen nhòe hứng giọt thiên thâu
Dò dẫm lối về đêm tối mịt
Sông xa núi thẳm quê nhà đâu?"
(Ngã Trên Núi Việt Hồng Ở Yên Báy Khi Ði Vác Nứa)
Lưu đày ngay trên chính quê hương, lưu đày thực hữu trong da thịt chứ không chỉ lưu đày hiện sinh những thập niên trai trẻ trước đó:
Lưu đầy trên đất Bắc
Còn qua bao cửa ngục
Ðây quê mình quê người?
Chốn nào về thân thiết?
Ngày nào được thảnh thơi?..."
(Ðêm Ðông Ở K2 Tân Lập)
Trần Hồng Châu cũng cảm nghiệm và sống cái hiện sinh lưu đày đó ngay giữa lòng phố của chính mình nay đổi chủ. Sau tạp bút Thành Phố Trong Hồi Tưởng (1991) là tập thơ Nửa Khuya Giấy Trắng (1992) trong c ó bài "Tháng Tư... Mưa Ngâu Dầm Dề":
Ngã Sáu Sàigòn có những bộ lạc về từ rừng sâu tiền sử
Từ kinh tế mới âu sầu mất hướng
Trại lưu đầy dựng bên bờ đại lộ quê hương
Bên kim tự tháp rác rưởi trầm ngâm
Lửa hờn căm đốt sôi lòng nồi nhỏ
Sưởi ấm ruột gan rét cong giữa trưa hè
Bằng mấy hạt cơm trừu tượng
Bằng vài lời hứa... thiên đường trần gian
Áo quần tả tơi
Bướm say vào mắt bão
Thịt xương lỡ lói
Tranh lập thể mơ hồ...
(...)
Tôi đứng giữa Sàigòn hay vẫn còn trong chùa Ngọc hoàng
Ở đâu có những âm cung
Rợn tóc gáy sởn da gà
Ðường xuống địa ngục khúc khuỷu
Ðường lên dương thế quanh co
(...)
Ðêm Vu Lan đêm vô vọng
Trong mưa ngâu dầm dề
Mưa ngâu nhỏ lệ... tháng Tư
Trời hụt hẫng mười hai đau xót (...)
(tr. 143)
Ðến tập Nhớ Ðất Thương Trời (1996) nhà thơ khoa trưởng tư duy chín mọng đi vào cái buồn triết lý, nhiều suy tư về hệ lụy làm người xa xứ. Lưu vong như là hậu quả của chiến tranh được đa số các nhà thơ đưa vào tác phẩm của họ. Trần Nghi Hoàng với Lưu Vong Hành (1988), Nguyễn Ngọc Thuận với Tù Ngục Và Tâm Thức Lưu Ðày (1988) với nửa phần Tù Ngục có những bài chứng tứ cho một thời bi thảm đô `ng thời là bản cáo trạng u uất:
Tao đưa mày ra mồ
Nằm đây mà an nghỉ
Thoát một kiếp lao tù
Trả cùm gông lại họ
Bát ngô thiu cúng mày
Không tìm ra nhang thắp
Ðất núi sỏi khó đào
Huyệt nông mày nằm vậy...
(Ðám Ma Tù)
Hoàng Xuân Sơn với thi tập Viễn Phố (1988) dĩ nhiên là những hoài niệm, những hoạt cảnh chiến tranh và sau đó:
Chúng ta như bầy thú dưới chân tường máu
dấu nổi đóng ngay trên trán hằng ngày
Cháy khét mùi chủ nghĩa
Ðàn bò hàm thiếc đeo gông
lầm lũi đi đêm trường vô định...
(Vọng Từ Cõi Âm)
Rồi chuyến xe cũng về nơi "thống nhất"
ôi đâu phải là đoàn tàu mơ ước
mà chỉ là con tàu đổ nát quê hương
bánh nghiến rách bươm giấc mộng bình thường
những toa xe chở người và súc vật
anh đã có mặt
trên chuyến xe về miền tự do đói khát
chỉ có hờn căm buộc phải nằm lòng
những chuyến xe đổ người vào trại tập trung
khóa chặt cổng con đường quay trở lại...
(Lạc Ðường Lịch Sử)
Những nhà thơ khác về chiến tranh, tình đồng đội, nhớ về chiến trường xưa có Hoàng Phong Linh (Võ Ðại Tôn) với Tiếng Chim Bên Dòng Thác Chamy (1992), hay Lưu Nguyễn với Tri Âm (1990), Ngày Qua Rất Vội (199):
Ta với nó vẫn trên cùng đất nước
mà mấy năm không gặp gỡ một lần
từng cánh thư đi, từng cánh thư về, bao lần hẹn ước
khói lửa chiến trường cuốn hút nỗi chờ mong
Rồi đất nước trong nỗi sầu tang tóc
tháng tư nhục nhằn, một chín bảy lăm
nó nhìn ta đôi mắt buồn muốn khóc
trước mũi súng thù hai đứa vẫn lặng câm...
(Tri Âm, Gửi Bạn Bè Còn Ở Lại)
Ngu Yên, tác giả Hóa Ra Nét Chữ Lên Ðàng Quẩn Quanh và Tựa Ðề Ở Bên Trong (1987) tỏ tài dùng chữ nghịch ngợm nhưng lúc nào cũng ý nhị, nhất là khi nói về đời sống ở xứ người. Ông có bài viết về người Phế Binh H.O.:
Sầu thưng đen đúa
Bóng ốm nhom
Anh về
Bước bước theo môi cười lạnh lùng không răng
Bàn tay co rút
Mấy ngón tay xưa đàn
Tiếng vẫn vang trong hồn mỗi lần thương đau
Tàn cơn binh lửa
Héo trái tim sọ người
Sống vẫn trơn qua đời mặc kệ hồn ai...
Nghiêu Minh có Dấu Xưa, Thường Quán có Ngoài Giấc Ngũ (1990):
Có phải là tôi đang đi trên một cánh đồng rạ
hay một kẻ nào đang mơ thấy tôi bước đi
(...) Ðứa trẻ nhỏ chạy xuống những bậc thềm
dưới thấp, nhà ga, những cụm xóm làng
chuyến tàu lửa chạy than
chở những người tự nguyện đầu hàng
và những người mang vết thương tự chuốc...
(Bậc Thềm)
Nguyễn Ðức Bạt Ngàn với Bình Minh Câm, Giữa Triền Hạn Reo, Từ Giã Ngày (1989). Cảnh Sài Gòn năm năm sau đi "cải tạo" trở về:
Năm năm trở lại Sài Gòn
nghẹn ngào nhìn bao đổ nát
mẹ ngồi ôm đầu tóc bạc
phố dài phủ một màu tang
... Ô hay năm năm rồi nhỉ?
(trời ơi! mất nước năm năm)
hãi hùng như cơn hồng thủy
(mùa xuân mùa của xa xăm)
năm năm trở lại Sài Gòn
hành trang chiếc quần rách nát
bỗng dưng ta thèm được hát
dưới cờ ba sọc vang vang...
(Năm Năm Trở Lại Sài Gòn )
hãy bình tâm đi em dù còn lắm nỗi thương đau
đang chào đón con đường đi trước mắt
là hạt gạo cắn đôi dêm quê nhà se thắt
đất nước thống nhất rồi nhưng mãi ngăn chia
mẹ còn chong đèn tăm tối phương kia
cha và anh còng lưng rừng thẳm
giữa ngợi ca ngụy hình tội ác
hòa bình hạnh phúc muôn năm...
(Nhật Ký Biển)
Lâm Hảo Dũng Ngày Ði Thương Sợi Khói Bên Nhà, Ði Giữa Thời Tan Nát là những kỷ niệm của người lính cộng hòa, những hành trình trong chiến nhưng chủ yếu là những hoài niệm về thời gian và nơi đã mất.
Quan Dương với Ngậm Ngùi (1996) những hoài niệm thời chiến trận, những đau khổ thời cải tạo và ở trại tị nạn:
Chiều loang lở bên dòng suối đục
Rửa bộ xương nặng nợ tiền khiên
Có con bướm bay ngang bắt gặp
Bốn mắt nhìn thờ thẩn không tên"
Hoặc Tạ Tỵ vớí tập Mây Bay (1996), hình ảnh kẻ thua cuộc:
Ngọn đèn canh le lói
Con mắt lòa đêm sâu
Hồi kẻng khua rộn rã
Một đêm lại cúi đầu...
(Nửa Ðêm Thức Giấc)
Có nhà thơ như Lưu Ðình Vong từng là trung úy TQLC và viết văn trước 1975 ký Ðịnh Nguyên nay có những bài thơ bi hận của một người lính cộng hòa thương binh vẫn bị tố để phải đi cải tạo ngoài Bắc hơ n 6 năm. Tập Thơ Giập Mặt (1988) là những lời phẫn nộ của kẻ bị trói tay, là những căm tức người lãnh đạo bất xứng. Dòng thơ phê phán chiến tranh và lãnh tụ đồng thời buồn tái tê cuộc sống mới và bản thân.
Các quan lớn đua nhau hồi ký
Kể công lao cai trị của mình...
...Nước đã mất cửa nhà tan nát
Dân điêu linh phiêu bạt xứ người
Tội, công năm đã rõ mười
Phân bua lắm cũng chi lờ ba que
Bẩm nhằng mấy cũng bè đào ngũ
Tâu bậy sao che lũ tham ô
Nói đi nói lại bằng thừa..."
(Hồi Ký Quan Lớn)
Vinh danh thay! hội tướng quân
Lù lù các đấng thường dân độ nào
Chưa mất nước đeo sao đầy cổ
Thằng cầm can, xách mũ theo hầu...
...Lúc quốc biến ông vù đi mất
Lại có ông từ chức khơi khơi
Bà dông cả tháng trước rồi
Thức thời thay! những con người đeo sao
Khi cộng sản tiến vào thành phố
Lính tốt đen cầm cự đến cùng
Nhục nhã thay! lệnh đầu hàng
Chỉ vì Tướng lọt, quân tan tinh thần
Người yêu nước tủi hờn tự vẫn
Sử xanh còn chói ngấn lệ thương
Kẻ tàn hơi giữa khám đường
Hồn oan chất ngất căm hờn quốc vong
Chưa xử tội một phường đào ngũ
Lại tha tào một lũ tham ô
Thế mà ngu vẫn hoàn ngu
Bây giờ toan tính dở trò mị dân...
(Hội Ðồng Chuột)
Một khuynh hướng thơ văn đấu tranh cho quyền làm người, đòi phá đổ bạo tàn trong đó có Nguyễn Mạnh Trinh, Hồ Công Tâm với Sống Trong Nổi Chết (1987), Trần Trung Ðạo với các tập Ðổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười (1993) và Thao Thức (1996), vv. Trần Trung Ðạo dâng cuộc đời anh:
Cho tôi chết làm người dân nước Việt
Linh hồn tôi phơ phát giữa trời Nam
Xác thân tôi trôi dạt bến sống Hàn
Làm phân bón cho quê nghèo khốn khổ...
(Cho Tôi Xin)
Về phía các nhà văn, Nguyễn Xuân Hoàng viết Sa Mạc (1989) tự sự hoài niệm của Ðặng Hồng Kha và trường thiên tự sự Người Ði Trên Mây (1987), Bụi và Rác (1996): cuộc đời thăng trầm nhưng không tuyệt vo.ng của Trần Lâm Thăng song hành với cuộc đổi đời của cả nước. Một giáo sư triết học trở thành người vô định, thụ động với đời mới, bị tù nhà ngục tối đen nhưng tâm trí muốn vượt thoát hiện tại.
Phan Lạc Tiếp với tập Cánh Vạc Lưng Trời (1992) tả những cảnh đời Việt Nam trong chiến tranh, nguồn gốc của những tội lỗi và đau khổ. Rồi những oan trái của đời sống mới ở đất tạm dung. Nhưng bâ y giờ thì cuộc chiến đã tan. Ðã tan từ ba năm qua. Cuộc chiến oan nghiệt đó đã hết, kéo theo biết bao nhiêu đáng cay thù hận. Cuộc chiến hết một cách lãng nhách và tất cả không ngờ. Bây giờ tôi sống ở đây, ở nước Mỹ này. Nhìn lại quanh tôi, nghĩ lại thời gian hơn hai mươi năm đau khổ đó, tôi luôn luôn thấy mình như kẻ mộng du... trong cái vắng lặng tột cùng đó, tôi như nghe thấy hết những âm thanh những âm thanh khốc liệt của hơn hai mươi năm cũ. Tôi nhắm mắt lại mà thấy như toàn thể cuộc sống của tôi, của bạn bè tôi hiện về. (Người đàn bà xa lạ).
Thế Giang sắc bén tinh tế và rất phê phán với Thằng Người Có Ðuôi (1987) vẽ bộ mặt tàn nhẫn hiện thực của con người trong một xã hội bạo động, chiến tranh thường trực ở miền Bắc.
Vĩnh Hảo một cây viết mạnh với Mẹ, Quê Hương Và Nước Mắt (1989), Núi Xanh Mây Hồng (1991), Biển Ðời Muôn Thuở (1992), Thiên Thần Quét Lá (1993). Không khí truyện của Vĩnh Hảo là một Việt Nam khốn khổ từ đời sống trại cải tạo, những đấu trí, đến những liên hệ tình cảm trong đời sống mới, từ những "đau đớn lòng" ở trại tị nạn đến đời sống xứ người. Những biển đời, những cái chết. Nhân vật của ông thường tìm hạnh phúc trong khổ nghèo. Và trong chốn thiền môn, dù chuyện thế sự vẫn quẩn quanh trong Phương Trời Cao Rộng (1993), Bụi Ðường (1995, tức PTCR 2) và Ngõ Thoát (1996) gần đây.
Ngoài ra văn học hoài niệm thời chinh chiến còn có sự đóng góp của: Ðỗ Quốc Anh Thư với Nửa Ðường Gẫy Cánh (1985) và Trong Thời Chính Chiến (1987). Sơn Tùng có Bầy Thú Nhỏ viết lại cuộc đấu tranh qu ốc cộng nơi một trại cao su giữa những người phu thợ và tay anh chị. Trần Sỹ Lâm với Cùng Một Màu Áo (1995) kinh nghiệm của một nha sĩ chiến trường. Hai nhà văn nữ viết đặc biệt về chiến tranh là D iệp Mỹ Linh với Sau Cuộc Chiến, Hải Quân Ra Khơi, và Kiều Mỹ Duyên với Chinh Chiến Ðiêu Linh (1994) - tập bút ký chiến trường từ cổ thành Huế, căn cứ hỏa lực 5 Tam biên, từ bờ sông Mỹ Chánh đến nhữ ng trực thăng tải thương, những ghi nhận của một người nữ phóng viên chiến trường.
Bức tường Bá Linh bị con người đập đổ, đế quốc cộng sản thay nhau tự xóa trên bản đồ, bên nhà đã cựa quậy "cởi trói", "đổi mới", một số nhà văn nhất là những người mới rời khỏi nước sau này bắt đầu nhìn lại chiến tranh với nhãn quan của con người đã sống đã là nạn nhân hơn là chũ nghĩa phải theo. Bắt đầu thời tranh luận "hòa hợp hòa giải" với nhóm Thông Luận ở Pháp và giao lưu vă n hóa với những tạp chí như Trăm Con ở Canada, Thế Kỷ 21, Ðối Thoại, Hợp Lưu ở Hoa Kỳ. Tranh luận, kiến nghị vang động một thời ở hải ngoại. Nay đã lắng và sự trao đổi, liên hệ đã ngày càng tăng. Chúng tôi nghĩ đây là điều tốt vì hai lẽ: một là có trao đổi thì mới hiểu biết, đối thoại, hai là văn học cũng như dân tộc sẽ "giàu" ra, sẽ đa dạng ra. Thời gian sẽ gạn lọc, một số vết thương sẽ thành sẹo, những quá khích sẽ mất dần. Và yếu tố thời gian, thế hệ, sẽ thiên về phía hợp dung. Không có chế độ kiểm duyệt, không chủ trương quốc sách, đành để thời gian và số đông bình tỉnh phá n xét với cái nhìn dân tộc!
Ở vào giai đoạn này, đã bắt đầu có những cây bút can đảm nói thật những suy nghĩ riêng tư dù vẫn có thể phiền những người quá khích một chiều, cả hai phía. Người viết lịch sử sau này cần biết đến những nhân chứng này, cũng như cần đến những ký sự của các vị lãnh đạo hai bên. Ðã có những tướng lãnh VNCH viết lại kinh nghiệm chiến tranh điều trần cho Ngũ Giác Ðài, nhưng cũng những vị đó chưa hề lên tiếng với đồng bào của họ.
Hoàng Khởi Phong với Ngày N+ (1988). Tập sau là hồi ký chiến tranh những ngày sau cùng của cuộc chiến. Ngày N là ngày 17-3-1975, ngày đầu của cuộc di tản chiến thuật, bỏ vùng cao nguyên. Cuốn phim chạy tìm số ng với những tự sát, đoàn quân mất kỷ luật và kỷ cương. Nếu muốn chính danh hơn nữa, thì đây là cuộc chiến ủy nhiệm của hai khối quyền lực tư bản và cộng sản, mà ở đó những kẻ lãng đạo của hai miền Nam và Bắc đẩy hai nữa phần dân tộc vào một cuộc chiến tranh mà cả hai đều rêu rao gương cao ngọn cờ dân tộc, nhưng sự thật cả hai guồng máy lãng đạo đều không một bên nào đích thực đại diện dân tộc. Chính nơi đây, tôi đau buồn thấy cái vô lý của đời người, cái vô nghĩa của cuộc chiến. Chính nơi đây tôi thấy người anh là lính công binh, góp phần kiến thiết trại giam để nhốt người em ruột của mình (tr. 254).
Họ Hoàng viết nhiều truyện ngắn đặc sắc về chiến tranh như truyện Ngẩng Mặt Nhìn Trăng Sáng hay truyện Thầy Giáo Thị là chuyện bi đát của một tâm hồn tốt nhưng hình như không đủ vì vẫn bị chiến tranh tàn nhẫn cướp đi. Bản thân nhân vật Thị là nạn nhân của trận chiến dai dẳng từ khi anh ra đời - anh con mồ côi và có thể có máu mủ với những người bên kia chiến tuyến. Phi lý, số mạng là nhữn g cắt nghĩa tạm cho hết những đớn đau kiếp người của anh, một người muốn sống khiêm tốn nhưng đống thời muốn sống cho ra sống với những đóng góp nhỏ nhoi. Ðịnh mệnh hình như lúc nào cũng oái ăm bất công với những người yêu chuộng công bằng và lẽ sống:
Ở Ðức Phổ, Thị chiến đấu như là một mãnh thú. Anh chống trả mọi cuộc tấn công của địch. Ðịch chẳng phải chỉ đe dọa tínhmạng anh, hôm nay có vợ con anh nữa. Ðịch sẽ chẳng những sẽ tàn phá ngôi nhà của anh, mà còn phá hủy ngôi trường yêu dấu mà anh đã đóng góp không ít trong việc hoàn thành bộ mặt cho ngôi trường này. (...) Khi cuộc tấn công mới bắt đầu Thị ngủ tại nhà anh, cách trường một đoạn đường ngắn. Anh tìm cách vào trong quận nhưng không được. (... ) Anh giải tỏa được hầu hết quận, làm chủ được tình hình quận sa u gần bốn mươi giờ chiến đấu không ngừng nghỉ, chỉ thỉnh thoảng tạt qua nhà, kiếm một đòn bánh tét, một đĩa sôi ăn cùng lính. Ðem mồng hai rạng mồng ba Tết, tình hình Ðức Phổ hoàn toàn sáng sủa. Thị rảo một vòng chót cùng trước khi về nhà nghỉ.
Anh ngang qua ngôi trường cũ một lần trước khi quay về nhà nghỉ lấy sức. Anh mở cổng trường tiến vào nơi chốn thân yêu. Anh đã thành công trong việc bảo vệ ngôi trường bốn chục giờ đồng hồ vừa q ua. Anh tiến tới giữa sân cờ, ngử đầu lên ngọn cờ vẫn còn rũ xuống vì sương đêm nặng trĩu. Có dấu hiệu của một ngày sắp tới trên nền trời thanh thanh. Anh nghe tiếng gió sớm và cùng một lúc một tiếng nổ vang lên, anh ngã gục xuống nơi những hạt bụi hồng, những chậu tỉ muội, những chậu cúc do chính tay anh trồng năm năm về trước. Một viên đạn bắn xẻ trong tầm gần đã quất anh ngã xuống kh ông bao giờ dậy được. Có lẽ những ý nghĩ cuối cùng của anh, anh mong rằng kẻ vừa bóp cò kia không phải là học trò cũ của anh, mà là một chiến binh cộng sản nào đó, căm tức sự chống trả mãnh liệt của anh, đã phá vỡ toàn bộ cuộc tấn công của họ vào Quận. Có le ý nghĩ cuối cùng của Thị anh tin chắc chắn: Không phải học trò của anh đã đoán được anh sẽ tạt ngang ngôi trường củ trước khi về nhà...
Gần đây ông bắt đầu viết trường thiên lịch sử Người Trăm Năm Cũ (Tập 1 Trên Núi Ðồi Yên Thế, 1993) với ý ôn kinh nghìệm cả trăm năm chiến tranh gần như không ngừng trên quê hương nước Việt.
Phan Nhật Nam với Những Chuyện Cần Ðược Kể Lại (1995), Ðường Trường Xa Xăm (1995) viết lên những oái ăm, hận thù cũ được nhìn lại với cái tâm tưởng thoát mọi ràng buộc độc đoán, một nhìn lại thời gian đi lính, nhìn lại những chiến trường cũ... Ông cần được kể lại vì phải nói lên tiếng nói của một tập thể đông đảo binh sĩ luôn chịu thua thiệt, bị ngộ nhận, có khi bị đồng hóa với nhữ ng người người chỉ huy hèn nhát:
Năm thứ nhất, thứ hai, thứ ba tôi sống thoải mái, vì đã đi đủ, nhìn đủ. Tôi cũng chấp nhận cho sự góp mặt ở chiến cuộc, góp mặt để chấm dứt chiến tranh. Thắng bại không kể, nhưng cốt yêu không ở ngoài, không chạy trốn khi bạn bè những người cùng trang lứa đang tham dự, đang ngã chết. Dù chết bên này hay bên kia, chết trong thù hận hay chết trong tình cờ. Những người tìm cái chết để biện giải cho đời sống. Tôi tham dự vào cuộc hành trình khốn nạn này. Giải thích này làm tôi yên ổn...
Tám năm lính, tôi hai mươi sáu tuổi, số tuổi gần ba mươi, không bạn bè, xa bằng hữu, số tuổi của nõi cô đơn kinh khiếp biến con người hững hờ, tàn ác như một lát dao. Tôi hai mươi sáu tuổi để thấy rõ cái mặc cảm phạm tội trước kia chỉ là một ảo tưởng xa xỉ của tuổi mới lớn, ảo tưởng về trách nhiệm con người đối với nhau... Sau tám năm ở lính, tôi hết là vùng đất để nghiệm và chịu ảnh hưởng. Tám năm ở lính để biết mình là một cánh chim tự do nhưng đã bị chặt cánh. Chính thương tích này đã làm sáng tỏ khả năng tự do bi đát của đời người.
Vì cuộc chiến có những bộ mặt tàn nhẫn:
Ðến buổi trưa, tôi hoàn toàn kiệt lực như một mũi tên rơi xuống cuối đường bay. Hình ảnh hai mái tóc bạc nhô lên từ miệng hầm, nét mặt của hai tên địch chưa quá mười sáu tuổi lôi lên từ một đám bèo, một tên còn đang ngậm một búng cơm... Những hình ảnh đó bây giờ còn cộng thêm cảnh chết của hai vợ chồng và ba đứa con ở trước mặt tôi. Họ chết từ ngày hôm kia, khi địch đặt bộ chỉ huy ở khu nhà thờ, người chồng là ông từ giữ nhà thờ đã đem cả gia đình trốn dưới cái bệ thờ Chúa.
Tượng Chúa ngã nghiêng, tượng Thiên thần vỡ tung tóe, hai bàn tay trắng bằng đất nung lăn lóc trên sàn nhà. Khi tôi cúi xuống nhặt hai bàn tay này thì khám phá ra năm xác chết trên. Họ chết ngồi, hai vợ chồng ngồi sát ôm ba đứa con trước ngực. Họ chết vì sức ép nên thân thể vẫn còn nguyên vẹn, nét mặt in vẻ hốt hoảng. Tôi ra lệnh kéo xác họ ra sân...
Kinh nghiệm viết từ cái sống đó không thể khác hơn những gì ông đã viết như nay nhìn lại:
Trước năm 1975, viết như một cách giải tỏa uất hận, phẫn nộ - do cảnh sống quá đỗi khắc nghiệt, tàn nhẫn của chiến trường vây chặt, tác động... Từ tuổi trẻ, qua những dòng chữ viết, tôi đã đặt nền móng đúng về một xác tín cao cả, bi hùng - Người lính đã chiến đấu cho tự do. Người lính đã chiến đấu với một mục đích tự thân - Chiến đấu bảo vệ phẩm giá CON NGƯỜI"
Cái phẩm giá đó bị chà đạp trong chiến tranh đã đành, nhưng khi bãi chiến trường vừa hết bom đạn, con người còn bị dày xéo hơn nữa trong những nơi gọi là trại cải tạo, nơi tù ngục lương tâm con người, nơi chà xéo nhân cách, nhân phẩm, nơi cái hèn bộc phát như chưa từng:
Chen trong tiếng chửi và chuỗi đòn thù Nhân nghe lời thét gào đứt khúc... Các ông hèn... hèn lắm!! Hèn là thế nào... Mày trả lời đi... Ðánh người đang bị cùm thì giỏi giang gì, đánh thằng già đang bị cùm thì còn hèn hơn... Tại mày già nhưng còn chống đối, mày ngu thì phải dậy cho mày khôn ra. Tiếng cười nhạt... Ai dạy ai, mấy mươi năm các ông biết đã dậy được ai không rồi chứ... Mày câm mồm đi... Ông lại cho thêm một trận nữa bây giờ. Nếu các ông đánh tôi chết được thì nên đánh bằng không vô ích thôi.. Giọng trả lời tỉnh như không. Ðược, ngày mai mày trả lời với với ban (...) Cửa phòng đóng lại, bóng tối chụp xuống. Nhân biết được trời đang trong buổi trưa nhờ liếc bóng nắng đổ chéo qua ngạch cửa. Một thế giới với những con người kỳ lạ, không thấy mặt, cò thật ở đây...
Người linh cộng hòa muốn giữ phẩm giá làm NGƯỜI đó là một binh nhì biệt kích đã nhảy dù xuống Ninh Bình hơn chục năm trước khi tác giả bị đưa nhốt cùng xà lim!
Trong hai tác phẩm mới nói trên, người lính nhà văn họ Phan đã nghiệm cảm đau đớn cho cái tình NGƯỜI đã mất trong thế giới hôm nay, ở người Việt. Ông muốn giải tỏa, kêu gọi xóa bỏ những hận thù mà cuộc chiến vừa qua đã gây ra vì ông nhìn thấy vết thương đó trong khi có người phó mặc, đường ta ta cứ đi! Một mình ông, ông đã can đảm làm việc đó dù ông đã là nạn nhân của chiến tranh, đã bị đọa đày bởi người cùng chiến tuyến (trước 1975, ông từng bị bắt buộc rời khỏi binh chủng nhảy dù, lý do đã dám nói thật) và cả kẻ nghịch thù. Cai bi hùng của con người trong cuộc chiến, cái bi hùng của người có trí đã tri và đã nói theo lương tâm con người! Trong một số thơ sáng tác gần đây, họ Phan thiên về đức tin tôn giáo.
Một người lính khác cũng chỉ vì có tâm và phẫn nộ mà cũng đã phải đáng cay trong cuộc đời: Thảo Trường với Tiếng Thì Thầm Trong Bụi Tre Gai (1996). Không gào thét, không than van, người lính HO với tuổi đời đã bình thản hơn nhưng sao nhiều lúc ông rất lạnh lùng như người viết sử, ngay trước cả những tàn độc của con người dành cho những con người khác, những kẻ thua thiệt, chậm chân như phải trả giá cho những tướng tá đã cao chạy xa bay. À, thì ra ông đã nhìn thấy cái thú tính nơi những con vật đã chối bỏ tư thế con người... "Chị Tư đè ngửa anh cán bộ xuống rồi chị khóc nấc lên thành tiếng "Tôi đây, tôi là của anh, nhà tôi là của anh, cái bào thai này cũng là của anh. Nó phải là của anh!". Anh cán bộ ú ớ dưới ngực chị. "Nó là của Ðảng! Tất cả là của Ðảng!"
Một truyện khác, Những Ðứa Trẻ Ðầu Thai Giữa Hàng Rào, đầu thai không phải chổ vì con người trong cái xã hội siêu quần đó phải trở về sống đời bản năng và tình cảm nguyên sơ: muốn có con để ít ra đó là lẽ sống giữa bao hùm sói thời dã sử. Tình người phải kiếm tìm bằng bản năng, bất chấp bạo lực cai tù, vì "không còn gì" như lời ai kia nỗi tiếng!
Như Phan Nhật Nam, Thảo Trường muốn dùng văn chương để mời gọi con người sống thật với chính mình, sống như con người lương thiện và có phẩm giá - những cái đáng phải còn lại của một cuộc tương tàn. Vì đồng bào của ông hãy còn lâm trận, cho tự ái, cho cái lý tưởng cũ kỹ đã trót đi, cho cái tôi hoặc cái bảo thủ, cái dĩ lỡ vẫn còn nặng nợ.
Trần Hoài Thư trong Ra Biển Gọi Thầm (1995) và nhiều thơ truyện khác viết về chiến tranh với cái nhìn của một người lính về cuộc chiến, một cái nhìn không lạc quan về một chiến trường bi thảm, ngoài lề tiếng nói của chính quyền, khác những tiếng ồn ào nhưng không chắc của đa số. Trước 1975, anh đã nghĩ:
Tôi đang viết về một thảm kịch, cho con cháu chúng ta trong tương lai, để sau này khi lớn lên chúng sẽ hiểu về cuộc chiến này. Ðêm qua, cả làng bên sông, nơi mà bọn tôi đã đến và gìn giữ, sau đó bàn giao lại cho nghĩa quân và xây dựng nông thôn, đã bị pháo dập. Ðịch kéo về cả đại đội chọc thẳng vào làng. Từ lâu những người bên kia đã coi cái làng như một cái gai cần phải nhổ bằng bất cứ giá nào. Những người ngồi ở Sàigòn hay Hoa thịnh Ðốn thì muốn coi ngôi làng như một thành công trong chính sách bình định phát triển. Nhưng đó chỉ là lý thuyết. Họ đã ngu xuẩn để hiểu về kế hoạch bảo vệ dân làng về lâu về dài. Một trung đội nghĩa quân làm sao đủ sức che chở cả ngôi làng. (...) Tôi đã đến cùng với bãi hoang tàn để hiểu rõ hơn về sự thật của cuộc chiến. Cuối cùng cũng vẫn là dân vô tội. Rõ ràng chúng ta đã bị thua. Chúng ta đã đến với họ, mang lại niềm tin cho họ, nhưng chúng ta không thể bảo vệ họ...
(Nhật Ký Hành Quân, tr. 129).
20 năm sau, trong Thư Về Người Ðồng Ðội Cũ Sau 25 Năm Thất Lạc, Trần Hoài Thư có dịp nhìn lại cuộc chiến: Tôi viết đến đây, bằng tất cả sự bình an của chính mình, sau hơn hai mươi năm, về một cuộc chiến kỳ lạ, vô ích, phi nghĩa phi nhân. Lúc này, chúng ta có quyền thẩm định về giá trị của chiến tranh và lịch sử. Nhưng tôi không thể bình an khi cái cuồng điên kia đã trở thành thú tính. Họ rõ ràng hơn chúng ta. Bởi vì họ có cả một khối thép thành trì bên ngoài và khối thép căm thù bên trong đầu óc, và con tim họ. Còn chúng ta thì cô đơn. (...) Chúng ta đã chiến đấu trong nỗi cô đơn và quả cảm. Và chết cũng quả cảm và cô đơn. Như bao nhiêu đứa con của một đại đội bộ binh. Như bao nhiêu người trẻ tuổi không may sinh vào một nơi đầy bao nhiêu tai ương lớn lao nhất của quả địa cầu" (tr 74).
Người lính của anh là những hoài niệm, ưu tư, khắc khoải, những cay đắng hoài nghi, nhưng cũng là những chân dung những người lính thật, có lữa có lòng, có tốt có xấu, nhưng vượt trên tất cả là thân phận của những con người bị đày đọa, hy sinh, lừa dối. Khác với những hồi ký của các lãnh tụ, tướng lãnh, tác phẩm của THT là những đau khổ anh hùng của những người lính vô danh, những tâm tư của một thế hệ trẻ bị nướng vào chiến tranh. Người lính Trần Hoài Thư đáng tội, chỉ vì anh có suy nghĩ, biết nhìn thấy những bất nhân và bất công, những tâm địa và tư cách của những kẻ cùng chiến tuyến. Anh đã dám nói lên những sự thật đau lòng của chiến tranh, của những người cùng chiến tuyến, dám nói khác những tiếng nói chính thức mà nhiều người đã nhàm nghe (35).
Trương Anh Thụy qua bộ trường thiên Chuyển Mùa đã xuất bản cuốn 1 với tựa Trạm Nghĩ Chân (1995) chuyện tình yêu và liên hệ với những người sinh viên do chế độ cộng sản gửi đi du học. Tình yêu giữa những thành phần trên nguyên tắc đối đầu trong chiến tranh. Tuổi trẻ liên hệ gián tiếp của cuộc chiến vừa qua có thể sống cái tuổi trẻ của họ: theo tác giả lưỡng cực Quốc-Cộng có thể vượt được, ít ra bắt đầu bằng tình yêu.
Hoàng Khởi Phong trong Cây Tùng Trước Bão (1994) viết về một thời chiến tranh sôi nỗi, những nhân vật là anh hùng phần lớn vô danh nhưng đã làm nên lịch sữ. Năm 1995, ông xuất bản Những Con Chuột Thời Thơ Ấu viết về những kỷ niệm ấu thơ đồng thời có cái nhìn dung hòa về đất nước và chiến tranh. Mới đây ông xuất bản Viết Lên Trời Xanh (1996) với "ước ao được thấy ngay từ lúc khởi đầu của thế kỷ mới, chiến tranh sẽ không còn ngự tri trên giải đất thân yêu". Truyện những người lính hai miền Bắc Nam từng đối đầu nhau trong chiến tranh và sau cuộc chiến, họ tình cờ gặp lại nhau. Ý thức hệ nhường chổ cho lòng người: tình người vẫn còn lại ở họ, những kẻ một thời không dung thứ người kia. Tương lai rọi sáng mọi tâm hồn, đương nhiên thù hằn phải vơi bớt.
Ngô Thế Vinh xuất bản Mặt Trận ở Sài gòn (1996) gồm một nửa là những truyện viết trước 1975, như một góp phần trong cuộc "thảo luận" về cuộc chiến vừa qua. Nhà văn Nhật Tiến cùng với Nhật Tuấn, người em ở lại miền Bắc, xuất bản chung tập truyện Quê Nhà Quê Người do nhà Văn Học ở thành phố HCM xuất bản. Vẫn những thảm kịch và tình đời thế thái ở trong và ngoài nước. Một nỗ lực bắt tay trong ngoài, vì tình hơn là chiến tuyến.
Những năm tháng gần đây, HO trở thành một đề tài được các nhà văn nhà thơ hoặc cựu tù cải tạo mới ra khỏi nước viết đến như các tập Về Miền Ðất Hứa (tập thể), Hành Trình Một Hát Ô (1995) của Ðặng Trần Huân, Bay Về Ðâu Ðó Ở Quê Hương của Trần Vấn Lệ, Ở Một Nơi Dễ Tìm Thấy Thiên Ðường của Huỳnh Văn Phú, hoặc các văn đi trước như Hà Thúc Sinh với Ông H.O. Trong các tập truyện thơ này đời sống mới một lần nữa lại được đề cập nhưng bi đát hơn vì tình hình kinh tế chung, những vấn đề của cộng đồng người Việt hải ngoại, liên hệ người mới người cũ, lính học tập lính đi trước, vv. Những người lính biệt kích bị bỏ rơi từ hơn 30 năm được nhắc nhở đến cho thấy thêm một bộ mặt tàn bạo khác của chiến tranh: người miền Nam bị kẻ thù và cả "đồng minh" đối xử tàn bạo và khai thác hết mình cho những mục tiêu ngoài họ trong khi họ đã hành xử vì lòng yêu nước đơn thuần.
Nguyễn Vy-Khanh
Chú:
(34) Trích lại từ Nguyễn Hưng Quốc. " 20 năm văn học Việt Nam ở hải ngoại" in 20 Năm Văn Học Hải Ngoại 1975-1995 (Glendale, CA: Ðại Nam, 1995). Tr. 18.
(35) Nguyễn Vy-Khanh. "Người lính trong truyện Trần Hoài Thư". Văn Học số 128 (12-1996), tr. 124-132
THIÊN ÐƯỜNG XANH CỦA MẸ
Mỗi lần cầm cây viết định tản mạn về điều gì, tôi cứ nghĩ rằng mình phải viết cái gì đó về mẹ. Nhưng tôi không làm được. Có lần viết đâu được mươi trang giấy, tôi lại xé bỏ. Nó giống đôi mẫu quảng cáo trên đài ra rả mà tôi đã nghe đôi lần. Thô kệch và buồn cười. Chẳng còn là cậu học trò lớp nhì, lớp nhất năm nào mà mỗi lần tả về mẹ, luôn bắt đầu bằng câu "Mẹ tôi dáng người thanh thanh, mặt chữ xoan, hay cười...". Không mẹ tôi đã qua cái thửa ấy rồi. Mẹ tôi già rồi, mặt đầy những vết nhăn. Mẹ cũng cười, nhưng nhìn ánh mắt của mẹ, tôi biết đó chỉ là những cử động co giản quán tính trên khuôn mặt bấ Những người già thì đôi mắt trông chẳng buồn hơn những người còn trẻ, bởi người khác có thể lẫn lộn triệu chứng của tuổi tác hơn là những thể hiện của cảm xúc. Nhưng tôi hiểu được điều gì trong ánh mắt của mẹ tôi. Dâu bể cuộc đời với những nhọc nhằn, mẹ tôi vẫn luôn cười để tiếp sức cho lũ tôi trên đường làm người. Nhưng những mất mát liên tiếp của những người thân yêu đã làm bà kiệt sức. Ðến khi em gái tôi đột ngột qua đời, bà hầu như ngã quị. Bởi vì những đứa con là cả cuộc đời bà.
Ðời người như một cuốn vở ghi chép ngổn ngang những chuyện buồn-vui-yêu-ghét, cơm-áo-gạo-tiền. Ngày qua ngày, cuốn vở dày thêm dần. Nhưng những trang giấy trong cuốn vở này chẳng bao giờ sạch sẽ được. Nó loang lổ chỗ này, mất chỗ kia. Bởi thời gian đã tẩy xóa bất cứ cái gì nó muốn. Từ tốn nhưng ngang ngược. Và cũng chẳng ai nhờ vả hay đút lót nó được. Mươi trang đầu ai chẳng bị nó nghịch ngơm đến trắng tinh. May lắm còn được dăm chữ lỗ chỗ như cái ô chữ đang giải dở dang. Có điều lạ, những nụ cười người ta cất giữ trong cuốn vở này lại bị nó tẩy sạch dễ dàng hơn là những giọt nước mắt. Nó đảo qua, đảo lại nhưng rồi bó tay trước những giọt nước mắt thấm sâu đến tận trang cuối của cuốn vở. Gía như nó công bằng hơn trong việc tẩy xóa.
Những trang vở thấm giọt nước mắt của mẹ tôi cho núm ruột của mình có lẽ vẫn còn nguyên vẹn. Hình như nó vẫn còn mới tinh, dẫu mấy năm trôi qua. Những bữa cơm có tô canh nóng nghi ngút, có dĩa xào thơm lừng, khúc cá chiên vàng lựng, mẹ tôi lấy thêm chén cơm, đôi đũa, nói gọn lỏn: "Ðể cho em." Lũ chúng tôi húp chén canh mà thấy nghèn nghẹn. Ðứa đứng lên gỉa vờ lấy thêm trái ớt, đứa với tay bật cái radio để tự trấn tĩnh mình. Nhớ em một, nhưng thương mẹ mười. Bà bình thản quâ Cứ như em gái tôi vẫn còn đang bận rộn trong phòng chưa kịp ra ăn cơm. Mà thật ra, lúc em tôi còn sống, cả gia đình có mấy khi được ngồi ăn cơm đầy đủ. Ðứa nào cũng lo việc làm việc học tới tối mịt mới về. Mỗi đêm chỉ dành chút thời gian ít ỏi, vừa bưng tô cơm vừa coi tin tức phim ảnh trên ti-vi để gọi là giải trí chút ít. Ðất Mỹ mà, thời giờ hình như bị co lại đôi tiếng mỗi ngày với mọi người. Bởi vậy anh em tôi chỉ gặp dăm phút ngắn ngủi buổi tối mà thôi, làm gì có thời giờ để ngồi cùng mâm cơm nóng hổi. Cũng chẳng bao giờ nghĩ rằng đó là những giây phút hạnh phúc của bữa cơm chẳng thiếu ai trong gia đình. Bình thường và tự nhiên đến độ có lẽ ai cũng nghĩ đó là điều cỏn con thường nhật. Nhưng mấy ai hình dung được khi trên mâm cơm luôn có chén cơm đôi đũa cho một người thân yêu chẳng bao giờ còn cơ hội để tham dự bữa cơm bình thường đó nữa... Riết rồi tụi tôi cũng quen dần với điều này. Bát phở, tô mì, dĩa bánh cuốn... luôn có một phần thừa. Khách quen thỉnh thoảng ăn chung bữa cơm gia đình thắc mắc, mẹ tôi ậm ừ "Ừ! kệ...". Ai cũng tin chắc đó là phần cơm của ai đó còn đang dở dang công việc. Hình như mẹ tôi cũng tin chắc điều này.
Chưa đủ lớn để hiểu cuộc sống là gì và như thế nào, em tôi đã xa mẹ. Cuộc sống tị nạn ở đảo chẳng mấy ai đã trải qua mà kể lại với những háo hức, hồn nhiên. Nó hoặc đốn ngã người ta hoặc trui rèn họ cái ý chí, sức chịu đựng. Cả vật chất lẫn tinh thần. Ðâu chừng ba năm trời, em tôi sống đơn độc, xa mẹ xa gia đình như vậy. Ðảo gì nhỉ? Bidong hay Galang. Cuốn vở của tôi dạo này cũng đầy những vết tẩy xóa. Kệ gì cũng được. Chỉ biết rằng em tôi đã trưởng thành từ những ngày vất vả này. Cuộc sống càng gian khổ thì những người hay chao đảo càng dễ hư hỏng và càng tranh giành cắn xé nhau nhiều hơn. Và những người đôn hậu thì càng vững chãi và yêu thương đùm bọc nhau hơn. May mắn thay, em tôi ở vào loại thứ hai. Ðiều này tôi biết được khi ngồi đọc hàng loạt thư từ của bạn bè, những người cùng cảnh ngộ với em tôi trên đảo, sau này... Nhưng bằng cách này cách khác, em tôi cuối cùng cũng đến xứ sở cờ hoa này cùng lúc với gia đình. Nó chấp nhận cuộc sống mới dễ dàng hơn. Hồn nhiên và nhẫn nhại. Bao giờ cũng cười, nụ cười thật tươi. Dẫu ngày làm việc tám tiếng, tối vào trường học fulltime. Công việc lại đòi hỏi phải làm thêm việc vào ngày cuối tuần. Chỉ còn ngày chủ nhật để chuẩn bị bài v Cuộc sống cứ vậy cho đến ngày ra đi vĩnh viễn. Hình như chưa lần nào được mặc áo dạ vũ đi hội với bạn bè. Những đồng tiền ít ỏi dành dụm được cũng vừa đủ một chiếc áo quan, loại thường. Chẳng để lại gì ngoài mấy cuốn vở học, một xấp thư từ dày cộm của bạn bè từ đảo gởi qua hay những bạn bè đã cùng cảnh ngộ nhưng nay may mắn hơn đang được định cư đâu đó từ các tiểu bang khác gởi về.
Tôi tìm được cuốn sổ tay của em tôi chi chít những tên người, ngày tháng, số tiền... Cứ hệt như sổ hụi. Ngày... Chị Lan 5 đồng, Mai 10 đồng, anh Phúc 10 đồng. Ngày... Xuân 10 đồng, chú Tư 5 đồng, gia đình thím Phương 20 đồng. Ngày... anh Hùng, Vĩ, Loan... 5 đồng, 10 đồng... Ngày... Những dòng chữ, những con số cứ như nhảy múa trước mắt tôi. Em tôi dè xẻn từng đồng tiền để... Ðất Mỹ, lại là con gái mới lớn nhưng chẳng sắm sửa gì nhiều, cũng chẳng mấy khi nghe nói shopping. Vậy mà san xẻ từng đồng tiền ít ỏi đó cho những người bạn còn ở lại trại tị nạn. Cái sổ tay đầy những tên người, số tiền không phải là những món nợ đời, mà là những chia xẻ, cảm thông của tình người. Cái tình người em để lại cao quý quá. Nhưng sao cuộc sống lại chẳng công bình cho mọi người, dẫu tốt hay xấu. Lá thư gởi chia buồn cùng gia đình tôi từ đảo, một người bạn đại diện cho những người còn ở đảo viết "... tụi con đã khóc suốt đêm, sự mất mát quá lớn... Thầy đã làm lễ cầu siêu để tụi con được ngồi bên nhau nguyện cầu cho em. Những đau buồn thường nhật ở đây dường như mất hẳn...". Có lẽ vậy, một cơn bão biển bao giờ cũng làm người ta quên đi những đợt sóng cao hàng ngày. Hay là những người bạn em tôi hiểu được rằng, cái thế giới đầy những thử thách, khổ đau này cũng thật quí giá và đáng sống hơn tất cầ Và họ còn được may mắn hưởng sự sống quí gía đó.
Đêm đêm đi làm về, tôi vẫn thường thấy mẹ tôi đứng bên cửa sổ. Không hẳn mẹ tôi trông đứa nào. Ðó chỉ là thói quen từ những ngày em tôi còn sống. Tôi biết đó đã là những giây phút hạnh phúc ngắn ngủi và cũng thật nhỏ nhoi mỗi đêm của mẹ tôi trước đây, khi thấy đứa em gái về dừng xe, mở cửa bước ra. Ðó là lúc bình yên nhất của bà mỗi ngày. Với sự lo sợ vẩn vơ cố hữu của người già, cuộc sống ở Mỹ này đầy rẫy những rủi ro bất trắc. Em gái tôi phận gái, lại mới biết lái xe, bà lo sợ đêm hôm tăm tối. Tôi bảo mẹ: "Má à! Một trăm người đến Mỹ này cũng phải như vậy." Mẹ tôi ừ, nhưng đôi mắt vẫn ngó ra cửa sổ. Bà giật thét người khi nghe chuông điện thoại những đêm em tôi về trể hơn thường lệ. Có lẽ những năm xa cách làm mẹ tôi thương đứa con gái sớm vất vả hơn. Hay đó chỉ là linh tính của những bà mẹ về một tình mẫu tử ngắn ngủi?
Mẹ tôi ít học. Những người ít học thì nhiều lo sợ vẩn vơ. Mẹ tôi cũng vậy. Chữ nghĩa của bà chỉ vừa đủ đọc những lá thư hay những bài báo bình dân thường nhật. Những lá thư bà viết gởi con cái ở xa đầy những lỗi chính tả, đôi lúc xen lẫn những lỗi do cách phát âm địa phương của bấ Nhưng như nhiều bà mẹ khác, ít học và nhiều lo sợ, lại nuôi nấng, dạy dỗ những đứa con họ thành những thằng con trai ngang tàng mà cả nhân cách và tri thức không đến nỗi phải bỡ ngỡ trước mặt người lạ. Ðó là mẹ tôi. Sự dự phần của lũ tôi trong xã hội ít nhiều cũng đã không đến nỗi mẹ tôi phải phàn nàn. Nhưng bà đã dạy chúng tôi nhiều điều để làm người, chứ những điều chúng tôi học được ngoài đời lại chẳng hề mang lại cho bà sự bình yên trong tâm hồn. Bởi chúng tôi càng bươn chãi, bà càng lo lắng cho chúng tôi bấy nhiêu. Cái lo lắng của một bà mẹ mà cả cuộc đời chỉ dành cho những đứa con. Mà lũ tôi thì còn nhỏ nhoi gì cho cam. Ít ra cũng đã qua rồi cái lúc ngông nghênh, bồng bột trước đây, coi trời bằng vung. Cứ sơn loang lỗ cái vách rào lại vội vã ngắm nghía, cứ như rằng mình vừa hoàn tất một kiệt phẩm đâu đó trong thế giới lập thể của Picasso. Tụi tôi đã chín chắn nhiều. Nhưng đối với những bà mẹ, thì những đứa con dẫu bao nhiêu tuổi hay làm gì trong xã hội đi nữa, vẫn luôn còn nhỏ nhoi và cần được yêu thương. Tôi cũng tin điều này.
Có lần, bạn mẹ tôi ở Việt nam gởi thư sang thăm, bảo rằng mẹ tôi đang được sống cuộc sống ở thiên đường (!?). Ý bà ví đất nước cờ hoa này như một thiên đường, mơ ước của bao người. Vâng, thiên đường thật. Bao nhiêu sắc dân đã nghĩ như vậy, cho đến khi họ đặt chân đến Mỹ, không riêng gì bà bạn mẹ tôi ở Việt nam. Nhưng bà chẳng hề biết được cái thiên đường này những cơ hội và sự rủi ro đều ngang bằng. Những hạnh phúc và cay đắng xen lẫn nhau. Những đồng tiền kiếm được cũng chứa đầy mồ hôi và những tiện nghi hàng ngày cũng pha trộn với sự lo âu, mệt mỏi khác... Nhưng hơn tất cả chính những vật chất và sự mệt mỏi thường ngày đã làm cho tình người và sự cảm thông trở thành những cổ vật quí giá hiếm hoi. Khá lâu tôi vẫn không quên được câu chia buồn của một người quen với sự mất mát của gia đình tôi: "Thật là xót xa... ít ra cũng tốn vài ngàn." Câu chia buồn rất thật. Ông chẳng nói điều gì sai trái cả, nhưng tôi hơi ngạc nhiên về những cái mới mẻ của thế giới chung quanh. Cái cảm xúc buồn vui yêu ghét thông thường đã dần dần bị một cảm xúc fashion hơn thay thế: Cam xúc tiền. Thứ cảm xúc, không phải vui, không phải buồn, không yêu thương hờn giận, mà chỉ là tiền. Ðó là sự tiến hóa chăng (!?). Nhưng với mẹ tôi ở cái thiên đường này, dường như bà chẳng cần tiền. Bà chưa hề tự tay tiêu một đồng tiền gì riêng tư, ngoại trừ những lần chợ búa lo cơm nước cho chúng tôi. Mà bà cũng chẳng làm gì có tiền khác ngoài những đồng tiền thỉnh thoảng lũ tôi vẫn hay đưa riêng bà để tự ý tiêu xài. Nhưng những đồng tiền này bà cũng chỉ dùng để cúng chùa những ngày rằm, lễ lộc hay khi 5 đồng, lúc 10 đồng giúp những người quen còn vất vả ở bên kia nhấ Bà không cần những cái người ta tìm kiếm ở cái thiên đường này. Ngoài những khu chợ bà phải đi hàng tuần, thiên đường náo nhiệt này đối với bà chỉ là những ngôi chùa và cái nghĩa trang có ngôi mộ em tôi.
Lũ tôi thương mẹ tôi nhiều lắm, chỉ biết sống một cuộc sống người già buồn tẻ ở thiên đường này với những phiền muộn về những mất mát hay ưu tư vì cuộc sống đầy thử thách của lũ tôi. Bà không nỡ ở lại quê nhà vì chúng tôi luôn cần mẹ để tiếp sức trên đường đi của mình. Tôi chẳng hình dung nổi mình sẽ sống như thế nào nếu thiếu mẹ. Mỗi năm ít nhất một lần vào rằm tháng bảy, tôi lại có dịp đọc lại Bông hồng cài áo của thầy Nhất Hạnh để thấy mình sung sướng, hạnh phúc còn mẹ. "Mẹ là món quà lớn nhất mà cuộc đời tặng cho ta." Ðúng quá đi thôi. Tôi ước gì có thể àm được gì đễ những ngày còn lại của mẹ thật thanh thản, hạnh phúc. Tôi ước gì tôi không phải thỉnh thoảng chở mẹ tôi thăm mộ đứa em gái để thấy bà ngồi lặng im lau mãi tấm bia chẳng hề vương chút bụi bặm nào. Cái thiên đường của mẹ buồn quâ Gió vẫn thổi rì rào, đẩy đưa những ngọn cỏ trong cái nghĩa trang này. Hình như mùa mưa lại sắp về.
Ðinh Yên Thảo