vhnt, số 299
22 May 1997
Trong số này:
thư vhnt..................................................................PCL
T h ơ:
1 - Thư xa, mùa vọng tiếng mưa.........................Ðinh Yên Thảo
2 - Cuối ngày........................................................Chinh
3 - Cảm từ......................................................Hàn Trân
4 - Ru tình.......................................................Thu-Hồng
5 - Hồn thu.............................................Ðặng Khánh Vân
6 - Tình đầu trót lỡ (10).........................Nguyễn Quốc Vinh
7 - Hạ xưa cho em..................................................Trúc Lê
8 - Khi mặt trời chưa hé...............................Phạm Văn Tiên
9 - Lời cho em....................................................Song Vinh
D i ễ n Ð à n V ă n H ọ c:
10 - Nhìn Lại 40 Năm Văn Học Chiến Tranh:
Chiến-Tranh & Văn-Học Việt-Nam Hải Ngoại sau 1975 (phần 2)
........................................................Nguyễn Vy-Khanh
11 - Haiku và thơ con cóc...............................Phạm Thế Ðịnh
T r u y ện N g ắn / S án g T ác:
12 - Tiếng động...........................................Phạm Chi Lan
Mến chúc bạn đọc một ngày thoải mái, và một cuối tuần nhiều niềm vui.
thân ái,
PCL/vhnt
THƯ XA, MÙA VỌNG TIẾNG MƯA
Mùa này mưa lắm không em,
Có làm sáng trắng những đêm giông bời?
Cầu vồng bảy sắc chân trời,
Có còn bắt nhịp để mời mây sang?
Ráng chiều, sắc đỏ sắc vàng,
Còn soi bóng đổ của nàng Vọng phu?
Mưa choàng am quạnh cụ từ,
Có nhòa tiếng mõ, cửa hư vô thiền?
Xa quê ngẫm mấy mùa quên,
Nghe mưa lại nhớ về bên kia nhà.
Không gian sâu thẳm ngày xa
Ngờ đâu bên ấy mưa qua bên này.
Sông Ngân nỗi nhớ vẫn đầy,
Nhịp cầu Ô thước thêm dày tình ta.
Thư xa anh gởi thăm nhà,
Hoá cơn mưa nhớ, ướt tà áo em.
Ðinh Yên Thảo
Cuối Ngày
Một ngày
rơi
xuống
vực sâu,
Nến soi không đủ
mặt nhau
mất rồi
Anh còn mơ đuổi chiêm bao
Em con diều nhỏ
bay cao
một chiều
Trên kia phố xá đìu hiu
Theo nhau bước xuống
ngày xiêu dáng,
sầu.
Chinh
20/3/97
Cảm từ
Người chúc cho tôi cuộc vui đời
Xin tạ ơn người những chơi vơi
Cứ ngồi đọc mãi lời thư ấy
Lẫn lộn vui buồn lẫn lộn tôi
Chỉ là vài chữ dòng mộc mạc
Sao mà ưu ái quá đi thôi
Hay rằng người cũng mơ rồi đấy
Như mộng tôi bay mấy phương trời
Dường như câu này đầy ý niệm
Nhưng có thể là một câu suông
Dường như chữ đó nhiều đo đắn
Nhưng có thể là chẳng tơ vương
Thôi thì hãy đọc lại lần nữa
Lại thấy vui lên , lại thấy buồn
Nhắm mắt cho hồn tôi im lắng
Lời nhảy theo lời nhẹ mây tuôn
Tới lui chỉ thế chừng đó chữ
Tôi đọc hồn tôi mấy xôn xao
Ra vào bao nẽo đường tơ nhện
Ðể trói tình tôi tự lúc nào
Dù nghĩa đong đầy hay nghĩa vơi
Niềm mơ nỗi nhớ lạc mất rồi
Tạ ơn từ khối hồn chân thật
Vài dấu chấm ngang một cuộc đời
Hàn Trân
Ru Tình
Anh xa Cha vào Nam
Từ khi còn tấm bé
Anh xa nhà vào Nam
Nên rời hương tình Mẹ
Tuổi thơ đêm từng đêm
Anh mơ giấc ngủ mềm
Ôm chăn mà ngỡ Mẹ
Chợt giấc rồi... nhớ thêm...
À ơi... lời ca dao...
Chưa nghe được lần nào
Ðêm khuya lời ru vọng
Mà sao gió đưa mau
Gió đưa linh hồn Mẹ
Xa mất cả đời anh
Gió đưa lời ru Mẹ
Vút vào giữa trời thanh
Nhớ xưa anh miệt mài
Bên sách vở vì ai?
Anh lo khi sợ Mẹ
Dòng châu phải tuôn dài
Ngày nay anh nên người
Thì Mẹ có còn đâu
Vui buồn ai nào biết
Khi tang phủ một màu
Gió thay lời Mẹ ru
À ơi...
Giấc ngủ vùi....
Thu-Hồng
5/12/97 - Thay lời cảm ơn Chân Mây
Hồn Thu
Nằm thinh lặng bên lề đường sỏi đá
Cát bụi trần lay nhè nhẹ xác thân
Lắng tai nghe tiếng xào xạc xa gần
Khẽ vang vọng giữa chiều buông gió lộng
Lác đác rơi mảnh thu tình ươm mộng
Mộng ngoan hiền ấp ủ nỗi niềm riêng
Thoáng bâng khuâng lay động giấc ưu phiền
Quyện theo gió cho tràn lan vạn lý
Mênh mông quá hình như đời lạc ý
Mộng vẽ vời nên ký ức rong chơi
Bước lê thê rời rã bóng cuộc đời
Quay nhìn lại chỉ xa vời thực tại
Bởi như thế hồn thu chiều tê dại
Nằm bên lề đếm ngày tháng rụng rơi
Với đôi tay đếm những mảnh tình đời
Ðếm thật kỹ sợ ngày sau hư ảo
Đặng Khánh Vân
Tình đầu trót lỡ (10)
Tình thu tích tịch tình tang
Thu thì thầm tha thiết
Tê tái tình tóc tơ
Trằn trọc trong trắc trở
Trời thu trôi theo tình thu....
Tình thu tích tịch tình tang....
Tang tính tình tò te tí te....
Nguyễn Quốc Vinh
Hạ Xưa Cho Em
tặng NCD
Chiều tựa cửa ngẩn ngơ
Chút buồn vương vương má
Có gì vui trong lá
Ai biết những dòng thơ
Mùa Hè thoáng cơn mơ
Năm tháng trôi không ngờ
Bé ơi, em còn nhớ
"mà nhớ những gì cơ?"
Học trò, trang giấy trắng
Tình mực tím nghiêng nghiêng
Ðọng giọt sầu xa vắng
Trên cuộc tình trinh nguyên
Cuộc sống là ước mơ
Bao điều em trăn trở
Phải đâu anh vô cớ
Bài thơ đầu trao em
TrucLe
Khi Mặt Trời Chưa Hé
Tiếng xe đổ rác
Gìn gìn
Xè
Lạch cạch
Phá tan sự yên tĩnh của màn đêm
Tu hú kêu sương
Lanh lảnh tiếng chim chích
Choè choè
Hát lên khúc bình minh
Xích a thằng xích a thằng
Cha trời mẹ đất giao hoan
Vầng đông ló dạng
Ðó là một buổi sáng
Ngày thứ Tư
Phạm Văn Tiên
Lời Cho Em
Anh nhớ em hằng đêm
Trăng soi bóng bên thềm
Hồn anh dâng tất cả
Về vùng đất thân quen
Anh nhớ em hằng đêm
Trời đổ tuyết êm đềm
Trên mái nhà anh trọ
Ru hồn đến bên em
Anh nhớ em hằng đêm
Người em đẹp, ngoan, hiền
Nụ cười khinh khỉnh đó
Trông vừa ghét, vừa yêu
Anh nhớ em hằng đêm
Niềm nhớ quá yếu mềm
Nhớ, quên, quên lại nhớ
Quên, nhớ, nhớ lại quên
Anh nhớ em hằng đêm
Chiều cư xá đông người
Tay trong tay dạo bước
Bao cặp mắt... nhìn theo
Anh nhớ em hằng đêm
Bờ biển vắng hôm nào
Sao rơi đưa lối mộng
Hai đứa một trời mơ
Anh nhớ em hằng đêm
Ðời xa xứ nỗi niềm
Mình yêu nhau dạo đó
Em còn nhớ không, em
Anh nhớ em hằng đêm
Từ giấc ngủ ưu phiền
Ðưa anh về bến mộng
Ôi kỷ niệm, khó quên
Song Vinh
Nhìn Lại 40 Năm Văn Học Chiến Tranh Văn Học Chiến Tranh Sau 1975
tiếp theo kỳ 2:
GIAI-ÐOẠN 1987-1997:
Sau 1987, chính trị thế giới và Việt Nam thay đổi đã ảnh hưởng đến giới văn học trong cũng như ngoài nước. Chủ nghĩa thần thánh và đỉnh cao trí tuệ đã bắt đầu suy yếu rồi biến dạng ỡ nhiều thành trì. Những lý tưởng mơ hồ, vô vọng đã đến lúc phải nhường chổ cho cái sống thực và hợp nhu cầu ý nguyện của người hôm nay. Văn chương vẫn lưu đày, hoài niệm nhưng tự do hơn. Ở ngoài nước xu ất hiện những nhà văn thơ trẻ, mới như Trần Vũ, Trân Sa, Nguyễn Thị Hoàng Bắc, Lê Bi, Nguyễn Hoàng Nam, Bùi Thanh Liêm, Ðỗ Kh., Phan Thị Trọng Tuyến, Phạm Chi Lan, Phùng Nguyễn, vv. Họ có vẻ ít bị dĩ vãng đè nặng trong suy nghĩ; chiến tranh cũng bắt đầu xa, loảng. Cùng thời gian, ở trong nước cũng có một thế hệ nhà văn mới ít mặc cảm và muốn dấn bước về phía trước như Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoà i, Bảo Ninh, Dương Thu Hương, Nguyễn Khắc Trường, Phan Thị Vàng Anh, v.v...
Trần Vũ qua hai tập truyện Ngôi Nhà Sau Lưng Văn Miếu (1990) và Cái Chết Sau Quá Khứ (1992): chiến tranh hay chiến thắng đều là gia tài đau khổ, do đó Trần Vũ huyền ảo hóa chiến tranh, người lính và người dân; anh nhìn ra sự thật (của anh) trong hư ảo, giả hóa. Chiến thắng trở thành bạo động, tàn ác. Trần Vũ hoài nghi lịch sử như đã xảy ra, trước mắt hoặc như đã được viết, hoài nghi nhiều sự thực, lẫn ảo với thực, chiến thắng với hòa bình. Cái hiện tại như không thực, TV như muốn đi lùi lại quá khứ nhận diện con người và lịch sử, dùng nhân vật lịch sử, giả sử hóa để nói đến chiến tra nh. Bước ra khỏi chiến tranh, Trần Vũ mất niềm tin, trở thành một loại xa lạ, lãnh cảm với đồng loại. Nhưng đâu đó trong đáy sâu tâm linh, anh tìm cái đẹp, cái sống động và hình như cả một lý tưởng nào đó!
Ðỗ Kh. tác giả các tập truyện Cây Gậy Làm Mưa (1989) và Không Khí Thời Chưa Chiến (1994): một không khí ngao du tự do với hiện tại, như hòn đá, như cảnh vật trơ ra đó; không giành hơn thua. Ngao du trong c uộc đời, không quốc tịch, gốc gác, vui chơi trên giường, trong khách sạn, sống cho bản năng. Thắng thua, sở hữu là trong trí tưởng và dục vọng. Anh làm thơ, thơ thật... mới. Anh ra đi từ miền Bắc nên c ó lúc có thể đã nhàm với lá cờ:
Ở Việt Nam tôi cũng có một cái kéo
Ðến một ngày thể nào
Cái ngôi sao màu vàng vướng mắt
Tôi cũng sẽ xén phăng đi mất
Lúc đó hai tay tôi sẽ phất
Lá cờ
Chỉ còn lại một màu
(Tôi Có Một Cái Kéo)
Nhưng đối với một số người sáng tác trẻ, chiến tranh vẫn còn đó như một kỷ niệm về người thân, như Trần Thái Vân trong tập thơ Chiếc Bóng mới xuất bản (1997):
"Anh đi từ độ đông năm ấy
Túi nặng, thân gầy, áo bạc vai
Cha đứng nhìn theo đưa tay vẫy
Quan san tiễn biệt vạn dặm dài
(...) Anh đã hai lần xa gia quyến
Xuân thì chưa quá tuổi đôi mươi
Mộ mẹ bên kia bờ vĩ tuyến
Khói hương lạnh lẽo vắng chân đồi
Cha khóc âm thầm tim tê tái
Nửa đêm vọng mắt ngóng chờ con
Bụi chuối bên nhà đau kết trái
Cha đau trong chờ đợi mỏi mòn
(...) Cha chờ cho đến ngày cỡi hạc
Suối vàng, thác bạc rụng thời gian
Một mảnh trăng xưa buồn đến nhạt
Mắt lão còn đâu ngóng mây ngàn
Anh chết vô danh không bia mộ
Không anh hùng, đại nghĩa xa xôi
Anh chết một người trai vô tội
Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi?
(Vô Danh)
Bộ phận hồi ký cải tạo được tiếp tục với những cựu tù mới qua theo các diện HO và ODP đoàn tụ gia đình. Các hồi ký xuất bản sau này có thêm lợi ít nhất hai điểm: có thể viết rõ hơn về người m à không sợ nguy cho họ và hận thù cũng lắng xuống để có những cái nhìn con người và thật lòng hơn. Khác với hồi ký những kẻ chạy trước kể công lao, hồi ký cải tạo viết đến như vết sẹo coi như lành nhưng vẫn đau mỗi khi đụng tới.
Dương Tử xuất bản bộ trường ngâm Con Ðường Cải Tạo (1990), một hồi ký cô đọng trong thơ, văn chương đặc sắc về cái con đường đoạn trường đó: đói và lao động khổ sai, chết đau đớn, những bất lực của người đồng cảnh ngộ. Thân phận tù không án:
Ðược chính thức gọi tù
Không cần chi úp mở
Ðược học làm tiều phu
Ngày hai buổi lên rừng đốn gỗ
Ðược ăn độn sắn ngô
Bảy lạng chia ba bữa...
(...) Loài chim ra rả năm canh
"bắt cô trói cột" chuyền cành đau thương
Nghe ra ai oán chán chường
Nghe ra như tiếng oan hồn thở than
Và nghe như thể thanh âm
"khó khăn khắc phục" ôi thân phận tù...
(Bước Ðường Thứ Ba)
Cảnh Việt cộng dằn mặt những người muốn trốn trại:
Nghe hai mảnh oan hồn
Vật vờ vùng suối máu
Kể lể phiên tòa độc đáo vô song
Không một lời biện hộ
Không nửa tiếng minh oan
Huyệt đào chiều hôm trước
Sáng hôm sau tòa mới đăng đường
Án tòa tuyên án vừa xong
Bỗng dưng trời nỗi cơn giông ào ào
Trời dường như cũng nghẹn ngào
Mưa rơi chẳng được gió gào thảm thương
Miệng đầy giẻ, đến pháp trường
Món ăn ân huệ phủ phàng hỡi ơi!"
Và cảnh thiên đàng cộng sản:
Ôi quê hương tôi!
Bốn nghìn năm lịch sử
Bốn ngàn năm tiếng kẻng vào đời...
(...) Khi tiếng kẻng ma quái
Từ Pắc Pó châm ngòi
Lửa hận thù rừng rực
Tóc tang máu lệ khắp nơi nơi
Kể từ đó,
Tiếng kiểng đổ dài
Trên quê hương đau khổ
Bốn mươi năm vẫn chửa dứt hồi
Bây giờ mỗi lúc chiều rơi
Tai nghe chát chúa một hồi "kẻng cum"
Cai tù chìa khóa một chùm...
(Bước Ðường Thứ Tư)
Nguyễn Chí Thiệp xuất bản Trại Kiên Giam (1992) có cái nhìn sắc bén và nhạy cảm về những hậu quả của chiến tranh: người bị cải tạo, kẻ theo cộng nay trở về thất vọng như cô Bích em họ tác giả, chấp nhận ở lại như để đền tội đã theo "đảng đã làm cho đất nước rách nát tàn hại như ngày nay". 12 năm tù với nhiều đối kháng:
Cách duy nhất mà người tù phải làm là chịu đựng. Lần đầu, tôi vừa bị đánh vừa bị chửi nào ngoan cố, xách động. Tôi cố gắng chịu những cái thoi, cái đánh cái tát vào người cố không để trún g mặt và ngực. Lúc đó mới thấy rõ được cái hèn hạ của những cán bộ cộng sản. Những người tuổi trẻ nhưng trong lòng đầy thù hận, sự thù hận mà Ðảng và Bác của họ dạy cho họ, hận thù những ngu +ời họ không quen biết, vỉ thù hận giai cấp. (...) Những người thanh niên sung sướng hả hê khi đánh đập một người bị còng hai chân không còn khả năng và quyền tự vệ" (tr. 357-358).
Nhận xét về những kẻ bị cộng sản đày ải:
những con người luôn luôn muốn tìm cho tổ quốc một con đường tiến tới và sẵn sàng dấn thân, nhưng mỗi lần dấn thân là học được nàngi học đau thương mà vết tích hằn rõ trong cả linh hồn và thể xác. (...) Cộng sản là một nàngi học chua cay, mà khi học xong rồi thì kinh nghiệm không bao giờ có cơ hội áp dụng... (tr 640)
Nhã Ca với Hoa Phượng Ðừng Ðỏ Nữa (1989) tác phẩm đầu khi ra khỏi nước. Cũng như Sài Gòn Cười Một Mình, Chớp Mắt Một Thời sau đó là những hoài niệm về một miền Nam trước Tháng Tư Ðen và chân dung xã hội mới với nhiều ấm ức khôn nguôi và cảnh đời ngang trái. Hồi Ký Một Người Mất Ngày Tháng của nàng là những trang văn chương về một quãng đời kinh hoàng đầy bất hạnh. Nạn nhân là mọi người nhưng được thu gọn lại trong thế giới gia đình và bạn bè thân hữu văn chương. Những cái chết bi đát, những cuộc sống vô định và những tình người chân thành, cả khì ở đáy ngục tối hoặc không còn gì!
Thế Uyên với Nghĩ Trong Mùa Xuân, Con Ðường Qua Mùa Ðông, Sài gòn Sau 12 Năm,.. là những bút ký về những năm cải tạo, về quãng đời khó khăn ở Việt Nam, về những con người và cuộc đời đổi thay. Tuyển Tập Truyện Ngắn Thế Uyên, Khu Vườn Mùa Mưa viết về cuộc sống mới ở Mỹ, về những thành tâm không màu mè với người hải ngoại của một người mà cuộc đời nghèo và lý tưởng đeo đuổi; nhữn g ý nghĩ thành tâm có khi gây khó khăn cho chính ông, bị cả một chiến dịch báo chợ và một vài tờ báo như Làng Văn chiếu cố, trái với một số người trẻ ở Ðông Âu.
Hoàng Liên với Ánh Sáng và Bóng Tối (1990): hồi ký của 14 năm tù của một đại biểu chính phủ bị Việt cộng bắt vào dịp tổng tấn công Tết Mậu Thân. Cuộc sống trong tù với những đối đầu kẻ thù thường xuyên khiến tác giả có nhiều suy nghĩ về chính trị và thân phận con ngưới mỏng manh.
Nhà báo đại tá Bùi Tín, cựu đảng viên cộng sản, khi ra khỏi nước đã lần lượt vạch trần những tội lỗi, sai lầm của chế độ cộng sản trong Hoa Xuyên Tuyết (198 ) và Mặt Thật (1993). Một người khác, Trần Nhu, cũng ra đi từ miền Bắc, trong Ðịa Ngục Sình Lầy (1990), đã ghi lại những kinh nghiệm sống trong một chế độ không có chỗ đứng cho con người. Nguyễn Anh Tuấn trong Cái Chum Vỡ (1996) ghi lại "cuộc đời thanh xuân đã cống hiến cho cách mạng" nhưng bị dùi vập đến phải bỏ nước ra đi tị nạn. Người hùng Lý Tống có tập Ó Ðen kể lại cuộc vượt thoát đầy gian khổ và khí khái của ông. Thép Ðen cu?a Ðặng Chí Bình là chuỗi ngày kiên trì chống chủ nghĩa cộng sản.
Tạ Chí Ðại Trường lúc còn trong nước đã gừi ra xuất bản Một Khoảnh Việt Nam Cộng Hòa Nối Dài (1993, viết 1982) suy nghiệm về thân phận nhục nhằn của những người trí thức thua trận, những người tù cải tạo bị đày đọa. Kẻ thắng hành hạ họ, đời sống khốn cùng của cả xã hội đày đọa gia đình vợ con họ, và cả bản năng con vật biết suy nghĩ là họ cũng có lúc đẫy họ xuống cái thầm thường, nhỏ hèn. Cũng có những bất thường của người canh tù, những cảnh anh hùng của người bó thân. Cái kiếp sống khó hèn đó vẫn tiếp tục khi người tù học tập được thả.
Phạm Bá Hoa với Ðôi Dòng Ghi Nhớ (1994) hồi ký của một đại tá VNCH từng làm việc dưới quyền nhiều tướng lãnh và lãnh đạo. Trong toàn bộ là một chân thành ghi nhận nhưng cũng là một gay gắt buộc tội. Ðặc biệt tác giả ghị nhận nhiều dữ kiện về một số biến cố, sự việc cũng như cho thấy nhân cách những con người lãnh đạo. Một loại hồi ký hiếm hoi, khác hẳn những Ðỗ Mậu, Lý Tòng Bá, Tr ần Ngọc Nhuận, Nguyễn Trân, Trần Văn Ðôn. Huỳnh Văn Cao, Nguyễn Chánh Thi, vv. phía bên này cũng như những hồi ký của Mai Văn Bộ, Lưu Hữu Phước, Trần Văn Trà, Văn Tiến Dũng, v.v... phía bên kia.
Các phía nhà văn nghệ, họ tiếp tục khai thác chủ đề chiến tranh, khi trực tiếp khi gián tiếp vì thật ra trong mọi đề tài tình yêu, tình quê hương, sự hội nhập, những đổ nát, dở dang, v.v... đều có chiến tranh nếu không là cái khung cảnh thì cũng là nguyên do, hậu quả.
Trần Long Hồ là tác giả các tập truyện Kẻ Ðào Mồ (1993), Niềm Vui Ung Thư (1992) và bộ trường thiên Dung Thân với Cõi Sa Mù viết về đời sống của những người bác sĩ miền Nam sau khi Việt cộng chiếm. Cuốn 2 là Cửa Ðịa Ngục. Cuốn 3 là Bóng Thiên Ðường. Toàn bộ là chuyện dài xã hội Việt Nam thời chiến, thời hậu chiến, những con người lạc lõng ngay trên chính quê hương mình, những tan nát, không tì nh người, mất niềm tin, những bệnh tật, những cái chết, v.v... Truyện Vết Sẹo viết về cái vết thẹo của Ba Thung, một bộ đội phục viên ngành y sĩ đang chuyên tu, vết sẹo chỉ đau ban đêm, cái đau làm đản g viên phải nghe lời đảng. Người thương binh trong sự thiếu thốn đã tìm được tình người ở người y sĩ.
Nguyên Sa với trường thiên tiểu thuyết Giấc Mơ (đã ra 3 tập, 1991) là lịch sử thi vị có, thâm u có, của nhiều con người, những liên hệ và số mạng từ những thập niên 20 ở Pháp đến thời chiến tranh Nam Bắc. Một cái nhìn muốn toàn diện về cuộc chiến vừa qua. Những hăng say xây dựng đất nước, những tập kết nằm vùng, những thái độ trí thức, những đốn mạt và thất vọng. Một mảnh đời nhỏ của Hoạch trí thức du học Pháp được họ Hồ viết thư tay mời về giúp nước vì "nhân dân chờ đợi chú", về Nam xong tập kết ra Bắc rồi lại vào Nam ở mật khu Mỏ Vẹt: phải tin tưởng ở Ðảng cộng sản kể cả tin không là có. Lời của chính ủy Phong nói với Hoạch về một trò dàn cảnh quay phim:
Những đối tượng mà anh quay tin tưởng là có phim. Tất cả cán bộ và bộ đội nơi đây tin tưởng là có phim. Có một mình anh nghĩ là không có phim. Tư tưởng của anh khác với tư tưởng của nhân dân, của cán bộ, của bộ đội. Bộ anh tưởng tư tưởng của anh là hơn tư tưởng của toàn thể nhân dân hay sao? Anh không phải là đảng viên, các đồng chí có đảng viên nhiều người đảng tịch cả hai ba chục năm d dều nghĩ là anh quay có phim. Anh cũng phải nghĩ như người ta. Chứ bộ anh chủ trương rằng tư tưởng của anh hơn tư tưởng của đảng hay sao?
Cách quay phim Ðảng cũng có kỹ thuật, tiểu xảo:
Quay hình Bác mà đèn đuốc tối thui, chiếu vào có một phần khuôn mặt Bác như thế này là sai lầm nặng nề. Phải thắp hết bốn ngọn đèn lên, mở hết ra, chiếu thẳng vào trán, vào mắt, vầng trán Bá c mênh mông trời biển, đôi mắt Bác sáng như sao soi đường đi cho chúng ta mà, sáng, sáng, toàn diện khuôn mặt phải sáng, sáng nhất, sáng chưng là đôi mắt, là vừng trán...
Những trái tai gai mắt đó khiến Hoạch xé thư họ Hồ, nghĩ "những khăn quàng đỏ, những huy chương ngôi sao vàng, những báo công, những thư tay, rút lại là những tù ngục giam giữ hồn người, làm cho mình khô ng còn là mình, bản ngã bị nhốt kín trong một cái tôi giả tưởng... Phải dứt ra, phải xé bỏ,..." Nhưng đã trể. Trong một cuộc đột kích, Hoạch, người cầm máy quay phim bị trúng mìn chết, nhưng chiếc máy quay thì an toàn. Nghi ngờ và đau đớn đang chờ đợi Liên Hạ, người vợ mới cưới của Hoạch pha?i tìm về thành. Giác mơ lý tưởng sẽ trở thành giấc mơ của quỷ sau thời Ðổi mới. Ðảng viên trung kiên sẽ thành chuyên viên buôn quần lót đủ kiểu và sách dâm thư cũng như huấn luyện viên cho đội quân điếm chuyên "lậy bác, lậy bác"!
Nguyễn Ý Thuần viết nhiều về chiến tranh qua những cảnh sống, qua những kỷ niệm ôn lại, qua những hội nhập đời sống mới. Tối Tháng Năm Tại Quán Ăn Ðường Fifth (1989):
Tại sao mày hay nhằc đến chuyện lính? Người không râu đột ngột hỏi. Người có râu nhún vai: -Không kể sao được? Tao sống chết với thời gian đó. Phần đời này gắn lấy tao. Bây giờ và cả cuối đời (...) "Hôm nay là mười ba năm từ ngày tao gặp cái xác... "... Cái xác không đầu lúc nằm bên bờ ruộng chỉ biết mình là cái xác. Tự cái xác đã là sự bi thảm nhưng chính nó không rõ. Phơi lộ cái bi thảm mà nó chẳng ngờ. Từ đâu đến? Sẽ về đâu? Cuộc chiến này là thế. Chỉ lộ rõ thực thể bi thảm, còn căn nguyên và mục đích thì ngay cả người trong cuộc cũng mù tịt...
Tao cũng là một cái xác cụt đầu của cuộc chiến, chỉ còn vỏn vẹn cái quần đùi đỏ trên thân thể. Không thể nhận biết của ai, từ đâu đến và sẽ về nơi nào. Một cái xác bi thảm hơn tụi mày là c hẳng còn nguồn gốc..."
Chiến tranh tiếp nối trong Người Lính Còn Lại (1991) và Ở Chốn Không Quen (1994).
Các tác phẩm viết về chiến tranh khác của giai đoạn này có Lối Vào (1990) của Ðỗ Tiến Ðức, Tan Rã (1992) của Cao Xuân Lý, Câu Chuyện Của Một Dân Tộc (1992) của Nguyễn Hồng Hòa. Sau Cuộc Ðổi Ðời của Dương Tiến Ðịnh, Sóng Trôi (1996) của Ngự Thuyết. Trần Quán Niệm với Nụ Non Trên Nhành Khô (1995). Nguyễn Dũng Tiến có Lính Ðánh Thuê (1993), Nguyễn Mạnh An Dân có Người Lính Không Có Vũ Khí (1996?), Trần T hy Vân có Anh Hùng Bạt Mạng (1996). Hoàng Chính có Nửa Ðêm Nghe Mẹ Thở Dài (1991), Mùa Thu Cuối Cùng (1994). Trần Doãn Nho viết Vết Xước Ðầu Ðời (1995), Trần Sỹ Lâm có Chỉ Là Hư Không (1996), Nỗi Buồn Sau L ưng (1992), Bùi Xuân Vũ viết Tôi Chọn Chiến Tranh (1987), Phạm Kim Khôi có Khói Súng (1991), Nguyên Vũ khẳng định Trận Chiến Chưa Tàn, Dương Tiến Ðình với Sau Cuộc Ðổi Ðời (1996), Diệu Tần với Kéo Da Non ( 1995), vv. Có nhiều tác phẩm châm biếm, hài hước khi viết về xã hội Việt Nam sau 1975, đặc biệt có Tôn Kàn với Quan Hai Lang Tây Lính Thủy Ðánh Bộ (1994).
Chiến tranh còn có một bộ mặt khác với những người thuyền nhân tị nạn. Nhiều tác phẩm rất thành công nói lên cái tàn nhẫn đó của chiến tranh: Lê Ðại Lãng với Nước Mắt Trong Tim (1990), Mai Kim Ngọc v ới Thuyền Nhân (1990), Võ Kỳ Ðiền với Pulau Bidong, Miền Ðất Lạ (1992), Trang Châu với Về Biển Ðông (1995)... - người viết dù đứng ở vị trí nào (đi cứu trợ hoặc thuyền nhân) thì thuyền nhân và tị nạn đã là thảm kịch lớn của dân tộc như Hà Huyền Chi đã ghi lại:
Vẫn còn đó nụ cười điên hải tặc
Những mũi dao đâm lút thịt da tươi
Những thô bạo ê chề thể xác
Bao hồn trinh thảm thiết khóc thương đời...
(Vẫn Còn Ðó)
Và Mai Thảo khi rời quê, giữa hiểm nguy và vô định của biển cả:
Hai ngọn sóng ngược chiều về mỗi ngã
Ngọn quá khứ mịt mùng không thấy nữa
Ngọn tương lai đang trắng xóa theo tầu
Hai tâm thể chia đôi giòng cách biệt
Ngọn đã nghìn thu ngọn mới bắt đầu?...
(Hỏi Mình Giữa Biển)
còn tiếp...
Nguyễn Vy-Khanh
Haiku và Thơ Con Cóc
Trong số báo Sống số 11, đề ngày 07 Tháng Năm vừa qua, tôi có đọc thấy bài viết của Ðỗ Minh Tuấn nàngn luận về đề tài "thơ con cóc" với Nguyễn Hưng Quốc, đề tài hấp dẫn và lập luận của hai phê bình gia văn học, một trong nước, một hải ngoại cũng lý thú lắm. Nhất là vì bàii đó có đề cập tới một bài thơ Haiku Nhật Bản nói về "con ếch", được dùng như một bài thơ tiêu biểu phản đề cho nàngi "con cóc" nên cầm lòng không đậu mà phải viết cho bạn đây.
Ðỗ Minh Tuấn đem bài thơ nói về "con ếch" Nhật Bản, để đối với bài thơ nói về "con cóc" của Việt Nam cũng là một ý kiến ngộ nghĩnh, và xét ra, khôn khéo trong chiến thuật: Bài thơ "con cóc" là một bài thơ không biết được sáng tác bởi ai (vô danh), được lưu truyền trong nhân gian, thể thơ không theo luật, vận gì cả, hoàn toàn tự do; từ xưa đến nay bị coi là dở, và còn được dùng để chỉ loại thơ dở. Trong khi bài thơ nói về "con ếch" là một bài thơ Haiku, của thi hào Nhật Bản là Basho đã sáng tác, rất nổi danh trên thế giới. So sánh như vậy là cố tình đem một mỹ nhân trong một bức tranh mộc bản của Nhật Bản đặt bên Thị Nở của Việt Nam.
Tuy vậy, mới thoáng trông, nàng "con cóc" có vẻ thiên về văn chương "bình dân" đơn giản, cục mịch, trong khi bài "con ếch" có vẻ thiên về văn chương "bác học", đẹp đẽ, cao siêu. Nhưng nếu suy đến cùng, thì lại va vào sự giới hạn của định nghĩa: ranh giới giữa "bình dân" và "bác học", hay nói một cách khác, một bài thơ bình dân cũng có thể được hiểu theo tính bác học, chẳng hạn như Nguyễn Hưng Quốc đã khai triển tính "tư tưởng" của bài thơ "con cóc".
Rồi ra, cuộc tranh luận về "vẻ đẹp" của bài thơ "con cóc" và bài thơ nói về "con ếch" dĩ nhiên còn tùy ở hai tay bút phê bình này, và người dự khán là độc giả bốn phương. Có thể cả hai bài thơ đều sẽ giựt giải hoa hậu "cóc-ếch" nhờ tài bình luận của hai cây bút trong văn đàn Việt Nam. Riêng tôi chỉ xin nhân dịp này, giới thiệu sơ về thể thơ Haiku Nhật Bản qua một số tài liệu của những người đã nghiên cứu về thể thơ này. Mong rằng như vậy sẽ giúp cho quý độc giả và bạn dễ tiêu cái vấn đề hóc búa này hơn.
Haiku là tiếng Nhật, nếu đọc đúng như tiếng Nhật thì cái tên này phải được đọc là "Hai Kư". Ðể tránh những hiểu lầm tai hại, nhiều người Việt đã đọc thẳng âm Hán Việt là "Hài Cú".
Thể thơ này bắt nguồn từ một thể thơ cổ của Nhật, vào khoảng thế kỷ thứ 6. Cho đến thế kỷ thứ 10 đến thế kỷ thứ 16, thể thơ cổ này được biết dưới dạng Haikai no Renga (Liên Ca Bài Hài: có nghĩa là những bài thơ nối tiếp nhau có thể ca hay hát được, bài hay hài đều có nghĩa là có vần điệu để có thể hát hay ngâm. Do đó có người Việt còn gọi thể thơ này là "Bài Kú", cú là câu). Những bài thơ thuộc thể "Liên Ca Bài Hài" này có bài dài, bài ngắn.
Bài dài được gọi là Chôka (trường ca), bài ngắn được gọi là Tanka (đoản ca).
Nếu ta ví một cách "sơ khởi" và thiếu suy luận nghiêm túc nhưng để dễ hiểu thì ở nước ta có một thể thơ cũng để hát hay ca được, đó là thể "hát nói", mà vào thế kỷ 19 rất thịnh hành ở Việt Nam, với các thi sỹ nổi tiếng là Dương Khuê, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Khuyến...
Sự ví von tạm thời chỉ có thể ngừng ở đó, nếu không liều lĩnh mà cho rằng những bài "Liên Ca Bài Hài" này cũng giống như những bài hát nói của Việt Nam, ở chỗ đều có một phần thơ ngâm mở đầu. Trong thơ hát nói, các cụ gọi là "Mưỡu Ðầu", làm theo thể lục bát. Trong thơ "Liên Ca Bài Hài", người Nhật gọi là Hokku (một lần nữa xin đọc là Hốc Kư, chứ không phải là Hốc Cu, âm Hán Việt là Phát Cú).
Phát Cú là những câu để bắt đầu. Trong phần "Phát Cú", người Nhật có đoạn thơ 5 dòng (hay câu), mà cấu trúc trên số âm tự mỗi dòng là 5-7-5-7-7. Haiku là thể thơ được làm ra từ phần "Phát Cú" với 3 dòng 5-7-5. Dòng đầu 5 âm tự, dòng thứ hai 7 âm tự, dòng thứ ba 5 âm tự.
Toàn bài thơ Haiku "cổ truyền" chỉ có 17 âm tự tất cả. Xin mở ngoặc ở đây là tiếng Nhật là một tiếng đa âm. Thí dụ "Việt Nam" đọc theo tiếng Việt gồm hai đơn âm: âm "Việt" và âm "Nam", nhưng người Nhật đọc ra là 5 âm: Bi Ết Tô Nam Mư. Nếu một câu thơ Haiku mà viết với hai chữ "Việt Nam", câu thơ này được viết với 5 âm tự, và như thế đã có thể là một dòng trong thể thơ Haiku Nhật Bản rồi.
Thơ Haiku được nổi danh vì chỉ với 17 âm tự mà tác giả đủ ghi lại được cảm xúc cao độ nhận thức ngay thực tại trước một sự kiện, trong một khoảng không gian và thời gian nhất định. Mặc dầu khi được sáng tác trong những ngôn ngữ khác (Việt, Anh, Pháp...), những bài thơ Haiku này không thể phát ra những âm như khi được ngâm bằng tiếng Nhật (thường tận cùng bằng những âm A, I, Ư, E, Ô), nhưng thể thơ cô đọng này vẫn được nhiều người ưa thích. Những thể thơ của các nước Á Ðông khác như lục-bát (Việt Nam), Thất Ngôn Bát Cú (Trung Hoa)... không có được tính phổ quát thế giới này.
Ðã viết là một bài thơ Haiku chỉ có 17 âm tự, gồm 3 dòng 5-7-5, chắc nay tôi phải nhấn mạnh rằng đó là thơ Haiku "căn bản, cổ truyền". Trên thực tế, cũng có bài thơ Haiku cổ truyền thoát ra khỏi lề luật, nhưng nói chung là sự phá lệ được coi là hiếm.
Thơ Haiku có vần hay không? Câu trả lời là nếu có chăng nữa, thì lối gieo vần trong thể thơ này không thành lề luật nhất định, chúng ta thử đọc bài thơ nói về "con ếch" của Bashò (Matsuo Basho: Tùng Vĩ Ba Tiêu, 1644-1694) bằng tiếng Nhật xem sao:
Furu ike ya
Kawazu tobi koma
Mizu no oto
Ðại khái đọc là
Phưrư ikê ya
Cagoadư tôbi kôma
Midư nô ôtô
Tạm Dịch (không theo thể hài cú):
Cái ao cũ An old pond
Một con ếch nhảy vào a frog jumps in
Âm thanh của nước Sound of water
(Matsuyama)
Vần ở đây gieo giữa 3 dòng, và chữ cuối của dòng đầu vần với chữ cuối của dòng thứ hai. Nhưng trong một bài Haiku của một thi hào khác là Buson (Vu Thôn, 1716 - 1784):
Hashi nakute
Hikuren to suru
Haru no mizu
Ðại khái đọc là:
Hasi nakưtê
Hikưren tô sưrư
Harư nô midư
Tạm dịch (không theo thể hài cú):
Vì không có cầu
Ánh mặt trời mãi chiếu
Nước mùa xuân
Vần ở đây lại chỉ nằm trong hai câu 2 và 3. Do đó có thể nói là cách gieo vần trong thể thơ Haiku là không nhất định, chỉ dựa vào thanh âm gợi cảm trong tiếng Nhật mà thôi.
Một bài thơ Haiku ngoài cấu trúc 3 dòng 17 âm tự, còn theo một vài lễ luật căn bản:
- Luật tinh tuyền: toàn bài thơ chỉ là một tâm trạng, không vay mượn, chắp vá những cảm xúc khác.
- Luật hiện tại: Khoảng khắc "hiện tại" đóng vai trò chủ thể trong thơ Haiku, có thể được ví như một tấm hình chụp một sự kiện trong khoảng khắc đó.
- Luật không gian, thời gian, sự kiện: xác định chỗ nào, khi nào, việc nào.
Những quy luật đó đã được những người dạy làm thơ Haiku bằng tiếng Anh tóm lại thành 4 điều:
1/ - 3 giòng ngắn (tôn trọng được 17 âm tự, 5-7-5 thì tốt, nếu không 15 âm tự thì vừa)
2/ - dùng 1 chữ nói về mùa (chẳng hạn hoa hướng dương chỉ mùa hạ, tuyết chỉ mùa Ðông, lá úa chỉ mùa Thu...)
3/ - dùng 1 chữ diễn tả sự cắt một hành động (chẳng hạn chữ stop)
4/ - không vần, không dùng ẩn ý (no rhyme or metaphor).
Bài thơ sau đây của một cậu bé học lớp 6 trường tiểu học Nicole Canford (Canada) đã được tạp chí Haiku Japan Air Lines 1991 đánh giá là xuất sắc (với phần tạm dịch không theo thể hài cú):
Like a fresh spring breeze
The children on bicycles
Ride along the street
Như gió xuân tươi mát
Những đứa trẻ trên những xe đạp
Chạy dọc theo con đường
Bài này hay vì theo đúng luật tinh tuyền: tâm trạng tươi trẻ từ đầu đến cuối bài; luật hiện tại: những đứa trẻ đang đạp xe; và luật không gian, thời gian, sự kiện: trên con đường, mùa xuân, những đứa trẻ đạp xe.
Ðể chấm dứt lá thư kỳ này, tôi xin chép lại một nhận định đã được một người nghiên cứu thơ Haiku là Rodrigo de Siquira nêu ra là: "More than inspiration, it needs meditation, effort and mainly perception to compose a real Haiku" (Ðể sáng tác một bài thơ Haiku đúng nghĩa, cần sự suy tưởng sâu xa, sự cố gắng và sự nhận thức chủ thể hơn là nguồn cảm hứng).
Ngoài ra, trong lúc viết lá thư này, tôi đã dùng mộ số dữ kiện của Vi An, tác giả cuốn "Phù Tang Tạp Lục" do "Làng Văn" xuất bản vào năm 1994, trong đó có bài "Ðôi nét đan thanh về hài cú" mà tôi xin giới thiệu với bạn, và quí độc giả để tìm đọc nếu muốn hiểu thêm về thể thơ trên. Còn với những điều cơ bản trình bày ở trên, tôi chỉ mong đóng góp cho cuộc bình luận về thơ nói về con ếch của Nhật, và thơ con cóc của Việt Nam trên diễn đàn văn học Việt Nam được thêm phần lý thú mà thôi.
Phạm Thế Ðịnh
Tiếng Ðộng
Mùa đông, lá cây ngoài vườn thay phiên nhau rời cành xếp từng lớp dầy trên mặt đất, những con sâu đo buồn rầu không còn đo mặt đất, rút mình trốn vào trong những cánh kén, hoa tường vi nở rụt rè, đồng cỏ khô và dã thảo ngoài đồng mang một mầu vàng úa héo hắt. Người đàn bà đưa con ra vườn để đếm những chiếc lá và nhặt từng chiếc xếp vào trong giỏ, mỗi chiếc lá là một ngày đã trôi qua. Không gian ảm đạm và ủ dột, những vầng mây trắng đã trôi đi, tan loãng trong buổi chiều một chút nắng còn sót lại như đang thở dài hấp hối. Người đàn bà ngồi ôm đứa bé trên một chiếc ghế trong góc vườn, bên cạnh hòn non bộ, vài con lia thia lặng lờ và những cánh rong im lặng. Ðứa bé nhìn mây, như chẳng nhìn gì, vì cô bé không trông thấy gì ngoài một bầu trời mông lung sao nhiều đến vô tận. Những vì sao đã bắt đầu xuất hiện. Người đàn bà vuốt ve ấp ủ bàn tay cô bé trong tay mình, nàng kể cho con nghe có một khoảng trời vừa mới đây còn xanh và im lặng, khoảng trời chứa đựng rất nhiều điều mà mẹ con nàng chưa thể khám phá, khoảng trời ấy bây giờ đang chìm dần vào mầu xám và lặn xuống cuối chân trời. Người đàn bà nói tiếng nói không có âm thanh. Ðứa bé chưa nghe qua một thứ tiếng động nào trong đời nó.
Sáng nay, nàng nhận được bức thư của chồng, ba năm sau ngày người ấy bỏ đi bảo rằng không còn yêu thương nàng nữa. Thư gửi từ một địa chỉ rất xa. "Ðừng cho con chơi quả banh ấy, đừng cho nó tung quả banh nẩy trên nền sân gạch, những tiếng ấy như đập vào tim tôi..."
Quả banh của chồng mua cho con gái đầu lòng lúc nó được tròn một tuổi, quả banh nhựa nhiều mầu làm quà sinh nhật khi đứa bé chưa thể nhìn ra những mầu sắc tươi đẹp như cầu vồng, giống như tương lai dành cho nó, như lời chúc của một người hàng xóm tốt bụng. Nàng cất quả banh nhựa ấy trong một ngăn kéo khuất kín, không cho con chơi quả banh ấy nữa cho đến lúc gần đây. Những mầu sắc trở thành vô nghĩa và tương lai con nàng như một lớp sương mù vô vọng. Nàng giao trả con món đồ kỷ niệm nàng nghĩ mình không có quyền cất dấu mãi. Ðứa con gái yêu quí món đồ chơi, không lúc nào rời tay. Phải khó khăn lắm nàng mới lại cất dấu quả banh nhựa ấy đi, như lời dặn của bức thư.
Những ngày mùa đông tiếp nối, mỗi chiều nàng ôm con nhìn trời cao rồi đếm những chiếc lá xếp vào trong giỏ. Ðứa bé đã có thể đếm lá như đếm những con số và những ngôi sao trên trời, nó hình dung cả bầu trời lấp lánh như một biển trân châu, nàng vẫn kể cho con nghe có một vì sao đẹp nhất dành cho mình đang ẩn mình trong đám mây, vì sao sẽ sáng lên lúc đêm ở đỉnh cao nhất và lúc mặt trăng ló dạng. Nàng bảo những vì tinh tú đang sửa soạn mở hội để chờ đợi một ngày.
Thư của chồng lại đến. Lần này từ một dấu bưu điện khác. "Ðừng cho con đi đôi giầy đó. Tôi nghe được tiếng của những bước chân, những tiếng ấy như dày xéo lên tim tôi..."
Nàng run rẩy tháo đôi giầy con đang đi, gượng nhẹ sợ làm con tỉnh dậy, sợ gây tiếng động làm giật mình những ngôi sao đang ngủ im lìm. Ðôi giầy đã cũ và sờn rách, vẫn khít khao đôi chân của con bao nhiêu năm rồi không lớn nổi. Trong một phút khao khát, nàng nhớ đến tiếng nói êm dịu ngọt ngào của chồng, tiếng nói ấy như đang dỗ dành bên tai, đang nói với nàng lời yêu thương dịu dàng hệt như ngày xưa, khi con còn nghe được tiếng động và những âm thanh còn vang động chung quanh. Nàng nhớ vô cùng những tiếng động ấm cúng trong căn nhà khi người ấy còn ở bên cạnh. Rồi một ngày nào con sẽ được nghe lại tiếng nói của chồng, của những vì sao, nàng hy vọng và hằng đêm cầu nguyện.
Một tháng sau, thư của chồng lại gửi về, vẫn một địa chỉ cũ nhưng sao nét chữ của chồng run rẩy yếu ớt như người đang bệnh nặng. Nàng mở đọc thư chồng. "Ðừng cho con ăn cơm với cái bát sứ đô Tôi nghe được những tiếng động, những tiếng ấy như muốn làm vỡ tim tôi..."
Chiều hôm đó, nàng cất hết những cái chén sành vào một góc tủ, và cho con ăn cơm bằng muỗng và bát nhựa. Trong lúc cho con ăn, nàng nhớ có lần khi con được một tuổi, chồng nàng đã chơi đùa với nó vui vẻ, chàng đã cõng nó trên lưng làm ngựa cho con cỡi, tiếng cười nói ấm cúng, rộn rã như vẫn còn vang vọng quanh nàng. Ðứa con gái nhận ra chén cơm không phải là cái bát sành mọi khi, nó khóc, nhất định không chịu ăn. Nàng thở dài, dỗ dành con rồi ôm mặt trong lòng bàn tay của mình. Nín đi con, đừng khóc, đừng gây tiếng động con ạ, cha sẽ nghe thấy và sẽ trách mẹ con mình. Nàng nói với tiếng nói không có âm thanh, sát bên tai đứa bé.
Có tiếng động từ trong bếp. Ðứa con gái đang cầm cái bát sứ của nó trong tay. Người mẹ hốt hoảng giật lại rồi thẳng tay ném mạnh cái bát vào tảng đá ngoài sân. Cái bát vỡ vụn, âm thanh dòn tan nghe như tiếng vỡ của trái tim chồng nàng. Rồi nàng chợt loé một ý nghĩ, nàng quẳng luôn cả cái bát của nàng vào tảng đá lớn. Tiếng vỡ này có phải là tiếng vỡ của trái tim người ấy? Tiện tay, nàng ném tất cả những đồ vật có thể gây tiếng động đổ vỡ, cả cái đàn nguyệt và bình sứ tráng men quí ra ngoài sân. Còn âm thanh này thì sao? Sẵn đang trong cơn bấn loạn, nàng quăng luôn cả thân hình của mình vào vách tường, đấm liên hồi lên vách, cào cấu như muốn làm bật rách tấm vách. Nàng lao mình vào cột, tóc xõa rối tung. Còn tiếng động này nữa thì sao?
"Mẹ, Mẹ, Mẹ...!!!"
Ðứa con gái bật khóc thét, nhào lại ôm chặt lấy nàng. Giữa lúc không kịp nhận ra âm thanh vừa bật ra từ miệng con, nàng giơ tay tát thật mạnh lên mặt con. Này hãy nghe thêm tiếng động này nữa!
Như một tiếng vọng, bức thư lại đến. Thư gửi từ một dấu bưu điện rất xa.
"Ðừng! Ðừng gây thêm một tiếng động nào nữa. Ðừng mở cửa, đừng khép cửa. Ðừng th Hai mẹ con hãy lặng im, đừng để ngay cả những chiếc đồng hồ trong nhà gây thêm một tiếng tích tắc nào nữa..."
"Hai mẹ con. Hai mẹ con..." Nước mắt nàng ứa ra khi lẩm bẩm những tiếng ấy trong miệng.
Sau đó, hai mẹ con nàng không còn gây thêm một tiếng động nào nữa, dù là một âm vang nhỏ nhất. Họ đã ngưng hẳn mọi tiếng động. Tất cả đã hoàn toàn im lặng.
Cùng lúc ở một thị trấn rất xa, người ta tìm thấy xác một người đàn ông nằm chết lạnh cóng bên cạnh những bức thư viết dở dang chưa gửi, trong một căn phòng vắng, chung quanh hoàn toàn im lặng.
Phạm Chi Lan
2-1997
* phóng tác từ một truyện của Yasunari Kawabata