vhnt, số 296
13 May 1997
Trong số này:
thư vhnt................................................................BBT
T h ơ :
1 - Một dáng chân / Em bước vào xếp kiếp tôi; đau............
- Ngại tình nhân.......................................Bình Thường
2 - Ngã ba đường đời / Ảo ảnh....................Phạm Văn Tiên
3 - Mùa ổi chín...........................................Caroline Phung
4 - Nụ cười làm quen / Trời mưa.........................Tưởng Di
5 - Chợ trời trong em.........................................Hoài Yuk
6 - Vô thức..................................................Thụy Phong
7 - Biển........................................................Song Vinh
8 - Một buổi đi hoang......................Trương-Nguyễn Thi Thanh
D i ễ n Ð à n V ă n H ọ c :
9 - Bài nói chuyện về một vài nỗ lực cách tân thể
lục bát và quan niệm hoán vị..........................Du Tử Lê
T r u y ện N g ắn / S án g T ác :
10- Mẹ và tôi.................................................Hòa Trần
11- Chạy truồng..........................................Bùi Thanh Liêm
Trong số VHNT kỳ này, chúng tôi xin giới thiệu đến bạn đọc sáng tác của hai người viết trẻ - Bình Thường và Phạm Văn Tiên.
Niềm vui của nhóm Biên Tập là khi đón nhận và giới thiệu được cùng bạn đọc sáng tác của những cây bút mới. Thỉnh thoảng, có những sáng tác mang một kỹ thuật vững vàng và nội dung sâu sắc, đem đến cho BBT sự kinh ngạc lẫn niềm vui. Kinh ngạc - vì tác giả của chúng chỉ mới bằt đầu đi vào con đường sáng tạo với tuổi đời còn khá trề Vui mừng - vì giữa thế giới văn chương muôn dạng của siêu không gian, vẫn góp nhặt và gửi gấm được đến bạn đọc những giọt thủy tinh lóng lánh tinh anh của thăng hoa chữ nghĩa, của cô đọng tâm hồn.
Ban Biên Tập
Bình Thường: là bút hiệu của một cây bút nam, sinh năm 1969. Ðã ra trường và đi làm về nghành điện toán. Rời Việt Nam năm 1984, định cư sang Canada năm 1986, sống một nơi không có đồng hương. Dời về Toronto, và bằt đầu tìm về cội nguồn và nét đẹp của ngôn ngữ Việt từ đô Năm 1993, bằt đầu sáng tác.
Một Dáng Chân
Con thiêu thân chết tàn khi trời chưa sáng
đâu tim người lơ lãng tựa dáng đi
thời con gái; một lời nguyền mây không phong tỏa
mang tên em ngày đan những ngậm ngùi
người khi chết tương tư còn sót đọng
con đêm cùng còn quyện nằng sau những ngày sau
em bước khẽ trên lưng lũ kỹ niệm buồn cũ
đôi giọt lệ màu ấm ức tân hôn nhau
trời chưa sáng trái trinh buồn đã vỡ
đêm khôn từ khép thẹn niềm đau
tôi cuối mặt đôi tay ngày không hiểu rõ
sau luân hồi; em một dáng chân mau
Em Bước Vào Xếp Kiếp Tôi; Ðau
Mới
cũ
em,
thành đời
Ngại ngùng
cường toan
em hồn nhiên tôi đi vào kiếp khác...
Gió,
qua đêm đầu lạnh
Tay,
quên buổi xôn xao
rồi nghìn xa xôi khuất khúc chợt quay về em nhặt tên tôi
lá hoi hóp sáng sinh vòng tê tái
Con dế non phơi cánh khô giữa hai mùa nằng - đổ
ngày tháng gào theo hạt rối cuối chân em mau
ngày sằp chết bổng sao ngày hớn hở
em bước vào xếp kiếp tôi; đau
Ngại Tình Nhân
Niềm đau một ngày tự xóa
nước mằt một lần lũ lượt kết chung thân
ân cần, đời đêm bỏ quên ngoài song cửa
em hư hao một chỗ tôi ngồi
mười hai ngón phân chia làm lạnh
ngại một đôi vuốt mãi ngực ai vừa
tinh tú cũ em nhường tay họa tạo
đêm xanh xao bỡ ngỡ mặt môi cười
cùng một buổi. em khước từ ngôi thánh nữ
sau mặt trời gần tôi dạo cửa muôn niên
có những bước nhẹ đau vai ngày tháng cũ
mười hai ngón còn, vuốt nửa ngực tình nhân
Bình Thường
Phạm Văn Tiên: sinh năm 1970. Hiện cư ngụ tại Springfield, Missouri. Rời Việt Nam cuối năm 1986 và định cư tại Hoa Kỳ từ năm 1987. Ðã ra trường nhưng nay lại trở lại đi học lại vì "chắc tại nghĩ mình tiếng Anh chưa thạo mà tiếng Việt cũng chẳng thông nên vẫn còn lưu luyến mái trường mãi"
Ngã Ba Ðường Ðời
Giữa ngã ba đường
Ðời tôi phải chọn một
Con đường rộng thênh thang
Trước mặt đầy xa hoa quyến rũ
Lôi cuốn bao người bước đi ngang
Qua con đường hẹp
Ðầy chông gai thách đố
Bao người ngại khó phải quay lưng
Trở về
Giữa ngã ba đường
Ðời tôi phải chọn một
Con đường rộng thênh thang
Trước mặt là sói lang cạm bẫy
Ðã bao người vào đấy rồi thở than
Biết vậy đi con đường hẹp
Dù gian truân khốn khó
Hy vọng cuối đường còn có tương lai
Ở giữa ngã ba
Hai con đường
Ðời tôi phải chọn một
Con đường...
Ảo Ảnh
Bức tranh
Bán thân của người
Nửa đêm
Ðôi mắt sáng ngời hào quang
Lung linh hai mảnh
Trăng vàng
Xảy ra nguyệt thực
Thiên lang rú hồn
Bóng ma đeo đuổi
Chập chờn
Giật mình tỉnh giấc
Hú hồn
Kêu
MA
Phạm Văn Tiên
Mùa ổi chín
mấy lần mùa ổi chín
sao chưa thấy anh về
mồng tơi buồn lan kín
ra tận đến đường đê
hôm anh đi mẹ khóc
em chẳng biết nói gì
chỉ biết nhìn đuôi tóc
che dấu lệ tràn mi
những đêm trời trở gió
hơi lạnh lùa vách phên
em nằm, đôi mắt đỏ
chờ đợi ánh dương lên
có nhiều lần mẹ hỏi
"cũng là người cùng nơi..."
em cúi đầu không nói
lẩn tránh câu trả lời
chiều nay buồn man mác
em ra hái rau mơ
bên dòng sông nước cạn
anh có biết em chờ.
7/10/96
cp
Nụ Cười... Làm Quen
Hôm qua cắp sách đến trường,
Xà vô thư viện lầu hai muốn tìm,
Anh chàng mập mập dễ thương,
Thường hay ngồi học nửa mơ, nửa màng,
Sách thì mở ngỏ để làng,
Tay thì gỏ nhịp, mắt thì đâu đâu!,
Mèn ơi! chỉ cách mấy bàn,
Mà sao như thể không nhìn thấy nhau,
Chỉ cần anh ngó nhìn sang,
Thì đây như kể được vui mấy phần,
Ngồi đây đã hết mấy giờ,
Mà sao anh lại chả thèm biết cho,
Người ta con gái dị òm,
Khi không... hổng lẽ mở lời làm quen,
Thôi mà đứng dậy đi anh,
Chỉ xin câu nói làm quen bắt đầu,
Tiếc gì một tí nụ cười,
Tiếc chi lời nói, câu chào đầu môi,
Biết đâu đời chẳng đẹp hơn,
Biết đâu ưu ái bắt đầu từ đây,
Hứa rằng không dám làm cao,
Chỉ mong sao có nụ cười làm quen,
Tình yêu dệt bởi hai người,
Người đây thì sẳn, còn chờ người kia!
(buổi chiều thư viện UTA)
Trời Mưa.
Trời mưa, rồi lại trời mưa,
làm cho con gái ngại ngùng bước đi,
trời mưa thì trời cứ mưa,
để cho con gái lại thêm cơn lườị
Tưởng Di
(fort worth 97)
Chợ Trời trong em
Ðời ơi tôi nhớ mắt em
Nôn nao như thể tôi thèm ngọc hoa
Hoàng hôn rơi xuống xa xa
Ðời ơi tôi nhớ tay ngà chạm tay
Sao mình đã lỡ kiếp này
Dù mình chỉ lỡ, lỡ tày ba mươi!
Tôi về tôi nhớ tay người
Sao em không gọi đời ơi một lần
Ðường xưa bước lại tần ngần
Như thể một chút ân cần còn vơi
Tiếng chim kêu giữa đỉnh trời
Lòng xưa như muốn còn khơi chút tình
Hoài Yuk
Vô Thức
Em hãy đến trong những đêm đời đứng lặng
Ðể thấy hồn tôi trải trắng lối sương mù
Trong bóng tối mắt sâu hoằn ráo hoảnh
Ði tìm một điều gì lơ lửng giữa thực hư
Em hãy đến, đây vai tôi em hãy tựa
Ðừng muộn phiền, đừng tìm, đừng bận tâm
Ðể trong vô thức hồn nhiên tôi đón nhận
Từng giọt sầu, từng nỗi nhớ nhỏ vào tim
Và như thế sẽ có một lần nào đó
Vắng bóng em hồn tôi gục đổ hoang tàn
Ðể biết rằng tình yêu em là hiện hữu
Giữa những biện minh thoái thác nỗi lòng mình
Em hãy đến bên cạnh đời tôi em nhé
Và nói những gì chưa đến với ngày mai
Ðể mặc tôi cứ mãi là tên phiêu lãng
Mỏi gót chân buồn đi tìm nỗi vu vơ
Và cứ thế để có một ngày nào đó
Bừng tỉnh cơn mê, tôi chuốc lấy ngỡ ngàng
Ðể một lần gọi tên em bằng vị đắng
Giữa cuộc đời lạnh lùng dấu chân chim
Em cứ đến và hãy đi như gió thoảng
Ðừng ngại ngùng, đừng nuối tiếc, đừng trách than
Ðể tình tôi cứ mãi là chiếc lá úa
Nằm khô trên cành, đợi chờ lúc rụng rơi
Và cứ thế để có một lần sau cuối
Tôi rơi âm thầm ôm theo giấc tàn thu
Ðể biết rằng tôi và em hai kẻ lạ
Ðã chung con đường tình cờ của dấu yêụ
Thụy Phong
cuối thu 1997
Biển
Mẹ ngồi đây bóng đêm về thăm mẹ
Con bây giờ mỗi đứa ở một phương
Ngồi mòn mỏi không ai về họp mặt
Mẹ nguyện cầu lời kinh phủ sương đêm
Mẹ ngồi đây bóng đêm về ru mẹ
Thư đàn con, vài năm có, năm không
Muốn hồi âm đời mù chữ cũng đành
Mai ra phố nhờ người biên, gởi hộ
Mẹ ngồi đây bóng đêm về ôm mẹ
Bát cơm chiều ăn lưng dạ rồi thôi
Ðể phần thêm cho con bé sau nhà
Cũng tội nghiệp, đã mồ côi, lại đẹt
Mẹ ngồi đây bóng đêm về hôn mẹ
Lời nguyện cầu heo hắt cả trời đêm
Cầu cho con, dâu rể, được an lành
Cho lũ cháu, mai sau mau thành đạt
Mẹ ngồi đây bóng đêm về che mẹ
Con cả bầy sao mẹ lại ngồi đây
Ngồi mòn mỏi không ai về thăm nữa
Mẹ nguyện cầu lời kinh phủ sương đêm
Song Vinh
Mẹ ngồi đây bóng đêm về thăm mẹ
Con bây giờ mỗi đứa ở một phương
Ngồi mòn mỏi không ai về họp mặt
Mẹ nguyện cầu lời kinh phủ sương đêm
Mẹ ngồi đây bóng đêm về ru mẹ
Thư đàn con, vài năm có, năm không
Muốn hồi âm đời mù chữ cũng đành
Mai ra phố nhờ người biên, gởi hộ
Mẹ ngồi đây bóng đêm về ôm mẹ
Bát cơm chiều ăn lưng dạ rồi thôi
Ðể phần thêm cho con bé sau nhà
Cũng tội nghiệp, đã mồ côi, lại đẹt
Mẹ ngồi đây bóng đêm về hôn mẹ
Lời nguyện cầu heo hắt cả trời đêm
Cầu cho con, dâu rể, được an lành
Cho lũ cháu, mai sau mau thành đạt
Mẹ ngồi đây bóng đêm về che mẹ
Con cả bầy sao mẹ lại ngồi đây
Ngồi mòn mỏi không ai về thăm nữa
Mẹ nguyện cầu lời kinh phủ sương đêm
Song Vinh
một buổi đi hoang
hôm nay anh không viết
hộp thư chẳng thèm "blink"
em ngồi trong "office"
vấn tóc buồn mông mênh
ngoài trời xuân vừa đến
sóc rủ nhau leo trèo
mấy bụi hoa tulip
đỏ, trắng, vàng như thêu
em ra sân đứng đợi
ngọn gió buồn bay ngang
giỡn đùa trên mắt dỗi
dỗ lòng em mơ màng
đầu cành chim thánh thót
ôi chợt nhớ ngày xưa!
bao lâu rồi anh nhỉ
anh bắt đầu... yêu chưa?
xuân có về bên đó
cho em gởi lời thăm
vẫn còn như thuở nọ
em gái nhỏ thương thầm
xuân nay về trong thoáng
em gái nhỏ đa đoan
hình dung anh trong khoảng
để thấy mình đi hoang
Trương Nguyễn Thi Thanh
BÀI NÓI CHUYỆN VỀ MỘT VÀI NỖ LỰC CÁCH TÂN THỂ LỤC BÁT
VÀ QUAN NIỆM HOÁN VỊ / CONVERSION CONCEPT
Tại Ðại học UCLA ngày 25 tháng 5, 1996 và Ðại học UCI ngày 26 tháng 11, 1997
I. CĂN BẢN.
Nhìn lại tiến trình phát triển của ngôn ngữ nhân loại, ta có thể tóm lược như sau:
A. NGÔN NGỮ KHỞI NGUỒN
Thoạt tiên, ngôn ngữ dù của dân tộc nào, cũng đều mang tính Ðơn Âm. Nó là những tiếng kêu, thét thảng thốt, như những phản ứng tự nhiên của con người, bày tỏ sự sợ hãi, kinh ngạc, hốt hoảng trước những biến chuyển đột ngột của thiên nhiên như sấm, sét, mưa, bão, động đất, núi lửa... Nói chung là thiên tai. Ðó là những Thán Từ (Interjection) Ðơn Âm, đột ngột phát ra, không do một sắp xếp, chuẩn bị. Nói cách khác, nó không mang một ý nghĩa biểu tính của một loại ngôn ngữ nào hết. Tự thân nó chỉ là những tiếng kêu, thét. Thí dụ: Ô! Oh! Ôi! Outch! A! Á! Ao!...
B. NGÔN NGỮ BIẾN CHUYỂN: GIAI ÐOẠN I
Vì tính Lưỡng Cực hay hai mặt của đời sống tự nhiên mà, sau này (cũng có thể cùng lúc,) con người cũng xử dụng những Thán tự/ Interjection Ðơn Âm kia, để diễn tả nỗi mừng rỡ, hân hoan... nữa.
C. NGÔN NGỮ BIẾN CHUYỂN: GIAI ÐOẠN II
Do nhu cầu chống lại những đe dọa của thiên tai mang đầy tính thần bí, con người tiến từ đời sống đơn độc tới đời sống hợp quần. Họ tụ tập từng thành nhóm nhỏ, trước khi tiến dần tới giai đoạn quần tụ thành Bộ Lạc.
Theo một số nhà nhân chủng học thì ý niệm sống quần tụ của con người thời sơ khai, có thể được gợi ý từ hình ảnh thú vật sống thành bầy, đoàn...
Dù sự quần tụ của con người cổ xưa thành hình từ nguyên nhân nào, thì, khi có nhiều người chung sống với nhau, nhu cầu diễn đạt tình cảm thuận/nghịch, phân chia quyền lợi... đã tự động nẩy sinh.
Khi con người có nhu cầu diễn đạt mới để thích ứng với giai đoạn quần tụ, sự sống của ngôn ngữ cũng đương nhiên sinh nở, phát triển theo.
Từ đó, tùy theo vùng đất (cao, thấp,...) khí hậu (nóng, lạnh,...) mức độ tiến hóa của từng nhóm người mà, ngôn ngữ phát triển theo một trong hai khuynh hướng sau đây: Ðơn Âm (Monosyllabic) hoặc Ða Âm (Polysyllabic.)
D: NGÔN NGỮ BIẾN CHUYỂN: GIAI ÐOẠN III
a- Hình thái sống ỉ quần tụ nêu trên đưa con người tới chỗ:
1- Có quần tụ là có sức mạnh của tập thể.
2- Nhưng tập thể hay bộ lạc không nhất thiết có số lượng
người bằng nhau. Có nhóm lớn, nhóm nhỏ.
3- Sự kiện này, tự động hình thành luật: Mạnh được; Yếu thua.
b- Kết quả:
Nhóm mạnh không chỉ đàn áp, thôn tính và coi nhóm yếu:
- Như một thứ chiến lợi phẩm (người và của cải, gia súc;),
- Ảnh hưởng, chi phối nhóm yếu cả về phương diện tiếng nói nữa.
c- Từ đó, với thời gian, ngôn ngữ của nhân loại dần dần quy vào hai gốc chính:
1- Dòng ngôn ngữ lấy hình vẽ làm nguồn gốc. Ta gọi là chữ tượng hình (Hieroglyphic Script.)
2- Dòng ngôn ngữ lấy mẫu tự La Tinh (Roman Alphabet,) làm chuẩn.
E. NGÔN NGỮ BIẾN CHUYỂN: GIAI ÐOẠN IV.
Khi ngôn ngữ của nhân loại quy về một trong hai mối chính, kể trên, cũng là lúc con người tiến từ giai đoạn bộ lạc hiểu theo nghĩa Du Mục, bước qua giai đoạn định cư. Giai đoạn định cư này, là bước khởi đầu để con người tiến dần tới sự hình thành lãnh thổ, quốc gia. Ðể thích ứng với giai đoạn định cư, tiền thân của giai đoạn định hình lãnh thổ, quốc gia, ngôn ngữ của nhân loại cũng tiến dần từ giai đoạn đơn sơ tới phức tạp. Ngôn ngữ như đời sống, một khi trở nên phong phú, phức tạp thì, tự thân đòi hỏi những luật lệ căn bản hầu bảo đảm cho sự dễ dàng, chính xác trong nhu cầu diễn tầ Bởi thế, con người phải đặt ra những luật lệ cho ngôn ngữ. Từ đây, chúng ta văn phạm. (Xin nhấn mạnh, Văn Phạm do con người đặt ra. Nghĩa là con người có thể thay đổi, bổ khuyết, hầu phù hợp với thời đại của mình.)
II. QUAN NIỆM VỀ CHỮ VÀ NGHĨA
A- Trên căn bản: hai vật-tượng (sự vật, hiện tượng) đặt / đứng / ở / cạnh nhau thì, chúng hỗ tương nhau làm thành vật thứ ba, hoặc cho ta liên tưởng tới vật thứ ba.
Thí dụ (1): Cục đá đặt trên một khối đất, cho ta liên tưởng tới một pho tượng.
Thí dụ (2): Những chiếc ghế kê quanh một cái bàn, cho ta liên tưởng tới một gia đình, một bữa cơm; hay những người vắng mặt, Vân vân...
B- (Cũng thế) Hai chữ đặt cạnh nhau, cho ta một nghĩa khác. Thí dụ:
- Quả / Trái cho ta ý niệm hay hình ảnh quả / trái sinh ra bởi cây.
- Nhưng khi ta thêm chữ Cam, hay chữ Mít sau chữ Quả / Trái, lập tức ta biết ngay, quả cam không phải là trái mít, và ngược lại.
C- (Nhưng) Nếu nhiều hơn hai chữ đặt cạnh hay đi liền với nhau, đương nhiên nó sẽ làm thành một nghĩa khác (hay nhiều nghĩa khác.)
Ð (Bây giờ) Ta thử hình dung một xâu, chuỗi nguyên ngữ đi liền nhau, nó sẽ giống một dòng nước, mà:
a-) Dòng nước (gồm nhiều hạt nước nhỏ) xô đẩy (pushing) nhau chảy theo một hướng nhất định (the specific direction): Hướng thấp, trũng.
b-) Giọt thứ hai xô đẩy giọt thứ nhất. Giọt thứ ba, xô đẩy giọt thứ hai.... Trình tự này, bất biến. Nói cách khác, giọt thứ nhất không thể xô đẩy ngược giọt thứ hai. Giọt thứ hai không thể xô đẩy ngược giọt thứ ba. Ðơn giản hơn, một dòng nước không thể vừa chảy xuôi, vừa chảy ngược. Dòng nước có thể chảy ngược, nếu có sự tham dự của bàn tay con người. Ta đậy kín nấp bình nước. Dốc ngược bình lên, khoét một lỗ ở đáy bình. Nước sẽ chảy ra. Nhưng rốt cuộc vẫn theo chiều từ cao xuống thấp.
c-) Những xô đẩy liên tục theo một hướng nhất định tạo thành Sự Chuyển Ðộng (mobility) của một dòng nước. Ðịnh luật này, cũng là định luật của một xâu chuỗi ngôn ngữ đi liền nhau.
đ) Tóm lại:
1- Giọt nước đầu tiên cũng là hướng tiến của cả dòng nước, do sự xô đẩy của giọt nước kế cận, trước nó. Nhưng những giọt nước này, tự thân chúng không thể tách biệt (self separated) nó khỏi giọt trước, và, giọt sau nó để mà xô đẩy hay bị xô đẩy. Nó dính liền, trộn lẫn (link, mix.) Nó là một khối nguyên vẹn, bất khả phân (a completed block, which couldn't divide.)
2- Một nhóm chữ cũng vậy. Chữ thứ hai chỉ có thể xô đẩy chữ thứ nhất, theo hướng đi theo một chiều nhất định nào đô Ta không thể bứt / nhặt / lóc / chúng khỏi cái nguyên khối bất khả phân của chúng. Ta gọi đó là những mệnh đề độc lập.
3- Tuy nhiên, khác hơn một dòng nước, một nhóm chữ khi được nói ra nó phải phù hợp với nhịp thở của con người. Bởi vì con người không thể vừa thở vào (hít vào) vừa nói ra. Chúng ta chỉ có thể nói cùng lúc với hơi thở ra mà thôi. Bởi thế chúng ta có chữ Nói Ra / Speak Out. Khi nói một câu nói dài, bao giờ con người cũng cần có những giây ngưng lại để thở, trước khi nói tiếng kế tiếp. Nên trong câu văn, người ta dùng những dấu như: phẩy, chấm phẩy, hai chấm, chấm than, để ngắt nhịp cho câu văn. (Nó cũng tựa như những dấu ngắt hay dấu lặng trong âm nhạc.) Ở đây, ta không kể tới dấu chấm vì dấu chấm khi được dùng đến, thì câu văn đã đầy đủ ý nghĩa. Như một câu nói đã hoàn tất. Ta gọi một câu văn tự nó đã đủ nghĩa và chấm dứt bằng dấu chấm là một Mệnh đề độc lập / An Independent sentence.
4- Trường hợp có tới hai mệnh đề độc lập, muốn nối vào nhau, người ta phải dùng tới Liên Tự hay Conjunction. (Liên tự, tất nhiên, cũng còn được dùng để nối liền 2 danh từ, động từ, tĩnh từ, trạng từ,...) Liên tự / Conjunction như chúng ta biết là chữ nối liền hai mệnh đề độc lập, một khi ta không muốn dùng dấu chấm câu. Nó như chiếc cầu nối liền hai bờ sông, ống thông thương cân bằng hai mực nước, vân vân...
III. QUAN NIỆM HOÁN VỊ / CONVERSION CONCEPT / TẠI SAO / BỞI ÐÂU
Khởi tự căn bản, như tôi đã trình bày ở trên, qua thí dụ của một dòng nước, thủy chung văn chương của nhân loại, tới ngày hôm nay, vẫn còn cho thấy:
1-) Chữ thứ nhất bị xô đẩy bởi chữ thứ hai, theo một hướng tiến tới nhất định (trước khi rơi xuống - nếu là tiếng nói - do hấp lực của trái đất.) Nó không thể xô đẩy ngược lại. Và, càng không thể vắt ngược lại chữ sau cùng như con rắn có thể mang cái đầu của nó chạm vào cái đuôi hay ngược lại.
2-) Giữa các chữ nằm trong một câu nói / câu văn không thể xô đẩy hai chiều / Two way directions. Từ ngày nhân loại có chữ viết và hình thành một nền văn phạm như ta đã biết, trước sau không có một đổi thay nào sau cả hàng nghìn năm. Trong khi về phương diện vật lý, toán học, bao nhiêu quan niệm cũ đã bị đảo lộn bởi những lý thuyết, định luật mới mề Từ định luật về hình học không gian, toán không gian qua tới những định luật vật lý mới về vũ trụ. Gần đây nhất là thuyết Quantum / Fragment của Heidenberg, nói về ảnh hưởng giây chuyền, chuyển động qua không gian...
Vì thế, tôi chủ trương:
1-) Ngắt lại nhịp đi (punctuate) của câu thơ / văn.
2-) Cởi bỏ sự trói buộc, tính một chiều, đi tới của câu thơ / văn, để chúng có thể có được cái tự do chuyển động:
a-) hai chiều.
b- Hoán vị / conversion hay đơn gian hơn, thay đổi vị trí trước đấy vốn cố định (fix) của chúng.
Ở quan niệm thứ hai của tôi: quan niệm Hoán Vị / Conversion, còn mang ý nghĩa giúp cho người đọc THỰC SỰ trở thành độc giả thứ hai.
Nghĩa là họ có quyền sắp xếp lại câu thơ / văn của chúng ta theo ý họ. Họ không bị đặt trước một bữa ăn đã hoàn tất / a ready meal, hay một ngôi nhà tiền chế ma,ụ họ chỉ có quyền chấp nhận hay từ chối.
A. Chủ Trương Ngắt Lại Nhịp Ði của Câu Thơ / Văn Và Cách Tân Thể Lục bát.
1./ Xử Dụng Các Dấu Có Sẵn, Như Phẩy, Chấm... Tôi đã áp dụng chủ trương này từ những bài thơ viết năm 1966. Thí dụ bài thơ có nhan đề BÀI CUỐI, 66 đăng trên Tạp chí Văn, năm 1966, ở Saigòn. Bài này, Hai ông Phan Canh và Nguyễn Tấn Long có trích đăng lại (nguyên bài) trong phần Thi Tuyển, của cuốn Thi Nhân Việt Nam Hiện Ðại (Thế Hệ 54-73); Quyển I, Sống Mới xuất bản năm 1974, Saigòn.
Căn bản, tôi chia lại nhịp đi thể lục bát của ta. Thay vì giữ lại cho nó nhịp: 2 / 2 / 2 (câu sáu - nhịp chẵn.) Và nhịp: 2 /2 /2 /2 (câu tám - nhịp chẵn.) Hoặc nhịp: 3 / 3 (câu sáu - nhịp cân bằng.) Và nhịp: 4 / 4 (câu tám - nhịp cân bằng...) Tôi dùng nhịp lẻ (như nhịp chỏi/ syncope của âm nhạc.)
Thí dụ: phố cao, gió nổi, bóng mờ (nhịp 2/2/2) đêm lu, trời nặng, tôi gù lưng, đi (nhịp 2/2/3/1) (Ðọc thêm Phan Canh Nguyễn Tấn Long: Thi Nhân Việt Nam Thế Hệ 54-73, Sống Mới, Saigòn. Từ trang 221 tới 284.)
Về mặt nhân sinh quan, tôi chủ trương cắt vụn một câu văn / thơ của mình, vì, tôi nghĩ đời sống hiện tại của chúng ta, đầy bất trắc, xáo trộn. Nó không hề là một dòng sông êm ả chảy như thời tổ tiên của chúng ta xa xưa nữa. Không ai có thể đoan chắc được điều gì sẽ xẩy tới trong đời sống ta, đời sống những người chung quanh ta, ngày tới, giờ tới. Ðời sống hiện tại, theo tôi là những mảnh vụn (như những mảnh puzzle vậy.)
Tôi đã bị chống đối rất nhiều, lúc bắt đầu cuộc thử nghiệm vào năm 1966.
Sau đó chỉ ít năm, số người làm thơ Lục bát chia lại nhịp để Lục Bát có nhịp lẻ, nhất là ở những câu chữ gia tăng, mỗi ngày mỗi nhiều. Tuy nhiên, mãi tới năm 1992, tình cờ một người quen cho tôi mượn cuốn Nghĩ Về Thơ của Nguyễn Hưng Quốc, (Văn Nghệ xuất bản, 1991,) nỗ lực cách tân của tôi, lần đầu tiên được công nhận bởi tác giả này.
Bây giờ thì, trong nước cũng như hải ngoại, số lục bát có nhịp lẻ, là chuyện đương nhiên. Không còn ai thấy nó dị dạng, ngu xuẩn hay lập dị nữa.
2./ Chẻ Chữ Ðể Thêm Nghĩa / Divide The Double Word, Get More Meanings
- Căn bản ngôn ngữ Việt Nam thuộc loại đơn âm. Nhưng một mặt nào khác, nó cũng mang tính đa âm nhờ có nhiều từ kép. Thí dụ: oang oang, ầm ầm, ồn ào, buồn rầu, đau khổ, v.v...
- Không kể những từ có âm lập lại chính nó / Take after itself, chữ Việt Nam có rất nhiều từ kép. Nếu chúng ta chẻ đôi nó ra, chúng ta sẽ:
a- Thấy rõ hơn ý nghĩa liên tục hay ảnh hưởng hỗ tương về ý nghĩa của hai từ ghép lại đô
Thí dụ: với Tĩnh từ /Adjective: Ðau Khổ, nếu ta chẻ chữ này làm đôi bằng một dấu phẩy, ta sẽ có Ðau, Khổ, hay Ðau và Khổ.
Từ đó, ta hiểu rõ ý nghĩa giây truyền của tĩnh từ này là: Bị đau đớn rồi mới đưa tới trạng thái khổ sở.
b- Từ suy nghiệm này, tôi đã chẻ đôi những từ kép của ngôn ngữ Việt. Thử nghiệm này bắt đầu từ đầu năm 1990. Những bài thơ đầu tiên tôi thử nghiệm cái mà tôi gọi là Chẻ Chữ Ðể Thêm Nghĩa, đã được gom lại, in trong tập Chấm Dứt Luân Hồi: Em Bước Ra in năm 1993.
Thí dụ:
sương, trần thân mây chia, ly nhập chung nỗi chết: sầu khô, héo về
(Trích bài Khúc 19 tháng 9, trang 50, Chấm Dứt Luân Hồi: Em Bước Ra.)
Tôi cố tình dùng dấu phẩy / phết giữa hai chữ Chia và Ly, để cho rõ nghĩa rằng: chia đôi xong rồi mới tới ly biệt đôi ngầ Cũng như khô rồi mới héo.
3./ Bỏ âm Trắc bắt buộc nơi chữ thứ 4 của những câu sáu chữ trong thể lúc bát cũ.
Cũng với hai câu thơ thí dụ vừa nêu trên, những người có kinh nghiệm làm thơ Lục bát sẽ nhận thấy ngay rằng tôi đã cố tình bỏ âm trắc bắt buộc nơi chữ thứ 4 của mỗi câu 6 trong thể Lục bát.
Khi bỏ đi âm trắc bắt buộc này, chúng ta sẽ dễ dàng hơn trong việc diễn tả những tâm trạng buồn ba, tuyệt vọng, rời rã cực độ. Chúng ta cũng dễ dàng có một hình ảnh toàn khối mà không cần phải giảng giải như ở dạng văn suôi.
Một thí dụ khác: Nhờ bỏ đi âm trắc bắt buộc ở chữ thứ 4, tôi có thể viết một câu thơ trong bài thơ mà nhiều người sau này nhắc nhở, đó là bài Tôi nào.
Câu thơ đó là:
tôi Lê. Lê. Lê. Lê nào?
(Trích trong Sông Núi Người Thơm Nỗi Nhớ Nhà/ Your Scented Garden, My Nostalgia, trang 112.)
Cấu trúc của câu thơ còn cho thấy rất rõ sự khác biệt văn phạm giữa văn xuôi và thơ.
B.- Về Chủ Trương Hoán Vị / Conversion
1- Nhân loại trải qua nhiều nền văn minh khác nhau. Tựu trung người ta có thể dễ dàng đồng ý với nhau rằng, chúng ta có 4 nền văn minh chính. Văn minh Nông Nghiệp, văn minh Công Nghiệp, văn minh Cơ Khí và văn minh Ðiện Toán... (Xin xem thêm phụ bản /chart 1)
Nền văn minh Ðiện toán mang lại cho chúng ta một số ký hiệu / symbol mà từ trước chúng ta không cô Một trong những ký hiệu đó là dấu Slash (/) Gạch Chéo.
2- Muốn cho người đọc hiểu điều ta muốn nói hay, thông cảm hoặc chia xẻ với ta, dĩ nhiên, ta phải dùng một ký hiệu nào đó, để biểu thị điều ta muốn trình bày.
Tôi đã lợi dụng ký hiệu Slash / Gạch Chéo để minh thị cùng người đọc những điều sau đây:
a-) Khi một dấu gạch chéo được đặt sau một chữ nào đó, điều ấy, có nghĩa chữ đó có thể di chuyển theo hai chiều thuận nghịch ( Freely two way directions.) Và nó cũng có nghĩa chữ này tuy ở vị trí bị kẹt giữa hai chữ khác, nhưng nó vẫn có nhiệm vụ (hay tự do) xô đẩy chữ đứng trước nó và luôn cả chữ đứng sau nó nữa.
b-) Khi một chữ hay nhiều chữ bị đặt giữa hai dấu slash / gạch chéo, điều đó có nghĩa người đọc có thể di chuyển MỘT CHỮ, MỘT NHÓM CHỮ theo bất cứ chiều nào họ muốn. Nói khác đi, người đọc có thể thay đổi vị trí đầu tiên của chữ (hay nhóm chữ) đó, tùy theo ý thích của hỗ
c-) Thay thế Giới Tự / Preposition Như / As: Căn bản, về phương diện kỹ thuật: văn chương, nghệ thuật được xây dựng trên thể Tỷ giảo (Comparison) và Liên Tưởng (Associate or Connection.) Nhà văn khi trông thấy (nghĩ tới, nhớ lại) một vật tượng không chỉ thấy như nó là (as is) mà, so sánh, liên tưởng nó với / tới một vật tượng nào khác. Vì thế mà, nhân loại có cái gọi là văn học nghệ thuật.
Thử nghiệm này tôi bắt đầu từ năm 1992.
Những bài thơ thử nghiệm đầu tiên và kế tiếp, sau đó, được in lại trong cuốn thơ Chấm Dứt Luân Hồi Em Bươc Ra / End Of Karma: You Walked Out (Tủ sách Văn Học Nhân Chứng, Calif., 1993.)
Xin đưa một thí dụ mà nhiều người quen thuộc, trích từ cuốn Nhà Văn Nói Chuyện Với Chúng Ta, do Nhà thơ Nguyễn Mạnh Trinh phỏng vấn tôi, năm 1994.
1- Rừng /tôi/ sâu/ thở/ nốt chân trời (nguyên văn.) Trong câu thơ này, những chữ TÔI, SÂU, THỞ có thể thay đổi vị trí tiên khởi, để có một vị trí khác, mang âm hưởng và ý nghĩa khác, tùy theo suy nghĩ, ý tưởng của mỗi người đọc. Dưới đây 3 câu thơ khác, của một câu thơ ấy:
2- tôi rừng sâu thở nốt chân trời (câu hoán vị thứ nhất.)
3- sâu rừng tôi thở nốt chân trời (câu hoán vị thứ hai.)
4- thở nốt chân trời rừng tôi sâu (câu hoán vị thứ ba.)
(Nguyên bài thơ này, đăng lại trong tập Chấm Dứt Luân Hồi Em Bước Ra.)
Về mặt nhân sinh, tôi quan niệm, đời sống của chúng ta hiện nay là những mảnh puzzle. Mọi người ai cũng có quyền sắp xếp lại những mảnh vụn đó, theo ý mình. Thậm chí, có thể làm cho nó vụn, nát hơn, cũng được.
C. Có Hai Cách Hoán Vị / Conversion khác nhau
a-) Cách Thứ Nhất: Như tôi vừa trình bày ở trên. Hoán vị / Conversion, dựa trên sự đổi chỗ (replace position) của từng con chữ hay một nhóm ch
b-) Cách Thứ Hai: Hoán đổi vị trí của Chủ thể (Subject) ngắm nhìn Khách Thể (Object.)
c-) Quan Niệm: Văn học nghệ thuật của nhân loại (nói chung cho tất cả mọi bộ môn, từ văn chương tới hội họa, điêu khắc, âm nhạc...) từ nghìn xưa tới nay, xây dựng trên: Chủ thể:quan sát / cảm nhận / suy luận / liên tưởng / rồi đi tới kết luận chủ quan về những gì chúng ta thâu nhận được bằng ngũ quan và bằng trí não.
Cách khác, chúng ta quan sát, cảm nhận, đánh giá, liên tưởng về vật, tượng và sau đó chúng ta cho nó một kết luận của chúng ta về nó.
Thí dụ: Buổi chiều buồn vì có mưa hiu hắt. Ta (Chủ thể / Subject) quan sát (khách thể / Object) buổi chiều và mưa. Sau đó, ta viết xuống (nói ra) - tức chúng ta gán ghép cho buổi chiều thì... buồn; và mưa thì hiu hắt. Một người khác cũng đứng trước một vật / tượng như vậy, có thể gắn cho vật / tượng này cái ghi nhận chủ quan của riêng mình:
Thí dụ: Buổi chiều vì vì có mưa réo rắc. Vấn đề với tôi, không phải là trả lại sự vật tính khách quan / objective reality căn bản của nó, như phong trào văn chương mới / The New Romance (khởi đầu ở Âu châu,) trong quá khứ xa, đã đòi hỏi mà, tôi muốn hoán vị / converse vị trí của SUBJECT thành OBJECT và OBJECT thành SUBJECT. (Xin coi thêm phụ bản / chart 2.)
Tôi đã thử nghiệm cách Hoán Vị Hai này, qua một số bài thơ, in trong tập: Sông Núi Người Thơm Nỗi Nhớ Nhà / Your Scented Garden, My Nostalgia. Tủ Sách Văn Học Nhân Chứng, Calif., 1996.) Rõ nhất như bài: Hoán Vị, viết năm 1994:
tình yêu / đường xá / ghế, bàn /ngọn đèn /đêm
tối:
hát cho tôi nghe
bởi chúng thấy tôi
vật lãng quên, lớn nhất.
(sđ, trang 83.)
Hay các bài Phác Họa 95/2, Phác Họa 95/3, viết hồi tháng 2 và tháng 3 năm 1995:
tại sao cứ phải vì ai /cho ai/
khi vạn vật vốn một
khi chúng cũng có thể nhìn/ nói/ về ta
hệt như
ta nói hoài hủy (mấy nghìn năm)
về cây cỏ /thiên nhiên/ đồng loại
nhưng chúng im lặng...
(sđ, phác Họa 95/2, trang 132.)
Những nỗ lực cách tân thể Lục bát cũng như việc xử dụng thêm một dấu mới của tôi, được Nhà văn Bùi Bảo Trúc nhìn thấy, khuyến khích sớm nhất, trong những phát biểu, bài viết của ông.
Tôi vẫn nghĩ, Văn học và Nghệ thuật vốn không phân biệt mầu da, tiếng nói, lãnh thổ, biên cương; nó là một thứ tài sản chung (The Common Mankind Heritage) của nhân loại. Vì, mục đích tối hậu của Văn Học Nghệ Thuật là mang cái đẹp, cái mới đến cho mọi người. Hầu từ đó, nhân phẩm của con người được nâng lên cao hơn; khiến cho sự khác biệt giữa con người và thú vật ngày một thêm cách biệt. Trong tinh thần đó, tôi trân trọng kêu gọi mọi người, bất cứ ai, đã, đang, sẽ trằn trọc, thao thức với nhu cầu cách tân văn học nghệ thuật hãy tiếp tay tôi, bổ khuyết, hoàn chỉnh công việc khó khăn này. Cá nhân, tôi xin tình nguyện làm vật thử nghiệm, trong bước đầu của những đổi mới ấy.
DU TỬ LÊ
Calif., Nov., 10, 1995.
Mẹ Và Tôi
Có những chuyện xảy ra trong đời một đứa trẻ mà khi lớn lên, chúng không thể nào quên. Những sự việc này có thể biến đổi suy nghĩ , tình cảm của những đứa trẻ này rất nhiều nữa.
Tôi thích đọc sách từ lúc còn bé. Những cuốn sách, truyện tranh, truyện chữ các chị tôi mua về , tôi đều lén lấy đọc hết. Trong các cuốn sách tôi đọc thuở bé , hai cuốn tôi thích nhất là cuốn "Tâm Hồn Cao thượng" và cuốn "Giọt Sương Tan".
Và kể từ khi đọc xong cuốn truyện và cuốn sách này, tôi thương mẹ tôi vô cùng. Ngay từ lúc nhỏ, tôi đã mường tượng đến cái cảnh khổ của tôi khi mẹ tôi không còn ở bên tôi nữa. Và tôi sợ.
Trong cuốn "Tâm Hồn Cao Thương" có một truyện về các em bé ở môt trường mù. Trong những em bé này, có em bị mù từ bé ; lại có em bị mù sau khi đã lớn. Các em này có một nỗi khổ chung : không còn được nhìn thấy dung nhan mẹ. Có một hôm, một em bé thốt lên lời cầu nguyện mà ai nghe thấy cũng muốn thắt ruột lại : "Lạy Thượng Ðế, xin cho con mở mắt được một lần, dù chỉ một giây thôi. Con chỉ xin nhìn thấy mắt mẹ một lần, rồi con bị mù cả đời, con cũng xin chấp nhận ".
Cuốn truyện "Giọt Sương Tan" nói về thằng Vũ. Mẹ vũ mất khi nó còn tấm bé. Ba Vũ thương con mồ côi nên cưới thêm vợ bé về để săn sóc cho con. Sự đời oái oăm, cái người mà ba Vũ muốn săn sóc nó, lại là người hành hạ nó. Vũ bị dì ghẻ hành hạ, đánh đập, chửi ruả cả ngày. Ba Vũ mặc dù thương con nhưng muốn giữ hạnh phúc gia đình nên chỉ biết nhìn con mà khóc thầm. Có một lần Vũ làm một bài luận văn về mẹ, Vũ tả cảnh khổ của đứa con mất mẹ, và sự thèm khát tình thương của nó khi nhìn những đứa trẻ khác có mẹ dẫn đến trường. Vũ viết rằng mỗi khi nghe câu ca dao "Mồ côi cha ăn cơm với cá, mồ côi mẹ lót lá mà nằm", nó lại nghĩ đến thân phận mồ côi của mình. "Kể từ khi tôi mất mẹ, lúc nào tôi cũng thấy mình như một giọt sương tan trong cơn nắng ác nghiệt". Bài luận văn của Vũ làm cả lớp khóc, và không may, lại lọt vào tay của dì ghẻ Vũ. Bà đem bài luận đọc cho ba Vũ nghe, rồi chửi rủa cả hai cha con thậm tệ. Sau đó, Vũ bị một trận đòn thật nặng từ người cha hiền nhưng sợ vợ. Cả hai người, người đánh và người bị đánh đều khóc, có khác chăng là đứa bé thì khóc thành tiếng, còn cha nó thì khóc ở trong lòng. Bị đòn xong, Vũ lê tấm thân tàn tạ ra đàng sau vườn, nước mắt lại dàn dụa thêm lần nữa. Nó nhìn lên trời, nguyện thầm: "Mẹ ơi, mẹ có biết con của mẹ đang khổ thế nào không?"
Từ khi đọc hai cuốn sách trên, mỗi khi tôi nghĩ về mẹ, tôi lại nghĩ về Vũ và những đứa trẻ mù, và sợ một ngày nào đó, tôi sẽ trở thành một trong những đứa bé trên. Càng sợ như thế, tôi lại càng yêu thương mẹ tôi hơn.
Thuở còn bé, tôi là một đứa bé ngỗ nghịch. Tối ngày đi phá phách hàng xóm hoặc lêu lổng với bạn bè. Ba tôi hoặc các chị tôi vẫn hay đánh đòn tôi, nhưng không bao giờ tôi sợ. Vậy mà chỉ nhìn thấy một chút buồn trong mắt mẹ vì tôi, hoặc chỉ cần nghe một tiếng mẹ gọi là tôi trở nên một chú cừu hiền lành, ngoan ngoãn nghe lời.
Nhờ thương mẹ, tôi mới thấy cái tình thương bao la dạt dào mà mẹ đã dành cho tôi và các chị em tôi.
Tôi là một đứa trẻ ngỗ nghịch, vậy mà mẹ chưa lần nặng lời la mắng.
Mẹ tôi chỉ được học đến khi biết đọc biết viết, vậy mà mẹ tôi đã chịu khổ cực, vất vả để cho chị em chúng tôi học nên người.
Khoảng năm 1978, khi mọi nhà đều phải ăn độn khoai, sắn, bo bo, mẹ tôi đã giành phần ăn độn để cho cha con chúng tôi được ăn nhiều cơm trắng hơn.
Cả nhà chỉ có hai thằng con trai cầu tự, vậy mà mẹ đã dám hy sinh cho tôi đi vượt biên, hy vọng nó sẽ không phải bị đưa sang Kampuchea và bỏ xác ở bên đó.
Con cháu đầy đàn bên Việt Nam, mẹ tôi đã bỏ lại hết để đưa em trai tôi sang Mỹ cho nó có một tương lai sáng sủa hơn. Mặc dù cô đơn bên Mỹ trong tuổi già, mẹ tôi không hề mở một lời than vãn.
Mỗi tuần tôi gọi hỏi thăm mẹ tôi ít nhất một lần, vậy mà mẹ tôi vẫn thấy chưa đủ. Mỗi tháng, mẹ tôi lại viết cho tôi một lá thư. Trong đó mẹ chẳng viết gì, chỉ khuyên tôi nên giữ gìn sức khoẻ và nhớ đến Chúa.
Thương tôi, mẹ tôi càng thương vợ tôi hơn. Mẹ tôi thương con dâu mình hơn cả con gái nữa. Mỗi lần lên thăm mẹ tôi, vợ tôi chẳng phải làm gì vì mọi việc đã có mẹ tôi làm hết. Mẹ tôi thường nói đùa : "Vợ thằng Hoà giống như đứa con gái rượu ở trong nhà này vậy".
Mẹ tôi thương tôi như vậy, chắc chắn là Người đã rớt nhiều nước mắt vì tôi. Còn tôi? Tôi nhớ lần đầu tiên và cũng là lần duy nhất mà tôi nhỏ nước mắt vì thương mẹ là trong ngày cưới của tôi.
Hôm đó, họ đàng trai chúng tôi sang nhà gái để rước dâu. Mọi người ai nấy vui vẻ cười nói vì đó là ngày vui của hai gia đình. Cô vợ sắp cưới của tôi, phần vô tư, phần cố không cho người ta cười là cô dâu lại khóc như những cô dâu khác, nên vẻ mặt lúc nào cũng tươi như hoa. Sau khi hai đàng đã giới thiệu nhau, bố vợ tôi nói mẹ tôi nhắn nhủ vài lời cho con trai và con dâu mới của bà.
Mẹ tôi hớn hở (vì có con dâu mới) từ từ đi đến trước mặt chúng tôi. Mẹ tôi chưa kịp nói câu gì, bỗng nhiên tôi bật khóc nức nở, và càng cố nín, tôi lại càng khóc nhiều hơn. Mẹ tôi để cho tôi khóc như thế khoảng gần nửa phút rồi đưa cho tôi cái khăn để lau nước mắt. Tôi cầm khăn lau mắt, mà nước mắt cứ dàn ra, và miệng thì mếu lại. Mấy đứa em họ tôi thấy thế, liền ghẹo "Anh Hoà con trai mà mít ướt quá". Chúng càng ghẹo, tôi lại càng khóc nhiều hơn.
Thấy tôi khóc nhiều quá, mẹ tôi mới đưa tay tát nhẹ vào má tôi mà bảo: "Con phải nín thì mẹ mới nói được chứ". Lúc đó, không biết vì đã khóc một trận quá ngon lành, hay là nghe lời mẹ dạy, tôi mới ngưng được cái cảnh lạ nhất từ xưa đến nay trong ngày cưới: Chú rể khóc trong khi làm lễ cưới.
Một năm sau khi chúng tôi cưới nhau, có một hôm cả nhà đang ngồi nói chuyện vui vẻ, mẹ tôi mới mang chuyện tôi khóc khi xưa ra mà hỏi lý do tại sao. Tôi cười cười trả lời: "Con cũng chẳng biết tại sao nữa. Chỉ biết rằng tự nhiên lúc đó nước mắt con chảy ra, con muốn ngăn thế nào thì ngăn, nó vẫn cứ chảy".
Thêm một lần tôi đã nói dối mẹ. Tôi khóc không phải vì tự nhiên mà khóc, nhưng mà vi tôi đã thấy rõ tất cả những vết nhăn trên mặt mẹ tôi. "Mẹ ơi, mẹ đã già quá rồi. Con sẽ còn được nhìn thấy mặt mẹ bao lâu nữa đây, mẹ ơ ".
"Mẹ ơi, ngày mẹ không còn ở bên con nữa, con sẽ khổ lắm mẹ ơi".
Hoà Trần
(Viết vội vài dòng cho mẹ, nhân ngày Mother's Day năm 1997)
Chạy Truồng
1.
Khương là một chàng trai nước Việt, thích quậy. Ở thành phố Oklahoma, ai mà không biết danh tiếng của gã. Nhiều người chưa gặp mặt gã bao giờ, nhưng nghe nhắc đến nhân vật nổi tiếng phá phách nhất thành phố, thì họ liên hệ đến ngay cái tên Nguyễn Anh Khương. Ðến nỗi, khi tòa nhà liên bang của chính phủ bị bom phá sập, có đứa còn dám khả nghi Khương là tòng phạm, là tên John Doe mà cơ quan tình báo liên bang Hoa Kỳ đang truy nả.
Từ ngày chuyển về trường đại học Mississippi; một trường đại học miền Nam thuộc loại bảo thủ, Khương tự nhiên phải tu thân tích đức, một cách bất đắc dĩ. Gần một năm trời thanh bình trôi qua, Khương đã ngán đến cỗ. Gã nghĩ thầm, cứ như cái đà này kéo dài mãi, có lẽ gã sẽ trở thành thầy tu mất. Nhưng rồi, Khương gặp Trạng, như đám lửa sắp bị lụi tàn nay gặp dầu hỏa, chuẩn bị bùng cháy.
- Không quậy thì thôi, đã quậy phải quậy cho tới bến, phải để lại một kỷ niệm nhớ đời, bác ạ!
Khương nói xong, đặt lon bia lên bàn, vớ gói thuốc Marlboro, vỗ ra một điếu.
- Ý kiến thì tớ có cả tỉ ý kiến, chỉ sợ ông không dám làm - Trạng nói.
- Ðâu bác thử nói nghe xem. Có gì mà không dám.
Trạng nhìn thẳng vào mắt Khương, dò hỏi:
- Thế ông có nghe qua chữ "streaking" bao giờ chưa?
- Có sao không, là chạy truồng chứ gì. Mà tại sao bác lại hỏi tôi câu đó, hay lặ hì hì... giỡn hoài bác... quậy kiểu đó có nước "ủ tờ"!
- Tại vì ông nói tôi cung cấp cho ý kiến. Nhát cáy vậy mà cũng bày đặt đòi quậy.
Khương ngửa cỗ, phun khói thuốc lên trần nhấ Gã suy nghĩ mông lung về đề nghị của thằng bạn. Cái trò "streaking" thì gã còn lại gì, hồi ở trong trường trung học, thi thoảng gã vẫn thấy mấy thằng Mỹ đội mũ an toàn che kín mặt, trần truồng như nhộng chạy nhông nhông trong trường vào những giờ ăn trưa đông người. Mấy nhân viên giữ trật tự trong trường chưa kịp trở tay thì mấy thằng này đã leo lên xe bạn nó đang chờ sẵn, phóng đi mất dạng. Mới đây, xem giải quần vợt Wimbedon, gã cũng thấy có một em da trắng chạy băng qua sân cỏ ngay lúc hai cầu thủ đang tranh hùng. Nhân viên an ninh vội lấy khăn lông chùm kín người con gái nhà nghèo không mảnh vải che thân này. Cầu thủ da đen Malevi Washington của Mỹ đang dẫn đầu, nhưng sau khi vụ "streaking" xảy ra anh chàng bị mất tập trung rõ ràng và kết quả là chàng đã thua te tua. Khương tự hỏi không biết ở truồng chạy vòng vòng giữa chốn ba quân sẽ mang lại cái cảm giác mạnh đến như thế nào?
2.
Bước xuống xe, Khương quay qua dặn tới dặn lui:
- Nhớ ở bãi đậu xe, đằng sau Allen Hall, trong vòng 5 phút nữa nghe bác.
Trạng gật đầu:
- Yên chí lớn. Tụi này sẽ có mặt ở đó trong vòng 3 phút, chờ sẵn.
Ngoài Trạng là tài xế ra, trong xe còn có lúc nhúc một đám sinh viên Việt Nam, cả bọn khúc khích cười. Lát nữa đây, chỉ trong vòng vài phút nữa thôi là màn kịch chạy truồng sẽ diễn ra, mà người thủ vai chính là Nguyễn Anh Khương.
Ðợi cho chiếc xe mất dạng Khương mới bắt đầu trùm chiếc mặt nạ đi tuyết qua đầu, rồi từ từ trút bỏ tấm khăn lông duy nhất đang quấn quanh thân thể Chữ Ðồng Tử của gã. Xiêm y thì gã đã lột sạch hồi nãy và giao lại cho tụi bạn. Cái cảm giác hồi hộp mà gã mong đợi bắt đầu xâm chiếm, làm cơ thể gã run lên bần bật từng cơn. Gai ốc bắt đầu mọc lên cùng mình. Khương tự hỏi không biết vì lạnh hay vì s Một cảm xúc lạ chợt len lén vào hồn của gã, gợi lại cho gã những kỷ niệm xa xưa, trong những buổi chiều mưa tầm tả trên quê hương.
Khương đứng đó một hồi để tận hưởng cái cảm giác mát rượi, không còn gì vướng víu trên mình. Gã cơ hồ được thoát tục, trở về với tổ tông, của thời đại nguyên thủy ăn lông ở lỗ. Mấy ngày hôm nay, chỉ mới nghĩ đến tờ báo trường đăng tin giật gân về một gã Á Ðông lõa lồ chạy nhông trong trường làm gã khoái tỉ. Gã không sợ bị lộ diện, vì sinh viên Châu Á trong trường này có đến mấy trăm thằng, mà một khi che mặt đi, thì phần còn lại đứa nào cũng giống đứa nào, có khác nhau là vấn đề kích thước mà thôi. Gã ước lượng chạy nước rút một vòng khuôn viên trường cũng mất chừng 5 phút. Nguyên tuần lễ qua gã đã chạy thử rồi. Gã đoán chắc có lẽ giờ này mấy tên bạn đang ngóng chờ gã ở Allen Hall.
Khương vất tấm khăn choàng vô trong bụi cỏ gần đó, và bắt đầu phi nước kiệu. Gã cắm đầu, cắm cổ mà chạy. Người xem dọc hai bên đường la hét ầm ĩ. Có tiếng reo hò cổ võ của đám nam sinh viên, còn đám nữ sinh viên thì la hét kinh hoàng trong khi ánh mắt vẫn dán chặt lên phần hạ thể của gã. Khương cảm thấy tâm hồn phơi phới xuân thì. "Ðã thiệt!" Gã nghĩ thầm, "mát mẻ dễ chịu vô cùng. Chỉ có một cục thịt thừa ở dưới không thôi, tại sao không cho nó hưởng không khí trong lành. Tại sao người ta bận tâm gò bó trong những mảnh vải chi cho mất tự do?" Gã tiếp tục vắt giò lên cổ mà chạy, mồ hôi vã ra như tắm. Ðột nhiên có tiếng còi hụ của xe cảnh sát từ xa vọng tới, làm Khương hoảng hồn, mắt gã hoa lên, đầu óc bấn loạn và chạy lạc hướng.
3.
Từ bãi đậu xe đằng sau Allen Hall, Trạng và nhóm bạn thấp thỏm trong xe như ngồi trên lò lửa. Tiếng xe cảnh sát ngày càng gần mà không thấy bóng dáng Khương đâu. Mấy tên bạn yêu cầu Trạng đề máy chạy trước. Trạng nghĩ thầm sống chết có nhau, bây giờ gã mà bỏ rơi thằng bạn không mảnh vải che thân là coi như tình bạn sứt mẻ từ đây, nếu không muốn nói là có đổ máu. Gã quay qua trấn an đám bạn:
- Chờ thêm tí nữa xem, chắc nó "depart" trễ!
- ÐM, không thể chờ thêm được nữa, bị bắt hết cả lũ bây giờ. Mày có ngon thì ở lại đó mà chờ, tụi tao dông trước.
Thằng bạn vừa nói vừa mở cửa, định nhảy ra ngoài. Trạng cản nó lại:
- Ðừng!
Và gã nghiến răng, vặn ổ khóa, chầm chậm lái xe rời khỏi bãi đậu, chỉ kịp thấy mấy chiếc xe cảnh sát đang ngược chiều phóng tới.
4.
Khương chạy sắp đến bãi đậu thì thấy chiếc xe hơi của Trạng. Nhưng ô kìa, không phải nó chạy đến đón gã mà lại chạy lui ra ngoài đường cái và biến mất. Gã dừng lại thở, tưởng mình đang nằm chiêm bao. Gã đang trong một trạng thái tiến thoái lưỡng nan, cực kỳ hoang mang, rối bờị Tiếng còi hụ inh ỏi của xe cảnh sát lớn dần, những ánh đèn xanh đỏ chớp tắt liên hồi càng lúc càng rõ nét.
Bùi Thanh Liêm
Tháng 5, 1997