vhnt, số 270
11 February 1997
Trong số này:
Thư vhnt..................................................................BBT
T h ơ :
1 - Chùm Thơ Lục Bát............................................Ian Bùi
2 - Ðêm Trăng Tắm Sông Cầu Ðỏ......................... Bắc Phong
3 - Ý Thu..........................................Nguyễn Xuân Thưởng
4 - Chùm Thơ Lục Bát............................................Cao Văn
5 - Chùm Thơ Lục Bát (Trích Ðộng Hoa Vàng).........Phạm Thiên Thư
6 - Ðọc Lại "Mưa Nguồn"...................................Thận Nhiên
7 - Giấu.......................................................Sương Mai
8 - Biển và Mưa................................................Bặt Âm
9 - Chùm Thơ Lục Bát.......................................Phạm Chi Lan
D i ễ n Ð à n V ă n H ọ c :
10 - Văn Chương...............................................Võ Phiến
Ð i ể m P h i m / Ð i ể m S á c h :
11 - Ðiểm Sách: Sách Mới Trong Tháng.............................PN
T r u y ện N g ắn / S án g T ác :
12 - Ðêm Sao Mùa Hạ...................................Trần Hoài Thư
Gởi bạn đọc vhnt thân mến:
VHNT cố gắng sưu tầm, sáng tác, và giới thiệu đến bạn đọc các thể loại thơ khác nhau trong mỗi số. Trong số này, như một món quà Xuân, phần Thơ là những bài thơ lục bát.
Lục Bát được coi là một thể thơ mang đậm hồn dân tộc Việt. Từ những lời ru ơi hời xa xưa, cho đến những bài thơ Lục Bát mang màu sắc thật mới mẻ hiện đại. Dù sao đi nữa, cái gien di truyền "vần lưng" vẫn uyển chuyển tồn tại từ thế hệ văn chương này đến thế hệ văn chương khác. Cái nét mềm mại của Lục Bát đi từ ca dao một cách vô cùng bình dị để rồi vượt lên trên các thể loại hàn lâm khác đọng lại ở một Truyện Kiều rực rỡ đăng quang. Ngày nay, các nhà thơ, đến với Lục Bát bằng một sự tự nhiên rất trân trọng. Số phận của Lục Bát không dừng lại ở một Truyện Kiều của Nguyễn Du, mà Lục Bát đã sống nhún nhường, bớt đi một chút, thêm vào một chút, cho bao nhiêu cũng nhận đủ (hình, nhạc), thiếu bao nhiêu cũng lấp đầy... Ðó phải chăng là cái sức mạnh tồn tại để làm "thuyền chở trăng" của các nhà thơ và bạn yêu thơ?
Xin tri ân những người làm thơ với những vần điệu lục bát mới có cũ có; những bài thơ của đời thường, giản dị như cơm ăn áo mặc; mà sự rung động ở mức "Ngoại kỳ thân nhi thân tồn." (Gác thân ra ngoài, thân hãy còn)
Chúc các bạn một ngày vui,
Thân ái,
Sung Nguyễn/vhnt
Lưu Diễn
Nhờ trời người cũng đôi lê
Cũng là cam kết không huề cuộc chơi
Rồi thì vẽ mắt tô môi
Gánh, xe nào cưỡi nào lôi một đoàn
Mặt rừng lưng núi ngực hang
Khóc bao nhiêu khối tình oan những là
Thiên thu chớp mắt vượt qua
Thiên nhiên bỏ lại trần da áo tuồng.
(7'94)
Mưa Trên Phố Tràng Thi
Bằng lăng tím một góc đường
Người phu quét rác dựa tường đợi mưa
Bạn hàng ngồi xổm ăn trưa
Nhìn con đại lộ người thưa, ngán ngầm
(5'94)
Hương Bạch Ðàn
Chém này thân ngọc tím da
Máu tươm như mủ thịt và như cơm
Nuốt này lưỡi sắt lòng son
Dạ đau, tim cắt, mật ngon tay rìu
(1'94)
Khóc Kẻ Sĩ
Nhỉn nhằn những nhủ nhùn nhe
Bủn beo teo héo khò khe tịch tằng
Chủn cừng gủi góng rẹo rằng
Bảnh bưng dị hợm phùi văng mặt mày!
('90)
Một Bài Thơ
Mỗi ngày em sẽ viết
cho anh một bài thơ
cho anh đọc để biết
những ngày dài trong em...
Buổi trưa nắng đổ chang chang
ve kêu từng đợt trên hàng lá cao
lá cao che thấp trời xa
xa xa có tiếng kèn xe dục chiều
gió đưa từng chập liu thiu
lâu lâu chó sủa, chim kêu... nhớ nhà --
Nhà em có bụi ngọc lan
giữa sân có giếng dưới tàng xoài xanh
đêm đêm hoa nở hơi sương
mẹ ngồi kể chuyện tha phương thuở nào
sao trời sao thật là sao
em ôm hơi mẹ chiêm bao lên trời
trong đêm em thấy mẹ cười
đôi môi lưu lạc sáng ngời ánh trăng --
('86)
ianb
Ðêm Trăng Tắm Sông Cầu Ðỏ
Có mười mấy đứa trần truồng
tắm sông cầu Ðỏ dưới luồng sáng trăng
Ta nằm duỗi chỗ đất bằng
nghe buồn thân phận những thằng tù nhân
Mấy năm cải tạo tinh thần
thấy mình vẫn cũ từ chân lên đầu
Nhục nhằn đỏ hố mắt sâu
Xót xa thương mẹ lo âu ngóng chờ
Sau ngày lau động xác xơ
Bên giòng cầu đỏ thẫn thờ về ngang
Trong đêm trăng lạnh hoang mang
Gội xong đất cát da vàng như nhau
Trầm mình trong nỗi đớn đau
Nước sông biết có đổi màu phù sa
Nhìn quanh một bọn giống ta
Trần truồng mới nhận ra là Việt Nam
Bắc Phong
(trích Chính Ca)
Ý Thu
sáng nay ra cửa dạo chơi
gió se sắt lạnh lá rơi rụng vàng
thì ra thu đã về ngang
gửi theo lá đổ muôn vàn yêu thương
Nguyễn Xuân Thưởng
Trên Freeway 101
Biển xô con sóng vô bờ
Mùa xuân viễn xứ xé tờ lịch đau
Quê cha giấc ngủ lo âu
Quê người thức với nỗi sầu biệt ly
Khi Ở Bệnh Xá California
Lạy ông khoa bảng thời trang
Nỗi đau âm lịch xếp hàng quanh năm
Giữ dùm tôi một chỗ nằm
Chờ tôi ra chợ đi cầm tấm thân
Khi Về N. Hollywood
Cỏ non mọc lén sương mù
Mặt trăng rụng xuống mắt Thu đỏ ngời
Cõi ngoài mấy giọt mưa rơi
Cõi trong tĩnh mịch như đời dã man
Khi Về Orange County
Cổng trường sư phạm chia hai
Máu cao nguyên chảy ướt hài cốt cha
Ngày xưa chung lượng hải hà
Ngày nay nhật nguyệt đã là riêng tư
Cao Văn
Thơ lục bát của Phạm Thiên Thư
(trích Ðộng Hoa Vàng)
3.
dế buồn dỗ giấc mù sa
âm nao lãng đãng tơ ngà sương bay
người về sao nở trên tay
với hài đẫm nguyệt thêm dài gót mơ
27.
thuyền ai buông lái đêm rằm
sông thu ngân thoảng chuông trăng rì rào
cửa sương nhẹ mở âm vào
tay nghiêng bầu nậm rượu đào trầm ca
76.
tình cờ như núi gặp mây
như sương đậu cánh hoa gầy tiêu dao
tỉnh ra thì giấc chiêm bao
chuyện mười năm cũ lại nao nao lòng
96.
gối tay nệm cỏ nằm say
gõ vào đá tụng một vài biến kinh
mai sau trời đất thái bình
về lưng núi phượng một mình cuồng ca
Ðọc Lại Mưa Nguồn
Mắt
Lỡ xưa xuống núi với người
ăn thua phố chợ ngậm ngùi buông nhau
đã đành xanh ngát bể dâu
một con mắt khóc đủ sầu rã riêng
Ngó
Mai ngày manh chiếu mái hiên
bát cơm quả trứng quan tiền đò đưa
Ngó chân ngón thiếu ngón thừa
còn bao nhiêu bước - duỗi - vừa cuộc đi
Lạc
Mốt sau rụng hạt xuân thì
áo trăm mảnh mộng còn ghi cuối dòng
Gió cuồng lạc phố đào bông
lạc em dê bé cưới chồng dê non
Nguồn
Lỡ xưa kinh chép lời còn
trên đôi cánh mỏng màu son chuồn chuồn
thôi thì chào núi mưa tuôn
lạy cồn rêu phủ lạnh buồn ngày đông
Thôi thì vuốt mặt giữa đồng
cũng đành cuối dấu mưa sông là nguồn
Thận Nhiên
Giấu
Giấu người ta giấu trong tim
Sợ mai sau lỡ ai tìm thấy sao?
Giấu người trong giấc chiêm bao
Mê man giấc ngủ sợ gào trong mơ
Giấu người ta giấu trong thơ
Mà câu lục bát chực chờ tuôn ra
Giấu người trong nỗi xót xa
Sợ nhân gian biết, người ta thầm thì
Giấu người theo cánh chim di
Ðể mai mốt nọ, chim đi lại về
Giấu người trong nỗi u mê
Bỗng nghe thảng thốt, bốn bề gọi ai?
Giấu người trong giấc mộng dài
Sợ khi tỉnh giấc tình bay, mộng tàn.
Sương Mai
11/7/96
BIỂN VÀ MƯA
1/ Biển
Biển xanh
nắng ấm
gợi tình
Tóc đen
tóc đỏ
xập xình
rumba
Mảnh bikini
ướt trong da
Lời thơ
bỗng chốc
ngà ngà hơi men
2/ Mưa
Hơi mưa giăng kín mặt đường
Lái xe trong nỗi chán chường chiều nay
Tìm em lạc bước cỏ cây
Cát bay mặt lộ nghe gầy vai tôi
Mưa! Mưa! Giọt lạnh xuống đời
Rờ tim chợt thấy một trời quạnh hiu.
Bặt Âm
(02/02/1997)
Nhớ
Nhớ hay không nhớ một người?
Nhớ ra cũng đã một thời
nhớ nhau
Biết còn nhớ đến mai sau?
Nhớ nhau thoang thoảng
đượm màu khói hương
Trung Thu
Mời em lên núi hái trăng
Làm quà lễ cưới
chị Hằng
thu sang
Ðêm thu chín rụng rơi vàng
Kìa em lệ đổ tuôn hàng,
lá rơi...
Lá rơi bên cửa thì thào
Tiếng chim thảng thốt,
chìm vào hư không
Mông lung tựa bóng trời trong
Ôm vầng trăng lạnh, ôm lòng lẻ loi
Phạm Chi Lan
1988
Văn Chương - Võ Phiến
Trích Văn Học xuân Ðinh Sửu số 129&130 tháng 1 & 2, 1997
Một hôm, xế trưa, nằm đọc tờ nhật báo. Nhà vắng vẻ, tôi ngủ quên lúc nào không hay. Thình lình, nghe phát lên tiếng kêu chát tai. Tôi giật mình, ngồi bật dậy, thảng thốt. Có thể vì mấy cái tin tức trộm cướp giết người, băng đảng bạo động, vừa đọc trên báo ám ảnh, tôi nghĩ ngay đến súng đạn giết chóc. Cái tiếng chát chúa đập vào tai người ngủ vừa rồi y hệt tiếng súng nổ, còn gì nữa? Tôi hít hít: không thấy mùi thuốc súng. Lẫ Nổ sát kề tai mấ Cũng không nghe thấy có tiếng chân chạy. Hung thủ còn núp đâu đây chăng? Tôi nép sát vách, rón rén... Phát súng vừa rồi, hụt. Một phát nữa thì tôi chết. Rất có thể. Bất giác tôi nhìn ra cửa. Nắng xế nằm im trên quá nửa mặt vườn sau. Một vạt vàng khế Dưới mái hiên, một chiếc bàn, hai chiếc ghế cũ, tróc sơn trầy trụa, thấp chũn. Trên bãi cỏ, sợi dây nhựa tưới nước quên cuốn lại, nằm xế ngang, ngòng ngoèo... Ðấy, trong buổi xế trưa, nếu chết, tôi sẽ nằm chết giữa khung cảnh như thế. Tự dưng, tôi bỗng chán nản, tuyệt vọng đến cùng cực. Sững sờ trước quang cảnh nơi mình nằm chết: xoàng quá sức xoàng. Màu nắng vàng, sợi dây nhựa ngoằn ngoèo... Cái xoàng xĩnh, quen thuộc, gần gũi, làm tiêu tan hết mọi hoa hòe của cuộc sống, và của... cái chết. Không biết bình sinh trong thâm tâm tôi chờ đợi một cái chết như thế nào; nhưng lúc này, đối diện cái chết hôm ấy tôi hoàn toàn thất vọng. Từ con giun con dế, liên tưởng đến chuyện con rồng con phượng, con hùm con hổ. Từ chuyện mình, cao hứng nhảy sang chuyện ông Lã Bố xem sao. Lã Bố thì nhất thế gian bấy giờ rồi, còn nói gì nữa. Một mình chàng đánh một loạt ba anh em Lưu Quang Trương xính vính, trai hùng cặp với kiều nữ Ðiêu Thuyền, lác mắt cả thiên hẫ Lã Bố chết ngay giữa tuổi thanh xuân, sinh lực tràn trề. Từ sáng đến trưa vác kích đánh nhầu một trận đuổi quân Tào Tháo chạy dài. Trở vào thành, vất kích nằm nghỉ. Rồi thiếp mắt, đánh luôn một giấc li bì. Một mình ở chỗ vắng, trời ngả xế trưa. Hai tên thủ hạ phản phúc trông thấy, rủ nhau đè xuống, lấy dây chão trói chặc, trao cho Tào Tháo chặt đầu. Xem truyện, chẳng bao lâu tôi quên đi đoạn sau. Nhưng cái chi tiết lúc Lã Bố bị đè trói cứ ám ảnh mãi. Tôi vẽ ra trong trí một cảnh tượng. Tôi nghe tiếng người anh hùng dãy dụa lạch bạch, thở phì phò, cựa quậy ì à ì ạch... Nắng xế trên bờ thành. Con mèo con chó tha thẩn; chiếc lá khô, chiếc giày rách, cái rác cái rưởi rải rác dọc chân thành... Khung cảnh tầm thường, quen thuộc, làm cho cái chết bỗng dưng hiện ra ngao ngán quá chừng. Hôm nọ, tôi nhìn ra vườn sau ngẫm nghĩ về cái chết của mình một lúc, rồi buồn bã quay vào. Và thấy ngay lý do tiếng động chát chúa: Một tấm sơn mài rớt từ vách xuống nền gạch, mặt ván khô đập mạnh vào mặt gạch rắn. Tôi không thể chết vì cái đập ấy, dĩ nhiên. Nhưng giá tôi chết đi, một chú em, hay cô em, hay một vài đứa cháu ở bên nhà, những kẻ tốt số được trời cho chút khiếu văn chương, có thể viết thư thông báo cho nhau cái tin buồn: Anh ấy, hay cậu ấy, qua đời hoặc ở đất khách quê người, hoặc ở chân trời góc bể, hoặc nghìn trùng xa cách, hoặc muôn dặm quan san... Lúc bấy giờ người đọc thư chắc chắn sẽ có một cảm tưởng về cái chết khác hẳn cảm tưởng của tôi lúc đối diện. Cái chết của ông Lã Bố rủi ra gặp phải cái nhìn phàm phu thô lỗ của tôi. Nhân vật Từ Hải may mắn được sự đãi ngộ quí hóa của cụ Nguyễn Du. Từ Hải chẳng qua là giặc cỏ, tài sức sao bằng Lã Bố. Từ cũng có tính nghe lời vợ như Lã Bố. Cũng bị vợ xúi dại như Lã Bố. Rốt cuộc cũng chết lảng nhách như Lã Bố. Vậy mà nhờ cụ Nguyễn Du, Từ Hải chết trong khung cảnh khác hẳn: "Tử sinh liều giữa trận tiền, Dạn dầy cho biết gan liền tướng quân! Khí thiêng khi đã về thần, Nhơn nhơn còn đứng chôn chân giữa vòng! Trơ như đá, vững như đồng Ai lay chẳng chuyển ai rung chẳng dời." Ð(c)p đa! Oai đa! Từ Hải chết trong câu thơ, chết ở chổ đáng chết quá chừng. Từ cái chết nói qua cái yêu. Trong cuốn Nền móng của Nguyễn Mạnh Tuấn có một câu chuyện tình. Tuấn với Tuyền yêu nhau từ thuở học trố Tình yêu trong sạch hoàn toàn. Chưa đến đâu thì họ xa nhau. Tình yêu như thế, xa cách tức tưởi như thế, thì quên nhau sao được! - xa, trong cùng cực lao khổ, Tuấn nghe tin Tuyền lấy chồng. Tuấn quyết lánh hẳn khỏi đời Tuyền. Tuấn đang bị đày đọa trong kiếp thợ máy khoan hố ở mãi tận rừng núi Quảng Ninh. Một hôm, Tuyền tìm đến. Tan buổi làm về, lúc bất ngờ đối diện Tuyền, tác giả ghi lại: "tôi tưởng chết đứng được ngay tại chỗ. Ngồi trên tấm phản ván thô, gọi là giường của tôi, chính là Tuyền." (trang 286). Thì Tuyền chứ sao. Nhưng trong tường hợp này, cô gái đó là thần, là quái, là mặt trời, lặ cái gì có thể làm người ta chết đứng. Tuấn ra suối tắm rửa, thay bộ quần áo hôi nồng rách rưới. Tuyền ngồi chờ. Ngoài suối, Mô, một anh thợ trẻ đang tắm trần truồng. Vừa kỳ cọ, anh ta vừa cười hềnh hệch, hỏi Tuấn: (...) "Con đi cùng là đứa nào thơm thịt thễ" (trang 270) Trên đây, tôi lỡ viết mấy chữ "yêu nhau", và "tình yêu trong sạch hoàn toàn". Viết thế, ẹ quá. Cho đến ngày hai bên xa nhau, tức sáu năm trước cuộc tái ngộ, ngay chính Tuấn đã bảo: "Tôi đã rất vất vả tránh gọi thẳng tên sự thinh thích vô hình vô dạng của mình với Tuyền." (trang 68). Mới chỉ là một sự thinh thích chưa có tên. Trong sự cảm xúc như thế, làm gì đã có tí "thịt" nào mà bảo thơm với chẳng thơm? Vả lại dù cho đã có tình, có đến tình yêu đi nữa, thì phải đâu là nhất thiết phải liên hệ với thịt? Cách sự thinh thích vô hình vô dạng hai trăm trang sách, bất thình lình nghe câu "thơm thịt", tôi sững sờ, nghe tan tác một cái gì. Trong sách, ngay tại chỗ ấy cũng có mấy chữ: "Tình trạng sụp đổ nền móng tinh
thần"... Ðại khái, sự tình là thế. Ðối với cô Tuyền, cái tình cảm mà cậu Tuấn nói ra nó tế nhị, hay ho, nghe thật "thích"; còn cảm tưởng của anh thợ Mô tầm bậy quâ Ðối với cái chết của tôi, đám em và cháu viết ra thấy ngậm ngùi man mác, mà tôi trông "tận mắt" thật nản, chẳng ra làm sao. Mô và tôi vô cùng vô phúc. Kẻ thấy thịt, người nghe tiếng dãy dụa ình ịch, thở phì phò, thấy nắng chiều trên sợi dây nhựa ngòng ngoèo trên cổ... Chúng tôi đối diện với cái yêu cùng cái chết trong tư cách giản đơn của một sinh vật. Con người là một sinh vật, nhưng ít khi chịu chết trong tư cách sinh vật. Trong thơ, trong truyện, và ngay cả ngoài đời, khó bắt gặp cái yêu cái chết sống sượng, trần truồng, không ý nghĩa. Này là một hiền thê qua đời, một đấng sinh thành khuất núi, nọ là những trượng phu tuẫn tiết, những chiến sĩ hy sinh, những tu sĩ liễu đạo, minh quân băng hà, những ông cụ bà cụ qui tiên... Trượng phu, hào kiệt, từ mẫu, hiền thê..., ai nấy đều chết trong tư cách của mình. Và gian thần, tặc tử, du côn, trộm cướp... cũng chết trong tư cách riêng của họ, có thể nhục nhã, thê thảm, nhưng không xoàng xĩnh. Có vậy Từ Hải mới chết mà vẫn đứng trơ trơ, Quan Công bị giết rồi mà vật Lã Mông hộc máu chết tươi ngay trước mặt Tôn Quyền, các dâm thần vẫn còn chờ dịp hãm hại được phụ nữ. Con người là một sinh vật, cũng ít khi yêu trong tư cách sinh vật. Cậu Tuấn ở cái tuổi học trò trong trắng không nhận ra nổi cái thinh thích của mình là thứ tình cảm gì. Cô Tuyền với tất cả cái già dặn từng trải sáu năm sau vẫn lấy làm nghĩ ngợi: "Em với anh gọi là yêu nhau cũng không đúng. "- anh có cái gì đó cứ bắt em phải quan tâm." (trang 271). Rõ ràng là rắc rối, tế nhị quá trời. Trong các tiếng tuẫn tiết, băng hà, qui tiên v.v... không có âm vang những ằng ặc, ì ạch, phì phò... Trong các chữ ái tình, tình nhân, không có hình ảnh sỗ sàng; ý trung nhân, người ấy có thơm thịt không, ai mà biết! Mỗi ngôn từ bắt nguồn từ một quan niệm, một niềm tin, một lý tưởng. Cái chết trong thực tại dính vào nhũng hình ảnh, những tiếng động xấu xí thô bạo, như máu me dính đất dính bụi. Cái chết mà đưa vào một ngôn từ thích hợp (với niềm tin, với lý tưởng), nó như vật thể được đặt lên con thoi không gian, phóng lên từng không, thoát khỏi bụi trần. Cái yêu cũng thế. Cái giết chóc, cái thù hận, cái nhớ nhung v.v..., cũng thế thôi. Mỗi thực tại chuyển vào ngôn từ hóa năm hóa mười. Chuyển vào bài thơ, vào cuốn truyện, lại hóa thành trăm muôn dạng vẻ khác nhau. Thay vì một cái chết sinh vật trong thực tại, ta có cả nghìn cái chết trong ngôn từ, trong các thể loại nghệ phẩm.
Nghĩ đến các dân tộc nói một ngôn ngữ nghèo nàn, thô sơ. Cái chết, cái yêu, cái giận, cái thù của họ nghèo hẳn. Nghĩ đến muôn loài sinh vật không lời nói: chúng chỉ có một cách chết, một cách yêu. Nghĩ mà thương. Có ngôn từ sướng thay. Có văn chương, sướng thay.
Sách báo trong tháng
CANH THỨC CÙNG THƠ MỘNG, VŨ QUỲNH HƯƠNG, LÊ THỊ HUỆ, TRÂN SA.
Thơ. LŨY TRE XANH xuất bản. Sách dày 150 trang. Ðề giá 10MK. "Thơ tuyển của ba người viết nữ, sinh hoạt trong cả hai lĩnh vực thơ và văn xuôi. Ba phong thái với bút pháp riêng hội tụ về sự làm mới đẹp cho ngôn ngữ Thơ. Những thao thức suy nghiệm và rung cảm sâu lắng về Con Người-Tình Yêu-Cuộc Sống của ba người đàn bà lớn lên qua hai bờ đại dương cận cuối thế kỷ hai mươi. 150 trang, 60 bài thơ. Phụ bản tranh acrylic và màu nước của Trân Sa." Trích bìa lưng của tác phẩm. Nhà thơ Ngu Yên và Phạm Việt Cường đã ă chức ra mắt sách với sự có mặt của ba tác giả tại Houston, Texas hôm thứ Bảy 29 tháng Mười Hai, 1996 vừa qua. Ðịa chỉ liên lạc nhà xuất bản Lũy Tre Xanh.
EM ƠI BIẾT ÐÂU TÌM, KIỆT TẤN, Tập truyện, AN TIÊM xuất bản.
Sách dày 270 trang. Ðề giá: 12MK. "... Kiệt Tấn sống hết mình và viết hết mình. Khi sự chân thành đã đến độ giống như tự khỏa thân trước cuộc đời, thì cái Tâm Thành đó cộng với Tài Ba phải thành Nghệ Thuật..." [Nguyễn Mộng Giác]. Ðịa chỉ liên lạc: Nhà xuất bản An Tiêm.
NGƯỜI ÐÀN BÀ SAU TẤM QUẢNG CÁO, HOÀNG THỊ BÍCH TY, VĂN MỚI xuất bản.
Sách dày 142 trang. Không ghi giâ Trong lời Tựa, tác giả cho biết "Tập truyện ngắn Người Ðàn Bà Sau Tấm Quảng Cáo gồm những mẫu chuyện rời rạc trong đời sống, những truân chuyên, những va chạm giữa vật chất và tinh thần mà mỗi con người phải trãi qua, trong bất cứ xã hội nào, mới hay cũ, Ðông hay Tây." Thư từ liên lạc nhà xuất bản Văn Mới.
VỀ BẮC, LẬP PHƯƠNG. Tuyển tập truyện ngắn. Mõ Thủ Ðô xuất bản.
Sách dày 274 trang. Ðề giá 10MK. "... Người đọc sẽ nghe vang vọng đâu đây tiếng cười thống khoái, trong trẻo và tươi mát như nước giếng của tuổi trẻ qua truyện "Chí Phào"..." Nhà xuất bản Mõ Thủ Ðô
TÙ BINH VÀ HÒA BÌNH, PHAN NHẬT NAM. Bi ký hòa bình. Ðại Nam tái bản.
Sách dày 356 trang. Ðề giá 13MK. "Trí thức... Khốn khổ thay trí thức! Ðây là người giúp ta đứng vững trong thế giới, bảo vệ quyền không bị khất phục. Nhưng chính là kẻ bị trấn áp bởi tất cả mọi người." Francois Mauriac. L. O. Express.9.2.1961. [Trích bìa lưng]. Không thấy ghi địa chỉ liên lạc.
ÐỊA CHỈ CỦA MỘT NGƯỜI, LÊ BI. Thơ. Tân Thư xuất bản.
Sách dày 224 trang. Ðề giá 15MK. Lê Bi tên thật là Hoàng Chính Nghĩa đã cho in Ngẩng Mặt Nhìn Trăng Sáng tùy bút, in chung với Hoàng Khởi Phong, 1977. Ngoài ra ông còn cho in Thi Ca Việt Nam 1975-77; Quê Hương Và Lưu Ðày, 1977; Thơ Tình Cùng Trời Ðất, 1978; Thơ Trích, 1990. Nhà xuất bản Tân Thư.
NGUYỄN DU ÐẠI THI HÀO DÂN TỘC, PHẠM CÔNG THIỆN. Viện Triết lý Việt Nam và Triết học Thế giới xuất bản.
Sách dày 450 trang. Ðề giá 18 MK. "Quyển sách này là một trong vàiba bước đi cần thiết để phục hồi lại khả tính vô tận của tiếng nói Việt Nam và của nền tảng bí ẩn siêu việt trong Tư Tưởng Triết Lý và Ðạo Lý Dân Tộc." [Trích lời tựa của tác giả] Ðịa chỉ của nhà xuất bản.
NGƯỜI CHỊ, TRẦN LONG HỒ. Minh Văn xuất bản. Truyện ngắn.
Sách dày 182 trang. Ðề giá: 11MK. Trần Long Hồ tên thật là Trần Trúc Quang, nguyên chủ tịch Văn bút Miền Ðông. Bác sĩ y khoa. Hiện hành nghề tại Falls Church, Virginia. Người Chị là tác phẩm thứ bảy trong 8 tác phẩm đã in của Trần Long Hồ. Ðịa chỉ liên lạc.
Nguyễn An Ðông
Trích tạp chí Văn bộ mới số 2 tháng 2 năm 1997
Ðêm Sao Mùa Hạ
Cuối cùng, tôi đã tìm được một chỗ lưu thân trong năm thứ hai đại học. Ðó là căn phòng của trụ sở tổng hội sinh viên Sàigòn, nằm bên đường Duy Tân, con đường đẹp nhất thành phố. Con đường có hai hàng cây thật cao, lá thật đầy, như che cả mặt trời của Sàigòn. Ở đó, tôi có thể nhìn được ngôi nhà thờ Ðức Bà vươn lên, màu hỏa hoàng, và nghe cả những hồi chuông vọng lại mỗi sáng mỗi chiều.
Căn phòng thật thảm hạị Nó đã bị những người thân chính quyền giận dữ đốt phá sau những lần biểu tình của sinh viên. Những cột kèo bị cháy đen, vách tường ám khói, nền nhà đầy tro, và mái nhà dột nát nhiều mảng. Khi trời mưa lớn, thì nền gạch như biển nước. Khi trời nắng, nền đầy những tia nắng dọi vào, chiếu trên những chiếc ghế chiếc bàn xiêu đổ hay bị cháy xém. Cám ơn hai phe biểu tình. Cám ơn những con tim sùng sục phấn khích, những cặp mắt giận dữ điên cuồng. Cám ơn lựu đạn cay, những ngọn lửa chiến thắng, những chiếc xe bị đốt, những vòng dây kẽm chặn ở đầu đường, cuối đường, để tôi có một nơi tá túc, để tôi kéo dài cuộc sống của một thằng con xứ Huế giữa một Sài Gòn xa lạ và vô tâm. Thà ăn mày ăn mày ăn mày. Ta thấy lòng đau ta ngữa tay. Cũng vì ta cảm thấy lòng ta đau nên ta phải vào quán cơm thí Anh Vũ. Cũng vì ta thấy lòng ta đau nên ta cứ vào quán cơm chay ở đường Phan thanh Giản, bới bát cơm chan xì dầu cả tháng. Không ai hiểu, mà ta cũng chẳng cần ai hiểu, ai thương, ai xót. Ta cắn răng để tiếp tục đùa chơi cùng ngày tuổi trẻ. Phải, thưa ba. Con đang sống giữa Sài Gòn này, bình an lắm, giàu sang hoa lệ lắm, bạn bè nhiều lắm, học hành cũng tấn tới lắm. Tôi đã gởi lá thư về Huế để kể với ba tôi như thế. Phải, tôi chẳng còn bao lâu nữa thì tốt nghiệp kỹ sư, giáo sư, bác sĩ, để mạ ba em phải ân hận, để em phải chặc lưởi tiếc thầm... Cám ơn đời. Cám ơn tất cả.
Cám ơn Dostoievky. Cám ơn người thanh niên trong Tội Ác và Hình Phạt. Xã hội này tầm thường lắm. Cái giường nệm làm tình, hàng rào sắt, những ánh mắt hau háu ăn thịt người, những bộ áo thụng khoác trên những trái tim chó sói... Tôi nghe hồi chuông từ nhà thờ Ðức Bà, mà mắt mờ lệ. Rõ ràng, tôi đã dổ dành tôi, an ủi tôi, nhưng đôi lúc tôi không thể kiềm chế được nỗi mềm yếu trong cõi tận cùng cô độc này.
Tôi vào Sài Gòn như một kẻ trốn chạy. Lý do, ở sau lưng, những con chó sói đang săn đuổi tôi sau một bài viết của tôi trên tờ báo của Sinh Viên. Tôi chống lại vụ đem bàn thờ xuống đường, để rồi kết quả, nhà tôi bị liệng đá và bị vẽ những dấu thập tự trên cổng, trên vách. Lúc này, tôn giáo chính là thuốc nổ, dao găm, dây thòng lọng. Trong khuôn viên ngôi chùa trên dốc Từ Ðàm, vị sư cầm micro tiếp tục thuyết giảng, và đoàn biểu tình tiếp tục ào xuống dốc trong khi những toán cảnh sát dã chiến gầm gừ ở bên kia cầu Bến Ngự. Và trong khi ở Ðà Nẳng, người ta treo cổ bằng những sợi dây thòng lọng bên dòng sông Hàn. Tôi lột đồng phục vàng của sinh viên quyết tử vất đi, và viết. Người ta đã nhân danh tôn giáo, để tạo chính trị. Những tay thiên tả mà tôi được biết nằm trong ban lãnh đạo biểu tình. Sau đó tôi nhận một phong bì và bản án. Tôi đã dấu ba tôi, mượn ít tiền và lên nhà ga. Hôm ấy, con đường Hữu Ngạn bị cấm bằng những vòng dây kẻm gai. Hơi cay nồng của lựu đạn cay vẫn còn ngào ngạt trong không khí. Tôi từ biệt Huế, hay trốn chạy vì Huế. Tôi yêu thương Huế quá đỗi. Nhưng Huế không còn là của tôi, mà của một nhóm người. Cũng như cuộc chiến tranh này. Tôi đã biết. Ðã hiểu. Hể ai làm trái lại, ngược lại ý họ, là lập tức nhận một bản án.
Tôi đã kể tại sao tôi lại vào Sài Gòn, trong khi ở thành phố này quá đổi xa lạ. Không người quen, không bạn hữu. Tôi tìm đến các tạp chí mà tôi đã có bài đăng để may ra họ giúp tôi chút tiền nhuận bút, nhưng không một nơi nào bố thí. Hình như đối với họ, khi đăng bài của tôi, có nghĩa là họ đã ban ân huệ rồi. Tôi nhìn những tờ quảng cáo dày dặc. Thì ra lúc nào con người cũng tham lam, bóc lột nhau, nghĩ đến quyền lợi của mình hơn ai hết... Tôi xin họ cho tôi một vài dòng tìm việc. Họ đồng ý. Ôi, vài dòng so với hàng ngàn dòng từ trái tim của tôi mà họ đã trang trọng đăng trên tạp chí. Thì ra những gì tôi nghĩ vể Sài Gòn, về văn chương chữ nghĩa, về những người mang thiên chức là nhà văn, nhà thơ mà tôi hằng mến mộ và kính nể, là thế. Tôi thấy họ mang cả xấp bản thảo của độc giả làm giấy chùi bát, đũa, miệng trong những lần họ nhậu nhẹt. Tôi nghe họ nói con nhỏ này, con bé kia và cười khoái trí. Phải. Nếu người thanh niên trong Tội Ác và Hình Phạt tởm loài ký sinh của xã hội, thì tôi phải tởm những hạng người này. Bà già cho vay cắt cổ, cay nghiệt, dù sao, bà vẫn không có tội, bởi vì nghề bà ta là vậỵ Còn những kẻ nàỵ Họ che đậy bằng cái áo thụng, bằng cái vỏ. Nhưng bên trong, là lông lá.
Những ngày đầu ở Sài Gòn, tôi lang thang lếch thếch trên các vỉa hè, đôi chân mang đôi dép nhật, tóc tai để dài... Tôi đã làm đủ nghề để kiếm sống. Qua bến xe An Ðông, tôi nhập ngay vào đám phu khuân vác đồ. Ðêm nằm trên mui xe, nhìn lên bầu trời đêm của Sài Gòn, trên những dãy lầu cao, để mà nhớ Huế, nhớ quay quắt. Và đôi lúc không cầm được nỗi chán chường, tôi vét hết tiền, chui vào động giang hồ rẻ tiền gần đấy. Con nhỏ thấy tôi ngượng ngập thì cười lớn: "Cưng ơi, về học bài đi, mai thi hỏng đi lính thì đời tàn đó cưng..." Nhiều đêm không có chỗ ngủ, tôi phải lội bộ về trụ sở Tổng Hội Sinh viên, để qua đêm. Lúc bây giờ, trụ sở mở cửa suốt ngày đêm, và tôi đã lợi dụng những chiếc bàn dài để trống, để làm giường tạm sau khi tất cả các sinh viên rời trụ sở. Và cuối cùng, cũng nhờ những lần ngủ lại đêm như thế tôi mới khám phá, căn phòng bỏ hoang ngay giữa lòng trụ sở. Và như vậy, lần đầu tiên tôi có một mái nhà, dù mái nhà dột nát, dù không có điện nước, dù cửa sổ lúc nào cũng đóng kín mít. Tôi chẳng khác một bóng ma. Tôi nhảy ra cửa sổ. Nhảy vào cửa sổ. Bóng tôi biến mất rồi xuất hiện. Tôi nằm lắng nghe tiếng chuông nhà thờ, và tiếng ve sầu rộn rã cả một bầu trời Duy Tân. Tôi nằm trong bóng tối nhìn những vì sao qua những mảng trời trên mái. Thà ăn mày, ăn mày, ăn mày. Ta thấy lòng đau ta ngữa tay...
Cuối cùng, tôi được một người quen trong những buổi học đêm tại trụ sở giới thiệu một chỗ kèm trẻ. Hắn trao cho tôi địa chỉ. Ngay chiều hôm ấy, tôi đạp xe đến tìm nhà. Tôi không vất vả bao nhiêu vì ngôi nhà là một villa ba tầng, ở bên cạnh một con đại lộ. Tôi hồi hộp bấm chuông. Con chó săn từ bên trong chạy ùa ra cửa sắt, sủa rân và một người đàn bà mập phì. lúp xúp chạy ra, ló đầu qua khe cửa. Tôi hỏi:
- Thưa bà, Có phải nhà này là nhà của bà Cầu?
- Phải, ông hỏi có chuyện gì không?
- Tôi được một người bạn giới thiệu đến đây về chức dạy kèm tư gia. Nhờ bà vào nói với bà chủ.
Bà ta trở vào Còn tôi thì hồi hộp không tả. Ðứng trước ngôi lầu tráng lệ, kín cổng cao tường, tôi hiểu về cái số phận của một kẻ không tiền không bạc.
Nắng vẫn còn chói chang trên đường nhựa. Công viên phía sau vắng người. Những băng đá dưới những vòm lá rậm, và tiếng ve sầu gọi mùa càng náo nức. Lũ con nít cởi truồng đang la hét trên hồ nước. Tôi nhìn đôi giày há mỏm của mình. Tự nhiên tôi nghĩ tôi như một kẻ ăn xin. Tôi muốn bỏ chạy. Nhưng hai chân tôi vẫn đứng trồng trước cửa sắt. Một chốc, bà giúp việc ló đầu ra, và nói:
- Mời cậu vào trong gặp bà chủ.
Tôi dắt xe dạp theo bà giúp việc vào sân. Con chó săn chạy theo, miệng như sẵn sàng táp lấy bàn chân tôi. Khu vườn hoa trước thềm, bên lối đi rộng. Bông huệ trắng nõn, xen lẫn bông mồng gà đỏ thẫm và bông cúc vàng tươi. Những cây mãng cầu trái nặng trĩu, bên những cây sa bô chê. Bà giúp việc mời tôi vào phòng khách, rồi nói: - Cậu ngồi đợi một chốc. Bà chủ sẽ xuống bây giờ. Sau đó, tôi nghe tiếng dép dịu dàng trên bậc thang. Tiếng động thật êm ái, từng nhịp một, chậm rãi, và khi ngước lên, tôi nhận ra một người đàn bà, đẹp đến não nùng. Một vẻ đẹp quí phái. Bà có đôi mắt thật liêu trai, trên một gương mặt phảng phất nét buồn. Khác với những gì tôi nghĩ ở một người giàu có, sang trọng, người đàn bà này quả trái ngược. Bà có một cõi lòng từ tâm. Nhất là khi biết tôi là người cùng xứ với bà, bà càng dành cho tôi nhiều tình cảm. Bà nói về bé Dũng, đứa con nuôi của hai ông bà. Việc của tôi là dạy bé mỗi ngày một hai tiếng đồng hồ. Tôi phải huấn luyện bé để bé bớt hoang nghịch hơn trước. Tôi phải thay mặt ông bà, chăm nom săn sóc bé, nhắc bé giờ ngủ, giờ học, giờ ăn, hay dắt bé coi xi nê mỗi cuối tuần. Nghề của tôi không khác là nghề vú nuôi không hơn không kém. Nhưng dù sao đi nữa, nó có thể cứu tôi khỏi cảnh lầm than, giúp tôi tiếp tục đến trường Ðại Học, và nhất là tôi không còn là một bóng ma trong trụ sở nữa. Làm sao có thể diễn tả đến nỗi vui mừng quá sức to lớn như thế nàỵ Tôi nói với bà Cầu là ngày mai tôi sẽ nhận việc. Tôi muốn chụp lấy cơ hội càng sớm càng tốt.
oOo
- Anh Hoàng, má em mời anh.
Tiếng mưa làm át cả tiếng hét của bé Dũng. Gương mặt bé nhòa nhạt sau cửa kính, với đôi mắt như đôi mắt liếng thoắng của chú sóc con. Tôi hỏi lớn:
- Má ở đâu?
- Má ở lầu ba.
Ðây là lần đầu tiên, bà Cầu mời tôi lên phòng bà. Khác với mọi lần, chúng tôi chỉ gặp nhau trong các bữa ăn hay dưới phòng khách trong giờ nhàn rỗi. Tôi sửa soạn lại quần áo rồi lên lầu ba. Bà Cầu trong bộ đồ ngủ, ngồi duỗi chân, lưng dựa vào thành giường. Màu áo lụa hồng thật tươi mát, lộ căng một thân thể sung tràn sức sống của một thiếu phụ trên dưới ba mươi. Ðôi vú của bà chuyển động sau làn vãi lụa. Hai núm vú nhấp nhô. Trong căn phòng sang trọng, với chiếc giường nệm, mền gối xô lệch, với màu tường vôi xanh nhạt, treo một bức chân dung sơn mài của bà Cầu, càng tăng thêm vẻ gợi cảm. Nắng chiều hôn phớt trên mái tóc của bức tranh, giống như một giòng sông trong ánh hoàng hôn. Bà mỉm cười, nói với tôi:
- Nhờ anh dịch hộ bài Anh văn này. Bà giáo giảng tiếng Anh khó nghe quá đi.
Tôi ngạc nhiên:
- Bấy lâu không nghe bà nói đi học?
- Ở nhà buồn nên đi học để giết thì giờ anh à.
Tôi bắt gặp đôi vú để trần của bà khi bà cúi xuống lật trang sách. Những sợi tóc bay lất phất dưới cánh quạt trần. Tôi quay mặt, không dám nhìn, nhưng cớ sao là cả lòng tôi đâm bối rối lạ lùng. Bà trao cho tôi xem bài học. Lại đôi núm vú nhấp nhô ẩn hiện. Tay tôi muốn run lên. Hay tại cả thân thể đầy khiêu gợi kia, hay tại đôi mắt như hai hố thẳm kia, hay tại mùi nước hoa đắt tiền kia. Bà ngồi đấy, đôi chân, bắp đùi căng tràn dưới vãi lụa. Tôi cố xô đuổi ý nghĩ đen tối, và bắt đầu giảng bài học. Trong lúc giảng bài, có đôi lần, bàn tay, hay vai, hay cả mái tóc của bà chạm vào người tôi. Người tôi nóng bừng. Tôi chẳng khác một tên ngu ngơ bị hồ yêu dụ vào mê hồn trận. Nắng buổi chiều sót lại rớt qua khung cửa kính. Những chiếc lá mờ thẩm, im lặng dưới lầu. Sau khi bài giảng xong, bà và tôi nói chuyện vu vơ. Những kỷ niệm thời Quốc học Ðồng Khánh. Những mùa mưa mùa nắng ở một kinh thành cũ. Những buổi sáng sương mù trên sông Hương và những buổi chiều nước tràn qua Ðập Ðá... Rồi bà hát khe khẽ. Lâu lắm tôi mới nghe bà hát.
oOo
Ðêm đó, trời nóng như một lò lửa. Phòng tôi ngay ở cửa ra vào, ở tầng dưới hết. Chiếc cửa sổ, đan lưới mỏng, cũng không đủ để hứng một cơn gió nhẹ. Tôi ngồi im lặng trong chiếc ghế bành, mà tâm trí cứ bị quay cuồng bởi bờ ngực lấp ló. Tuổi con trai sống dậy bão bùng. Tôi muốn ngợp thở khi liên tưởng đến thân hình của người đàn bà, với đôi vú căng tròn, cặp đùi săn cứng và cả người toát ra mùi hương đến ngây ngất. Tôi khốn khổ xua đuổi chúng ra khỏi tâm trí của tôi. Nhưng người đàn bà chẳng khác một hồ tinh, cứ ngước nhìn tôi, như mời gọi. Tôi lấy sách ra đọc, nhưng chữ nghĩa lại múa may quay cuồng. Có lần tôi lại thấy như thể người đàn bà kia nằm ngữa trên giường và giăng đôi tay khoác tôi lại. Tôi lại vất sách, duổi đôi chân tê cứng, đến độ cả người tôi như lịm trong nỗi đê mê trong một giây phút. Ðêm như căng nức. Ðêm như đem vào lòng tôi một khối dục tình bừng bừng sôi sục. Tôi chịu không nổi, mở cửa lao ra ngoài đêm.
oOo
Trời đầy trăng. Những giọt sương Những khóm hoa long lanh hạt sương. Một bể trăng vàng bát ngát, trước mặt tôi, trên lá, trên hoa, trên bãi cỏ mượt như nhung. Tôi bước chậm rãi trong vườn. Khu nhà vây bủa bằng bốn bức tường cao, chi chít những vỏ chai nhọn. Tôi chẳng khác một kẻ lưu đày. Nhìn con trăng sáng vằng vặc, tự nhiên tôi cảm thấy buồn. Ba tôi ngoài Huế làm sao biết tôi đang bị giam lõng giữa bốn bức tường thành cao chót vót này. Còn mẹ tôi, bà sống ở phương trời nào, lận đận, lao đao, có tủi thân vì bà đã sinh ra một đứa con trai đang lưu lạc? Còn người yêu của tôi nữạ Em không về để mang cho tôi một chút hơi hướm. Tại sao em và tôi lại ngăn cách?
Tôi đứng yên trong bóng tối. Ngọn lửa dục vọng hầu như đã tắt. Con heo lòng đã thôi giục giã. Tôi vào phòng tắm, gục đầu vào bể nước. Tôi muốn quên, quên một đêm mùa hạ, đầy dẫy thân xác đàn bà, những ánh mắt khiêu khích mời gọi dâm cuồng từ người đàn bà ở lầu ba - chị Cầu. Khi tôi vào phòng, cố xem một bài học về Quang Học Ba động thì có tiếng con chó đang mừng rỡ ngoài sân. Tôi biết ông Cầu đã trở về. Ông không dám bấm chuông cổng. Ông sợ vợ ông thức dậy, và đêm đó, thế nào cũng có một trận cãi cọ. Ông như một người biết lỗi, đã âm thầm nhảy qua bờ tường, đu mình bằng nhánh cây soài, rồi khe khẽ vào nhấ Khi đi ngang qua phòng tôi, ông ló đầu vào. Thấy tôi, ông hỏi:
- Anh Hoàng chưa ngủ à?
- Dạ, thưa ông, chưa.
Ông ta thầm thì:
- Vợ tôi có nói gì tôi không?
- Tôi không nghe. Hồi chiều bà ăn cơm xong, lên lầu...
Ông Cầu bước lên thang lầu, dáng sợ sệt. Ông mở cánh cửa hông giữa tầng dưới và tầng trên, dáng như một tên tội đồ. Tôi bật cười khi nghĩ đến một tên sợ vợ có một không hai. Ra ngoài đường, hay ở đơn vị, ông là một biểu tượng của uy quyền. Tôi đã thấy ông bạt tai người tài xế vì hắn ta để xe bẩn. Những người lính không dám nhìn lên gương mặt của ông, mỗi lần ông ta đi ngang qua. Người ta cũng nói nhiều về những người bồ, những ca sĩ, vũ nữ và những cô gái ham danh vọng, cấp bậc quân đội. Ông tượng trưng cho mợt thứ uy quyền thành phố. Các hoa thương Chợ Lớn, các chủ phòng trà hay dancing, các nhà thầu xuất nhập cảng... đều phải trình diện ông ta trước khi lãnh giấy phép. Nhưng đối với vợ, thì ngược lại. Tôi chờ đợi để nghe tiếng càu nhàu của bà Cầu và tiếng van lơn của ông, nhưng không nghe. Chắc bà Cầu đã ngủ quên... Tự nhiên tôi cảm thấy thương hại bà Cầu hết sức. Tôi thương hại bởi vì bà là một người đàn bà dẹp, đầy danh vọng, nhưng thật ra lại sống trong sự buồn khổ bất hạnh. Thì ra hạnh phúc đâu phải là cái villa sang trọng, cái danh vọng tột cùng. Họ sống bên nhau, như hai kẻ lạ. Tôi ao ước được nói với ông Cầu một vài cảm nghĩ. Hạnh phúc của gia đình ông đã bị sức mẻ quá nhiều. Ông đừng nên để bà phải bị thiệt thòi hơn nữa. Cái màn hạnh phúc hầu như đã bị xé toạc, chỉ cần một cơn gió là sẽ rách hẳn, và bị cuốn lốc. Tôi chính là chứng nhân của tấm màn hạnh phúc đó. Bên ngoài, người ta ngỡ vợ chồng ông ta sống âu yếm lắm. Người ta ao ước cuộc sống của hai ông bà. Nhớ lại những buổi tiếp tân trong nhà, đứng trên bao lơn của lầu hai, tôi đã thấy bà Cầu hớn hở, tươi cười như hoa trước quan khách và ống kính của tay thợ chụp hình. Ông Cầu ngắt một cánh hoa hồng, cắm trên mái tóc mun đen của vợ, đoạn choàng vai bà Cầu. Bà Cầu nép sát vào người đàn ông. Nhưng tôi biết chắc, nụ cười ấy, gương mặt tươi như hoa ấy chỉ là những gì gượng gạo tái tê. Nụ cười đẫm đầy nước mắt. Và đôi mắt tô màu than chì, đen lánh, phải là hai hồ lệ. Tôi chắc chắn thế.
oOo
Sáng mai, tôi dậy trễ. Có lẽ vì hồi đêm tôi mất ngủ. Nắng sớm lọt vào song cửa, làm mắt tôi chóì Tôi hối hả choàng dậy, nhưng biết giờ học đầu đã trễ. Tôi bước ra bể nước rửa mặt, đánh răng. Ngoài sân. tiếng xe rồ kèm với tiếng cửa sắt rít lên. Ông Cầu đi làm và bé Dũng đã dược bà vú dẫn đi học. Tôi bước ra vườn. Buổi mai trời còn lành lạnh. Khu vườn hoa ẩm ướt dưới lớp sương mịn trắng. Trên sân cỏ, những cánh hoa rụng hồi đêm nằm rải rác. Một ngày bắt đầu. Tôi đã chóng quên những gì xảy ra hôm qua, thì tôi lại bắt gặp bà Cầu đứng trên lan can. Bà hỏi tôi trước:
- Nhà tôi về hồi nào, anh Hoàng?
- Thưa bà, khoảng hai giờ sáng.
- Sáng nay anh nghỉ học?
- Dạ.
- Anh ăn sáng với nhà tôi chưa?
- Thưa bà tôi mới dậy. - Mời anh vào ăn sáng với tôi. Bà Cầu bước xuống thang lầu. Bước chân người thiếu phụ thật nhẹ nhàng. Tôi ngồi ở bàn ăn nhìn lên. Lòng tôi lại đâm xao động. Mắt tôi như thấy lại buổi chiều đầu tiên, dáng bà cũng uyển chuyển như thế, gót chân cũng mềm mại như thế. Bà Cầu chợt hỏi:
- Hồi hôm, tôi nghe nhà tôi nói chuyện với anh. Nhà tôi đã nói gì?
Tôi lặng người. Tôi không ngờ bà đã thức rất khuya. Chắc bà phải khổ lắm. Tôi ấp úng không biết nói làm sao. Tôi thương hại bà thật tình, nhất là ở đôi mắt đầy thâm quầng:
- Thưa bà, tôi thấy mắt bà quầng thâm. Dạo này bà trông ốm. Bà đừng lo nghĩ. Ông nhà vẫn thương bà, lại nễ bà nữa...
Bà Cầu cúi đầu xuống, đôi vai như nặng cả khối buồn và chịu đựng:
- Riết rồi cũng quen anh à.
Rồi bà nhìn tôi:
- Anh đừng gọi tôi bằng bà. Tiếng bà giả dối lắm. Anh nên gọi tôi bằng chị. Tôi lớn hơn anh có bao nhiêu đâu.
- Thưa bà, tôi không dám.
- Sao lại không dám. Anh tưởng tôi hãnh diện với cái thế giới này hay sao? Anh thấy tôi chết đi từng ngày từng giờ.
- Thưa bà...
- Lại bà nữa. Tôi nhắc lần chót.
Tôi lúng túng:
- Thưa chị, nếu chị cho phép. Hồi hôm tôi nói với ông nhà là chị buồn.
- Không. Tôi đâu có buồn. Mấy năm trời chịu đựng cũng làm mình quen, anh à.
Câu chuyện buồn đã làm hai người ăn mất ngon. Bún mua ở một tiệm có tiếng cũng trở nên tẻ nhạt. Tôi nuốt từng cọng bún, mà không dám nhìn thẳng người đàn bà.
oOo
Ðêm sau, tôi mang chiếc vĩ cầm lên lầu thượng để chơi vài bản nhạc. Dưới ánh trăng muộn, những cuống huệ vươn thẳng, trắng mượt. Hương thơm từ khu vườn hoa tỏa lên ngào ngạt. Tôi bắt đầu kéo phím. Aimez-vous Brahm? Con đường có cột đèn vàng và chiếc xe ngựa chở đôi tình nhân, giấc mơ tình sử. Âm thanh làm tôi phải mê lịm, đến nổi, những ngón tay tôi bấm lên phím đến tê dại, và mắt tôi phải nhắm nghiền. Rồi một lúc nào đó tôi nghe như thể một làn hương yêu dấu thoãng qua. Người thiếu phụ. Chị Cầu. Gương mặt chị liêu trai. Bộ đồ ngủ bằng vải lụa. Chị quấn chiếc khăn lụa quanh cổ. Tôi ngưng đàn, hỏi chị:
- Chị chưa ngủ sao?
- Anh Hoàng chơi bản nhạc này hay quá.
Rồi chị tiến về phía lan can sân thượng, ngắt cuống hoa huệ, xoay chong chóng. Chị nói bâng quơ:
- Ðêm đẹp quá, anh Hoàng nhỉ?
- Dạ.
- Anh Hoàng chơi bản nhạc gì thế?
- Thưa chị, bản Aimez-vous Brahm. Chị có xem phim này chưa?
- Có anh à. Perkin đóng quá hay.
Cả hai nhìn xuống lan can. Trong bóng đêm, những ngôi nhà đã tắt đèn thiếp ngủ. Xa xa hàng chữ quảng cáo bằng đèn néon xanh đỏ trở nên mờ nhạt. Chị nói:
- Anh Hoàng chơi bài "Con thuyền không bến" đi.
- Dạ.
Tôi lại kéo sợi phím. Chị Cầu đứng dựa vào lan can, nhìn tôi. Tôi bắt gặp đôi mắt chị, khát khao hơn, say đắm hơn dưới ánh trăng và ánh đèn sân thượng. Lại đôi môi kia nữa. Lại cả một thân thể sung mãn như căng nức ra, nổ bùng để trong tôi, máu lại chảy loạn cuồng, ngây ngất, ngất ngây. Tôi biết trong đôi mắt ấy là sự thèm khát mãnh liệt của một con thú đang bị động dục. Và cả tôi cũng vậy. Con thú tôi cũng đang lên cơn. Tôi ôm choàng lấy chị. Tôi hôn chị tràn ngập khắp người. Mắt, mũi, miệng, cổ, ngực. Tôi quì gối hôn cặp đùi căng thịt. Tôi nói trong niềm kích ngất, khi hai tay của chị bấu chặc vào đầu tôi:
- Chị Cầu ơi, em yêu chị. Em là Perkin của chị đây.
Chị Cầu nói trong hơi thở:
- Sương nhiều rồi. Chốc nữa, xuống phòng chị lấy dầu thoa, xem Hoàng bị cảm đó.
oOo
Trong một đời người, người ta chỉ yêu một lần và chết một lần. Remarque đã nói. Tôi cũng vậy. Lần đầu tiên tôi mới hiểu thế nào là cái mãnh lực cuồng nộ của tình yêu. Tôi sẽ nhớ mãi phút giây vỡ bùng để bão lửa ngùn ngụt cháy, để thiên đàng và địa ngục hòa chung một. Chị Cầu đã xuống phòng ngủ. Còn tôi dứng yên lặng. Bỗng nhiên tôi lại nhớ đến ba tôi. Một ông già ốm yếu, phơ phất chiếc áo lương đen giữa trời cam khổ. Ông đã dạy cho tôi niềm vinh dự của một gia đình, sự tự hào của một nề nếp, dù phải trải qua bao lận đận, khổ ải. Ông là tấm gương khi tuyệt vọng tôi quay về nhìn rõ tôi. Ông là bến bờ để tôi tắp vào khi tôi bị đắm chìm trong ngu muội. Ðôi mắt ông nghiêm khắc nhìn tôi. Vâng, thưa ba, con phải cám ơn ba, bởi vì ba đã đến kịp thời, đúng lúc. Tự nhiên, tôi cảm thấy mình trong sạch lạ lùng. Ôi đêm huyền nhiệm. Ðêm ngợi dâng. Không hiểu sao, tôi lại kéo thêm một bản nhạc nữa. Ave Maria. Tôi cần phải cảm tạ bản chất thiện của con người. Nó là lương tâm. Là vẽ đẹp miên viễn. Là sự trong sạch của tâm hồn. Mặc dù tôi biết, ngày mai, tôi mang một đêm sao mùa hạ, như là một kỷ niệm không bao giờ quên được trong những ngày tiếp tục lầm than đói rách.
Trần Hoài Thư
VN 10/1965 - Hoa Kỳ 1/1997