vhnt, số 275
27 February 1997
Trong số này:
Thư vhnt.................................................................BBT
T h ơ:
1 - Không Ðề....................................................Ðông A
2 - Ông Lão Ðồng Hương....................................Ðức Lưu
3 - Hai Chữ Nhớ Thương.....................................Sương Mai
4 - Ðông Sầu........................................Nguyễn Quốc Vinh
5 - Thứ Bảy, Cuối Tuần.................................Hồ Ẩn Văn
6 - Bài Cho Tam Kỳ.......................................Trần Hoài Thư
7 - Say Thơ / Ðợi Thơ......................................Hồ Dzếnh
8 - Thơ Federico Garcia Lorca..........................Trần Thuyên dịch
D i ễ n Ð à n V ă n H ọ c:
9 - Ðêm Nhớ Huế.....................................Lương Thư Trung
10- Trịnh Công Sơn: Trước tiên là sự ám ảnh.........Tuấn Khanh
T r u y ện N g ắn / S án g T ác:
11 - Lá Thư Xuân..............................................Tứ Diễm
12 - Quê Hương Một Thời.................Nguyễn Thị Bình Thường
Thơ là tiếng hé môi đầu tiên của loài người. Thơ đến với người và ở lại với đời cho mãi đến ngàn sau.
Hình ảnh của thơ là cánh én đầu xuân, là sợi khói lam chiều, là vóc dáng gầy còm của ông lão, là giàn bông giấy đỏ của tuổi mười ba...
Thơ tôn vinh cuộc sống. Thơ đẩy đến tận cùng của hoài niệm, nhớ nhung. Thơ diễn tả rốt ráo hạnh phúc và đau khổ. Thơ bỏ màu đậm nét, phân biệt trắng đen. Thơ tiên tri thời cuộc. Thơ đẩy lùi quá khứ đau thương. Thơ hừng hừng nhựa sống, bước về tương lai trước mặt... Vì thế, tâm hồn người làm thơ có lúc nhẹ nhàng, cũng có khi tràn đầy bão nỗi.
Trong số này, bên cạnh những mục thường xuyên, trong phần thi ca, bạn sẽ bắt gặp những người thơ cũ mới như: Ðông A, Ðức Lưu, Sương Mai, Nguyễn Quốc Vinh, Hồ Ẩn Văn, Trần Hoài Thư. Và, vẫn như bao giờ, Trần Thuyên giới thiệu đến chúng ta những bài thơ bằng Anh ngữ chọn lọc, và cũng được chuyển sang phần Việt ngữ rất nghệ thuật của anh.
Nàng thơ đang bước đến. Nhưng, điều quan trọng là ta có sẳn sãng giang rộng vòng tay để đón nhận nàng hay không, phải không bạn?
Chúc các bạn tìm được niềm vui trên diễn đàn này.
Lê Tạo / VHNT
* Xin cáo lỗi độc giả phần thư vhnt này đã đăng lộn ở vhnt #274, thư vhnt dành giới thiệu cho nội dung #275. Xin lỗi Lê Tạo và độc giả về sơ xót này - BBT/vhnt
Không Ðề
Gần mãi còn chia xa
Nhấp nhô đồi rực lửa bồng bềnh
Ngước lên làn thấp thoáng
Ðóa hoa hé nửa thời hút mật
Mùa xuân.
o0o
Bão sập thuyền dông không nèo bến
Buồm căng tròn con gió
Mỏng manh cánh bướm hoài run rẩy
Ðột sóng lừng
Thẫm đẫm đỏ sương loang.
o0o
Nán lại dưới lòng thuyền
Ði đâu về đâu
Con gió xìu không nổi
Cuộc chơi thưở đời đầu vỡ dở
Cái xuân sang.
Ðông A
Ông Lão Ðồng Hương
Suốt cả buổi, lão ngồi bên xó chợ
Bàn tay khô gò mãi sợi đàn bầu.
Như trầm bỗng, điệu buồn xang, xế, xự,
Như u hoài, réo rắt một niềm đau.
Tóc lão bạc, chòm râu già trắng phếu
Vầng trán khô len dưới lớp da nhồi,
Ðôi mắt chột, vành môi cằn móm méo
Bộ đồ thô, cũ rích đã nặng mùi
Chợ dần tan, giòng người chừ thưa thớt
Lão chùng tay, chốc chốc ngó mông lung
Tay mò mẫm, rồi thở dài ngao ngán
Lượm từng xu từ rổ bạc trên thùng.
Vội kéo ghế, mồm bâng quơ bắt chuyện:
"Hôm nay xem, chẳng khắm khá bao nhiêu?"
Lão ngoáy cổ, rồi mĩm cười, nhếch miệng:
"So với hôm qua, thế cũng là nhiều!"
Giọng ông lão, bùi ngùi nghe nghe ngán dạ
Mua dĩa bánh tằm, an ủi lão một câu:
"Tiếng đàn ông, sao mà nghe mùi lạ!"
"Cám ơn chú em! Ðến ở miệt nào?"
"Ba má tôi người Bình Dương chính gốc,
Thích Sài gòn, nên kiếm sống nơi đây."
"Vậy là cùng quê! Tôi từ láng Búng,
Cũng miếng cơm nên lạc đến nơi này!"
Và từ đó, một già, một trẻ
Thăm hỏi nhau, bắt chuyện giông dàị
Bởi thương lão, một thân già cô lẽ,
Ngày lại ngày, tiếp chuyện lão lai rai
Cũng chẳng màng hỏi gạn ông tông tích
Ngần cảnh này, dĩ vãng có chi vui
Chỉ biết lão chẳng bà con thân thích
Vợ bệnh đau chết mấy chục năm rồi.
Lão cũng có một thằng con bạc phước
Trạc tuổi tôi, chết trận ngót chục năm
Nhà cửa, ruộng vườn, đất đai bán hết
Bạn gió sương, lão dấn bước thăng trầm.
Ngày lại ngày, lão ôm đàn, ngồi đánh
Chờ lũ người lơ láo rũ lòng thương,
Dăm hào lẻ, khi nắm xôi, miếng bánh
Nuôi tấm thân giữa sương bụi, gió đường.
Và cứ thế, lão lê dài kiếp sống
Mượn tiếng đàn, bài vọng cổ nuôi thân
Ngày vất vưởng giữa bụi đường gió lộng
Ðêm âm thầm làm bạn ánh trăng hoang...
oOo
Cả tuần nay, vắng tiếng đàn ông lão,
Chợt bâng khuâng, lòng vớ vẩn nghe buồn.
Ừ, chẳng rõ, vì nỗi buồn vọng cổ,
Hay nỗi buồn thương tiếc kẻ đồng hương.
Sáng hôm nay âm thầm ra xó chợ
Mua cúng ông, cũng một dĩa bánh tằm
Rồi lặng lẽ cắm nén nhang kế cận
Mùi hương buồn vương vấn kiếp trầm luân.
Thôi cũng mặc, xem chừ như số phận
Nợ trần gian, lão trả cũng xong rồi
Còn vạn kẻ, nghiệp đời đeo đá nặng
Hoàn cảnh này, chết thế cũng là vui!
Ðức Lưu
Hai Chữ Nhớ Thương
"Ðêm qua ra đứng bờ ao
Trông cá, cá lặn trông sao, sao mờ"
Nhớ người ta viết câu thơ
Yêu người ta nói tiếng chờ, lời mong
Xa người ta đứng bên song
Ngó trăng mà thấy cõi lòng vắng tanh
Nhớ người thầm gói tiếng Anh
Âm vang như thể tiếng mình dể thương
Ðâu rồi giọt lệ, giọt sương?
Nào ai biết được con đường chia hai
Ta về khóa cửa lâu đài
Trồng cây tình, đợi một ngày trổ hoa
Ta chờ hạch hỏi lòng ta
Chữ tình, chữ lụy, chữ xa, chữ buồn
Có bằng hai chữ nhớ thương?
Sương Mai
11/13/96
Ðông Sầu
Sương chiều giăng đượm khói lam.
Trời đông u ám não nề bóng ai.
Bâng khuâng trút tiếng thở dài
Buồn dâng tê tái dầy chai cõi lòng.
Nghìn trùng mây núi khuất trông
Cố hương xa ngóng gần trông những rày.
Tâm tình u uẩn bấy nay
Sầu đông trải mấy tháng ngày tha phương.
Nguyễn Quốc Vinh
11/1987
thứ Bảy, cuối tuần...
nous nous aimons et nous vivons
nous vivons et nous nous aimons
et nous ne savons pas ce que c'est que la vie
et nous ne savons pas ce que c'est que le jour
et nous ne savons pas ce que c'est que l'amour
Jacques Prevert - Paroles
tíc tắc...
tíc tắc...
tiếng thời gian rả rích
thật đều,
ly cà phê
từng giọt
nhỏ.
hôm nay, thứ Bảy
mưa rơi !... mưa rơi !...
cuối tuần, mưa rơi...
thèm một điếu thuốc
đốt cháy bờ môi
nung cay vùng mắt
thâm quầng kỷ niệm.
(điện thoại không reo)
bên ngoài,
tiếng con chim đỗ quyên hót
lạnh!
dưới hiên nhà
bên kia đường
một người chờ mưa tạnh.
trong chòm lá
con sâu thức giấc
buồn rầu
nằm yên nghe những tiếng chân
đi
về
vội vã.
tíc tắc...
tíc tắc...
tiếng đồng hồ thong thả.
giọt cà phê sau cùng đã rơi vào trong tách.
con chim đỗ quyên chợt ngưng tiếng hót
lìa cành
bay đi
chở cơn mưa trên đôi cánh trĩu.
bên kia đường
người trú tạm cũng bước đi,
mặc cơn mưa hắt lạnh
vai,
thân.
hôm nay, thứ Bảy
mưa rơi !... mưa rơi !...
cuối tuần, mưa rơi...
(điện thoại vẫn không reo)
thôi, không nhớ nữa!
khép chặt khung cửa sổ,
mặc cà phê chưa uống
mặc điếu thuốc không châm.
lên giường, trùm kín chăn
vòng tay
ôm lấy gối em nằm.
ấm.
hồ ẩn văn
Bài Cho Tam Kỳ
Mấy mươi năm chưa một lần về thăm
Thị trấn ấy biết còn đàn sáo ngủ
Ngôi nhà trọ còn giàn hoa giấy đỏ
Gốc cây xưa còn đỡ một khoãng trời
Khi em một thời của tuổi rong chơi
Và tôi một lần, bạn cùng bảng phấn
Em nhắc Tam Kỳ, lòng tôi quay quắt
Bửa cơm tháng nào quán Huế hôm xưa
Những sáng Tam Kỳ lất phất trời mưa
Những chiều xe thồ mập mờ bụi xám
Nơi tôi đến, không họ hàng lân láng
May mà Tam Kỳ còn những con tim
Như ngày nào tôi đến thăm em
Mẹ em đãi thầy nồi canh bông lý
Trưa yên tĩnh, có một đàn chim sẽ
Nhảy rất hiền trên giàn mướp ngoài sân
Như những ngày tôi có Trần Cao Vân
Những ô cửa và mây trời xanh ngắt
Tôi dấu các em, nỗi buồn trang sách
Khi pháo dội về đen ám chiến tranh
Khi tôi đợi ngày về cõi đao binh
Bài toán giãng buồn theo dòng sữ lược
Nơi tôi đến, xe dừng bên Chợ Ðược
Ðất trắng Thăng Bình ngọt vồng khoai lang
Có ai về, lên mạn Quế Sơn
Nhắn dùm tôi mùa cá chuồn đã đến
Nậu nguồn ơi, mít non tôi chưa nếm
Làm sao tôi nỡ đành bỏ nậu mà đi
Tôi bỏ nậu đi, bỏ lớp trường xưa
Bỏ quán cô Thuyền, bỏ nhà Nam Ngãi
Bỏ chiếc xe hàng qua đêm đậu lại
Tiếng máy đèn rền rĩ suốt đêm thâu
Mấy mươi năm chưa một lần về thăm
Tam Kỳ của tôi, và của các em
Cho tôi xin gởi một lời xin lỗi
Của một người thua trận lưu vong
Trần Hoài Thư
Say Thơ
Ước gì chữ bật ra thơ
Vàng rung lên tiếng, ta sờ được yêu.
Ðem mình choán hết Cô liêu
Mở toang âm hưởng ra chiều bơ vơ.
Tai ngây ngất nhạc không bờ,
Hồn điên ép nát mơ hồ giữa tay.
Cho cuồng tư tưởng cho say
Ðê mê nhân thế, đã đầy ánh trăng.
Thơ thiêng thổn thức cung Hằng,
Một trang suối chảy, muôn lằn sáng reo.
Chìm trong Nhớ, chết trong Yêu,
Quên, quên hết cả nỗi nghèo tứ thi.
Cho hồn đau đến mê si,
Trăng bay rớt sáng, lời đi bật lòa.
Ta càng víu được mơ hoa,
Càng phai thế sự, càng xa nhân tình.
Ðợi Thơ
Phú linh cầu mãi không về
Phân vân giấy trắng, chưa nề mực đen.
Khói trầm bén giấc mơ tiên,
Bâng khuâng... trăng giãi qua miền quạnh hiu.
Tô-châu lớp lớp phù kiều,
Trăng đêm Dương-tử, mây chiều Giang-nam.
Rạc rời vó ngựa quá quan
Cờ treo ý cũ, mây giàn mộng xưa.
Biển chiều vang tiếng nhân ngư,
Non xanh tha thiết, trời thu rượi sầu
Nhớ thương bạc nửa mái đầu,
Lòng nương quán khách, nghe màu ta huân.
Buồn Từ-mã, nhớ Chiêujquân,
Nét hoa thấp thoáng, ý thần đê mê.
Phú linh cầu mãi không về
Phân vân giấy trắng, chưa nề mực đen...
Hồ Dzếnh
thơ Federico Garcia Lorca
trích Selected Poems, bản dịch Anh ngữ - Merryn Williams - Bloodaxe Books Ltd, 1992
The Guitar
The wail of the guitar
begins.
The goblets of dawn
are broken.
The wail of the guitar
begins.
It is useless to hush it.
Impossible
to hush it.
It weeps, monotonous
as water weeps, as wind
weeps above the snowfall.
Impossible
to hush it.
It weeps for things
far away.
Sand of the warm South
pleading for white camelias.
It weeps, like an arrow
without a target,
ii evening without dawn,
the first dead bird
on the branch.
Oh, guitar!
Heart mangled
by five swords.
Lục Huyền Cầm
Tiếng khóc của phím đàn
bắt đầu.
Những ly rượu bình minh
tan vỡ.
Tiếng khóc của phím đàn
bắt đầu.
Hãm thanh vô ích.
Không thể nào
tắt được.
Ðàn nhỏ lệ, giọt đều
như hạt nước sầu ngân, như băng phong
than vãn trên từng cánh tuyết rơi.
Không thể nào
tắt được.
Ðàn khóc những gì
đã xa khuất.
Cuồng sa từ phương trời Nam ấm áp
nguyện cầu cho trà mi trắng.
Ðàn khóc, như làn tên
lao vào vô định,
hoàng hôn không nắng mai,
loài quyện điểu đầu tiên chết
trên cành.
Ðàn ơi!
Xé tim
bằng năm lằn dao sắc.
oOo
The Moon Comes Out
When the moon comes out
the bells fade into silence
and impenetrable paths
come to light.
When the moon comes out
the sea floods earth's surface,
the heart feels like an island
in the infinite.
Nobody eat oranges
under the full moon.
You eat only green
and icy fruit.
When the moon comes out,
one hundred identical faces,
the silver coins in your pocket
weep.
Khi Ánh Trăng Xuất Hiện
Khi ánh trăng xuất hiện
chuông chiều phai vào câm lặng
và những lối mòn khuất lấp
chong đèn.
Khi ánh trăng xuất hiện
đại dương hồng thủy mặt địa cầu,
tim như đảo nhỏ
trong vô cực.
Không ai ăn cam
dưới vầng trăng tròn.
Chỉ ăn trái xanh
và lạnh.
Khi ánh trăng xuất hiện,
trăm gương mặt giống nhau,
những đồng bạc trong túi
bật khóc.
oOo
He Died at Dawn
Night of four moons,
one solitary tree,
one solitary shadow,
one solitary bird.
I seek in my flesh
the traces of your lips.
The fountain kisses the wind
and doesn't touch it.
I carry the No that you gave me
in my palm,
like a wax lemon
almost without colour.
Night of four moons,
one solitary tree.
Upon the point of a pin
my love is spinning.
Người Chết Lúc Bình Minh
Ðêm tứ nguyệt,
một thân cây đơn côi,
một chiếc bóng cô độc
một cánh chim lẻ loi.
Tìm trên da thịt tôi
dư cảm đôi môi em.
Nước tuôn hồn hôn gió
và không chạm đời nhau.
Mang chữ Không em tặng
trong lòng tay,
giống trái chanh bằng sáp
gần như không màu.
Ðêm tứ nguyệt,
một thân cây đơn côi.
Trên đỉnh nhọn mũi kim
tình yêu tôi quay vòng.
Trần Thuyên chuyển ngữ
(cho NPDT)
ÐÊM NHỚ HUẾ
Trong dòng đời xuôi ngược, tôi có dịp gặp một vài người quen, nói giọng HUẾ. Nhưng chưa bao giờ tôi được gặp một lần với trên 850 người con của HUẾ, tụ hội về thành phố Boston này. Họ là những con tim của ÐỒNG KHÁNH, của QUỐC HỌC một thời, một thời dấu yêu với cõi lòng xao xuyến, tình tự ngập đầy. Và, bây giờ, nơi đây với thành phố Boston bên bờ Ðại Tây Dương, cùng cái giá buốt khắc nghiệt của vùng Ðông Bắc Mỹ vào mùa Ðông, là một sự trở về, là hoài niệm, là nhớ nhung về HUẾ với bánh nậm, bánh ít bột lọc, với nem, xôi vò, với giọng Huế nặng, trầm, buồn mà không ngượng ngập, không bị chao lảng với vẽ tự nhiên, thân quen của một Huế là Huế.
Tôi chưa một lần đến Huế nhưng cũng bị xô giạt vào, cuốn hút vào, hòa nhập vào một cõi Huế xúc động đến độ bồi hồi. Tôi tự hỏi, Huế, những người con của Huế có sức thôi miên gì đa ~ làm tôi nghe lòng mình chùng lại.
Qua giọng Huế của chị Trần thị Phương Thảo, phu nhân của cố giáo sư Bùi Tường Huân và nhà văn Trần Doãn Nho, trong cương vị điền khiển chương trình, cùng với ánh mắt không rời của trên 850 người con của Huế, im phăng phắc đang nhìn về sân khấu với những bức họa lớn nào cầu Tràng Tiền, Kỳ đài, Cửa Ngọ môn, Cửu đình v.v... chương trình ' Ðêm nhớ Huế " càng ấm cúng, rặt Huế là Huế.
Một chương trình thơ nhạc với những bản dân ca, tình ca ít nhiều chuyên chở những tình tự của Huế, qua giọng hát đặc thù của Huế như Diệu Hoàng ,Hà Thanh, Duy Khánh v.v cùng tiếng đàn tranh dìu dặt, bổng trầm, tiếng sáo trúc vút cao gợi nhớ lòng người bỏ Huế đi xa... Ðặc biệt, những cụ già tóc bạc phơ, cũng đã lên có đôi lời tâm sự về Huế, nhớ Huế đến nghẹn ngào... Dịp này, nhà văn Trần Doãn Nho, có nói đôi điều về Huế: "Dù thay ngôi đổi chủ, Huế vẫn là Huế bún bò ,Huế cơm hến, Huế mưa dầm, Huê phượng đỏ, Huế lăng tẩm, hẹn hò, Huế răng tê mô rứa, Huế cao sang và nghè o hèn, Huế những mối tình đài các và những thành kiến triền miên, Huế chiếc nón bài thơ và Huế ngủ đò, Huế ở thì buồn xa thì nhớ, Huế tôn nữ và Huế bình dân...."
Huế với những vần thơ xưa:
Sao anh không về chơi thôn Vỹ
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền
Hàn Mặc Tử
hoặc:
Huế ơi mộng tới đường trường
Kim luông, Vỹ Dạ, dòng Hương có còn
Hoàng Xuân Sơn
hoặc:
Ở đây có nước sông Hương
Có cây núi Ngự, có đường Nam Giao
Nguyễn Bính
hoặc:
Dạ thưa xứ Huế bây giờ
Vẫn còn núi NGỰ bên bờ sông HƯƠNG
Bùi Giáng
Huế với vần thơ hôm nay:
Huế đẹp tuyệt vời vào mỗi tối tháng năm
Ta yêu nhất những con đường Phượng đỏ
Trần Trung Ðạo
hoặc:
Huế của ta. Tời chợt mưa chợt nắng
Huế của ta. Người chợt đến chợt đi.
Phan Xuân Sinh
hoặc:
Sống lang bạt nhưng lòng anh vẫn HUẾ
Nguyễn Ðức Bạt Ngàn
Và " Chút tình cho Huế " của anh Trần Hoài Thư cũng được nhắc đến trong đêm nay để nhớ Huế:
Ðường thành nội qua đường Hàng Ðoát
Những ánh đèn le lói hắt hiu
Theo tiếng rao hàng trăn trở không nguôi
Huế ơi! Huế ơi! Buồn chi rứa Huế "
Ðể rồi, nơi phương trời " viễn biệt " này, có một con người mang trái tim của Huế " nhớ hoài " về chốn ấy với màu hoa phượng đỏ, xa xăm:
Huế ơi! Huế ơi, phương trời viễn biệt
Trái tim ni xin gởi về O
Một cánh hoa, dù quá đỗi thiệt thua
Vẫn xinh đẹp hơn cả ngàn bông quý
Ðể cho ta vẫn nhớ hoài xứ Huế
Có một loài hoa rực đỏ ngàn năm
Chút tình cho Huế - THT
Sau hơn sáu giờ hội ngộ mà như đã được chờ đợi hai mươi mốt năm, " Ðêm nhớ Huế " được kết thúc với tiếng hát ấm, trầm, buồn của ca sĩ Duy Khánh với nhạc phẩm Xuân Này Con Không Về làm cho không gian chìm vào thổn thức, ngậm ngùi với trên 850 con tim chìm xuống, lắng lòng... Ðó đây, những giọt nước mắt được vuốt vội, dấu kín, nhẹ nhàng.
Ðường phố Boston về đêm trời rất lạnh. Nhưng tất cả những người con của Huế nơi đây,đêm nay, nghe như ấm áp của một cái Tết Ðinh Sửu ở Huế, ở quê nhà...
Boston, Ðêm nhớ Huế 02- 02-97
ghi nhanh của Lương Thư Trung
TRỊNH CÔNG SƠN: Trước tiên là sự ám ảnh...
LGT: Với một nhạc sĩ đã sáng tác hơn 600 ca khúc - mà phần lớn được yêu thích ngay từ khi ra mắt lần đầu - lắm lúc người ta phải tự hỏi sức mạnh nào đã đưa ông đi đến những bờ cõi tuyệt vời của sáng tạo không ngừng ấy?
Trong triết học Mật tông có nói đến khái niệm về sự bùng nổ ý thức; tương tự, sáng tạo của con người cũng có những giây phút bùng nổ như vậy. Tất nhiên trước đó ta phải mang nặng trong tâm trí những ý tưởng, hình ảnh, triết lý... liên quan đến đề tài cần sáng tạo.
Trong sáng tác ca khúc chẳng hạn, trước khi viết ra một bài hát, tôi cũng phải suy nghĩ về nó rất lâu. Khoảng thời gian đó là vô hạn định, có thể là một ngày, một năm hay lâu hơn nữa. Ðến khi tác phẩm hoàn toàn rõ ràng trong đầu thì việc chép ra có thể chỉ trong phút giây. Ðó chính là giây phút bùng nổ quan trọng nhất của sáng tạo, nó vỡ ra tất cả những gì chưa giải quyết được còn dồn lại trong đầu bấy lâụ Nếu chỉ nhìn vào thời gian tác phẩm được ghi lại - có thể là một giờ, một ngày - người ta có thể cho rằng việc sáng tạo thật ngắn ngủi và dễ dàng, nhưng có ai tưởng được rằng tất cả những điều đó đã được tích luỹ qua năm tháng. Bất cứ tác phẩm nào cũng phải như thế cầ Sáng tác nào không được phác thảo trước trong ý thức như vậy, thì khi nó ra đời cũng chẳng có giá trị gì.
Ðôi khi có ai đó thấy tôi lang thang trên phố, đứng ngắm một bức tranh hay che tay nhìn một ngọn nắng; cứ tưởng là chơi, nhưng đó là những lúc trí óc tôi đang loay hoay với đề tài mà mình đang suy tưởng. Trên 600 ca khúc tôi viết - ví dụ như bài "Hoa xuân ca" hay "Quỳnh hương" - đều ra đời như vậy, từ một hội ngộ kín đáo giữa tôi và cuộc đời trong một dịp ngẫu nhiên nào đó. Nhìn thấy một ánh nắng, một giọt mưa hay một người con gái trên đường, trong tôi bỗng có thể vỡ vạc những cảm giác cuối cùng ập đến, khơi mở, hoàn thiện cho một cái mới. Muốn được như vậy tôi phải làm một chứng nhân của nắng mưa, của sáng chiều, sớm tối. Những cái tưởng chừng lặng lẽ đó đầy sức sống và ban tặng cho mình vô vàn những điều sâu sắc. Tôi cũng làm chứng nhân về những người già, em bé, những người thiếu nữ, sự hạnh phúc, cái chết, sự sống. Mỗi khi ghi nhận những hình ảnh đó vào trí nhớ, tôi bao giờ cũng bị giam, bị vây trong nhiều giờ phút nghĩ về con người và soi rọi lại mình để hình thành một ca khúc.
Cũng có những tác động tưởng chừng là bất ngờ ập đến, tạo một niềm cảm hứng. Nhưng hãy ngẫm nghĩ mà xem, nếu không có sự tư duy, nuôi dưỡng từ trước thì cảm hứng chẳng thể nào trào dâng lên được. Ngược lại, sự ngỡ ngàng do cái mới bất ngờ ập đến chỉ có thể tạo nên sự trống rỗng, vô hồn, hoặc chỉ đơn thuần ghi chép lại chứ không là sáng tạo.
"Một hôm thấy ta là lá cỏ, ngồi hát ca rất tự do.", tôi còn nhớ ca khúc này và sự chiêm nghiệm của mình như là sự tổng kết những gì mà tôi cảm nhận được từ cuộc đời của tôi, của mọi người. Thực lòng mà nói, tôi chịu ảnh hưởng của Albert Camus trong bài hát này. Trong tác phẩm "Ghi chép ở Algiêri (Notes d'Algérie), ông ghi lại những tiếng chó sủa ban đêm, những bước chân đi mà ai cũng có thể một lần nghe thấy trong đời mình nhưng không mấy người nhìn ra được điều gì đó từ chúng. Ngẫm lại đời mình, tôi thấy tôi nhiều muộn phiền. Không hiểu vì sao tôi đã ray rứt về sự ra đi, ở lại của cuộc đời từ rất sớm. Tôi đã chọn hình tượng lá cỏ để ví với mình. Vì sao lại là lá cỏ? Có thể cuộc đời rộn ràng có quá nhiều điều để ta phải lưu ý, nhưng trong đó không thể không có sự góp mặt của những điều nhỏ nhoi. Ngọn cỏ, lá cây hay cây đa đều có bổn phận của nó với cuộc đời. Cỏ có bổn phận cỏ, lá có bổn phận lá. Tôi không mơ ước gì to lớn, mà nghĩ mình như một phận cỏ hèn. Vì hèn mọn nên nó không phải to lớn và bổn phận nặng nề như cây đa , vì vậy nó tự do lắm. Và vì sao lá cỏ lại hát? Bài hát là phương tiện để bày tỏ lòng mình với cuộc đời, có gì đẹp hơn chiếc lá cỏ nhỏ nhoi nhưng tự do hát ca với đời mình? Rũ bỏ những muộn phiền và thảnh thơi đời mình, điều này đã ám ảnh tôi từ lâu, lâu lắm rồi, nhưng chỉ đến khi viết được những câu hát như vậy tôi mới thất nhẹ lòng. Ý tưởng này quanh quẩn trong tôi nhiều năm và chỉ được giải tỏa khi sáng tạo vụt đến và bật được thành những giai điệu như vậy.
Tôi cũng muốn nói với các bạn trẻ sáng tác sau này, ngoài sự tư duy về tác phẩm, về đề tài, còn phải tạo cho mình một nền tảng triết học. Chính từ đây mà trong tác phẩm của mình mới có được sự sâu sắc. Nếu như ít đọc sách thì mình chẳng thể nào nhận thêm những chiêm nghiệm sâu sắc của người khác. Một mình mình suy nghĩ thôi thì không đủ vốn liếng với cuộc đời. Chính tôi cũng không thể đứng ngoài con đường ấy được...
Tuấn Khanh ghi
TTCN 10/11/1996
Lá Thư Xuân
Chị Năm,
Hèn lâu rồi hổng có nhận thơ chị nên rầu muốn chết. Nhất là mấy bữa gần Tết như vầy nế Tui ở không rảnh quá sức mà lại hổng có dám đi đâu một mình. Mà cứ ngồi không thì lại nhớ mấy cái chuyện hồi xửa hồi xưa rồi lại sụt sịt khóc. Làm con nhỏ nhà tui cằn nhằn hoài hà.
Mà kể cũng ngộ, tui hổng dè có ngày tui lại phải ăn Tết ở cái xứ lạ hoắc này đó, chị Năm. Hổng biết mắc mớ giống chi mà con nhỏ Út của tui cứ hổng ưng mấy thằng trong xóm. Tui cũng tưởng nó thương ông hoàng, ông tướng nào rồi nên thấy mừng trong bụng. Ai dè, nó lại thương thằng chồng nó bây giờ. Cái thằng cù bơ cù bất ở đâu hổng biết. Mới dọn đến xóm tui có vài tháng là đã hớp hồn cục cưng của tui rồi. Tui đâu có dè nên hổng cản từ đầu. Ðến chừng con nhỏ nhà tui nó thương cái thằng đó quá trời, tui cũng chẳng đành lòng cấm cản tụi nó. Ðược cái là chồng con Út cũng biết khôn, nhờ bà Tám Xuân làm mai dùm. Mà bà Tám thì chị Năm cũng biết đó. Cái miệng cứ lách chách, lia chia từ lúc mới vô nhà đến chừng xách nón đi dìa. Làm tui chưa kịp tính toán chi đã gật đầu cái rụp rồi hà.
Hồi mới cưới, con nhỏ Út tui còn siêng năng tới lui. Nay mua miếng trầu, mai miếng thuốc làm tui cũng đỡ nhớ. Riết rồi sau này nó cũng lơ là chuyện thăm tui luôn. Nhớ nó thì tui lại chạy qua bển thăm tụi nó. Con cái hổng thương cha mẹ, chớ có cha mẹ nào bỏ được con, phải hông chị Năm. Nên giận thì giận, chứ lâu hổng gặp thì tui chịu hổng nổi. Cứ phải qua đẳng hoài. Rồi đùng một cái, chồng con Út vượt biên. Con nhỏ nhà tui đang bụng mang dạ chửa nên hổng dám liều. Tui thấy vậy nên qua bển bắt nó dìa ở với tui cho có mẹ có con. Hai thằng anh nó đi đâu là đi biệt. Cả năm mới ghé thăm tui được một, hai lần. May là còn con Út ở bên cạnh. Lúc nó đi lấy chồng, tui nhớ nó quá. Ăn trầu mà thấy lạt nhách cả miệng. Ðến hồi chồng nó đi vắng, nó dọn đồ dìa ở với tui. Nói thiệt chị Năm nghe, chứ tui hổng có phiền chuyện chồng nó đi vượt biên chút nào hết đó. Chỉ tội cho con nhồ Lớp thì nhớ chồng, lớp bị cái bầu hành nên ăn bữa được bữa không. Tui mà hổng ép thì nó chẳng chịu ăn uống gì ráo trọi. Rồi đến chừng nó đập bầu, một tay tui lo săn sóc nó đó chị Năm. Ông bà mình có nói:
Ðàn ông đi biển có đôi
Ðàn bà đi biển mồ côi một mình
thiệt là đúng quá xâ May con Út sanh cũng dễ, mẹ tròn con vuông. Mà cái thằng con nó cũng ngộ quá sức. Chị Năm mà thấy là muốn nựng liền hà. Nói hổng phải khoe, chứ tui chưa thấy thằng nhỏ nào kháu khỉnh như nó đó chị.
Tui gọi nó là thằng Chó Con, làm con Út cằn nhằn tối ngày. Nó muốn tui gọi con nó theo đúng tên trong khai sanh kìa. Ôi, hơi đâu mà để mấy cái chuyện đó. Tui cứ thích gọi là Chó Con hà. Với lại, tui nhớ hồi đó má tui cứ biểu là phải gọi tên xấu cho dễ nuôi. Tụi nó có ăn có học thì hổng tin. Chứ tui thì nghĩ có kiêng có lành, phải hông chị Năm. Loay hoay rồi cũng tới ngày đầy tháng, thôi nôi của thằng Chó Con. Túng thì túng, tui cũng ráng làm cỗ bàn mời bà con chòm xóm tới, mặc con Út cự nự. Con nó nó hổng thương. Nhưng cháu tui, nó cấm tui thương được hay sao. Nói nào ngay, có hai mẹ con nó hú hí bên cạnh, tui cũng thấy vui vui. Nên dù có tốn hao bao nhiêu tui cũng hổng có ngại.
Rồi khi không, chồng con Út gửi giấy tờ về bảo lãnh tui với hai mẹ con con Út. Tui hổng có muốn đi. Nhưng tại con út cứ khóc lóc, một hai đòi tui đi theo nó. Với lại, tui cũng mến tay mến chân thằng Chó Con quá sức, nên cũng dằn lòng đi theo tụi nó. Cái thằng chồng con Út cũng ngộ. Ði xứ nào hổng đi, lại nhè cái xứ lạnh như thùng nước đá này mà đến. Báo hại tui cũng phải chịu lạnh theo hà. Có nhiều chuyện ngộ lắm, chị Năm hổng biết đâu. Từ hồi đó tới giờ, ra đường thì chỉ cần mặc bộ bà ba, xỏ thêm đôi guốc là tươm tất lắm rồi. Bữa nào nắng thì thêm cái nón lâ Trời lạnh thì thêm cái khăn rằn. Hồi mới qua, tui mặc vậy làm tụi nó cự nự quá chừng. Tụi nó hổng chịu cho tui mặc áo bà ba ra đường. Rồi biểu tui mặc mấy cái quần áo tụi nó mới sắm cho tui. Mà nói nhỏ chị Năm nghe, quần áo chi mà coi lố lăng giống y chang mấy bà đầm trong quảng cáo, ngộ quá sức hà. Tui hổng có ưng chút nào hết, nhưng tụi nó biểu phải mặc vậy mới đúng "mốt". Tụi nó còn bắt tui mang giày nữa chứ. Mèn ui, từ hồi cha sanh mẹ đẻ đến giờ, tui đi cẳng không quen rồi. Lễ lạc gì thì mới xỏ chân vô đôi guốc. Vậy mà bây giờ phải bó giò trong cái đôi giày, khó chịu muốn chết luôn đó chị Năm. Nói thiệt, tui hổng có muốn mang giày. Nhưng e vợ chồng nó buồn nên cũng ráng mang. Vậy mà chưa hết, con Út bày đặt chê tui ăn trầu coi hổng có "văn minh". Nó đi mua kẹo "sinh-gum" gì đó, biểu tui nhai thay trầu. Thay sao được mà thay. Chị Năm nghĩ coi, kẹo chi mà lạt nhách, nhai mỏi cả miệng. Ðâu có thơm ngon như miếng trầu của tụi mình đâu. Riết rồi, tui biểu tụi nó đừng mua nữa, vì răng tui lung lay gần hết rồi, hổng còn muốn nhai nhiều.
Chị Năm biết hông, ở bên này coi vậy mà cũng cực lắm đó. Vợ chồng tụi nó lụi hụi đi làm từ sớm đến tối hù mới dìa. Tui ở nhà hủ hỉ với thằng Chó Con. Rảnh thì lo cơm nước cho tụi nó. Mà ở đây cái chi cũng ngộ lắm đó chị Năm. Tụi nó có cái nồi, đổ gạo với nước vô, rồi nhấn nút xong một hồi là cơm chín hà. Hổng có cần phải nhóm lửa, vần rơm như bên nhà. Rồi cái máy giặt, máy sấy, lò nướng, bếp... Cái chi cũng lạ hoắc à. Hồi đầu, tui cứ đứng lớ quớ trong bếp. Muốn nấu mà hổng biết cách xài. Phải đợi đến chừng tụi nó đi làm về để hỏi, làm vợ chồng nó có dịp cười đau bụng. Thiệt là thời buổi bây giờ, cái chi cũng đảo ngược hết trơn. Trứng khôn hơn vịt, cha mẹ phải học con mà. Ðược cái là vợ chồng con Út cũng có hiếu. Tụi nó sợ tui buồn nên đi mướn băng "vi-đê-ô" về cho tui xem. Mua băng cải lương cho tui nữa. Tụi nó còn mua cả mớ sách báo tiếng Việt nhưng tui hổng có muốn đọc. Chỉ nghe băng cải lương hay xem mấy phim bộ cho đỡ buồn thôi hà. Chị Năm biết hông. Nhiều bữa nghe con nhỏ đào cải lương xuống sáu câu vọng cổ mùi quá sức, làm tui nhớ cái hồi còn ở trong xóm rồi khóc hồi nào cũng hổng hay nữa. Ở gần khu tui bên này hổng có nhiều người Việt mình. Cuối tuần nào, con Út cũng ráng thu xếp để chở tui đi chùa đặng gặp bạn bè. Nhiều lúc thấy tụi nó cực quá, tui hổng muốn đi, nhưng tụi nó cứ biểu hổng sao đâu, đi gặp người này người kia cho đỡ buồn. Mà nghĩ cũng tội cho vợ chồng nó. Suốt cả tuần vất vả đi làm. Có hai ngày cuối tuần được nghỉ thì lại phải lo chợ búa, giặt giũ, dọn dẹp nhà cửa. Rồi còn phải chở tui đi chùa nữa chứ.
Tết năm nay, tui định gói ít đòn bánh tét. Trước là cúng ông bà, sau cho tụi nó ăn đỡ thèm. Nhưng con Út cứ gạt đi. Nó biểu tui muốn ăn gì thì kêu nó đi mua ở tiệm. Bày vẽ chi cho mắc công. Tui biết nó sợ tui cực nên hổng cho tui làm. Nghe nói đâu năm nay có tổ chức chợ Tết vào bữa mồng Hai. Tối qua, con Út nhắc tui soạn lại mớ áo dài để bận bữa đó. Tui soạn cho nó vui. Chứ tui chỉ ưng mặc cái áo bà ba thêu chị tặng tui hồi đó đó, chị còn nhớ hông. Ðể bữa đó đi dìa xong tui viết thơ cho chị nhen. Bây giờ tui phải đi tắm cho cục cưng của tui. Xong thì nấu cơm chờ vợ chồng con Út về ăn. Chị cho tui gởi lời hỏi thăm với chúc Tết tất cả bà con chòm xóm nhen. Xém chút quên, tui chúc chị với anh Năm một năm mới phát tài, may mắn, mạnh khoẻ và mau có thằng rể Út nghen. Sấp nhỏ bên chị thì học hành giỏi giang, mọi việc đều thuận lợi. Thôi tui ngưng nhen chị Năm.
Chín Trầu
Tứ Diễm
Quê Hương Một Thời
Tôi tên Nhàn. Sinh ở Miền Nam một làng quê thuộc sông Vàm Cồ Lớn lên cũng ở làng quệ Quê Nội và quê Ngoại cách nhau một đoạn đường chừng 5 cây số. Từ quốc lộ 1 nhìn về làng tôi chỉ thấy xanh xanh mấy hàng dừa, cao, ẩn hiện. Ðồng lúa bát ngát chín vàng vào dịp tháng 12 ,ngày gần Tết.
Mùa gặt dân làng thức dậy từ sáng sớm đổ ra đồng. Bên Nội, bên Ngoại đều làm ruộng. Nguồn lợi tức căn bản gắn liền với mảnh vườn, ao cá và ruộng lúa. Tôi là thằng bé học lớp năm cũng góp một bàn tay khiêm nhường cho gia đình bên nội, bằng cách trông chừng đàn trâu không cho ăn lúa. Tôi tập làm bẫy cò và nín thở, hồi hộp theo người bạn cùng xóm lớn tuổi hơn có kinh nghiệm đặt bẫy cò. Bỏ quên đàn trâu vào phá lúa, sợ ông nội đánh đòn nên trốn trên bồ lúa , ăn vụn cơm rượu ngủ quên bỏ cả cơm chiều , khiến mẹ tôi hết hồn, lo sợ tất tả đi tìm. Cho người xuống bến sông mò tìm vì sợ tôi té sông, bị chết đuối. Tôi chưa biết lội. Và chẳng muốn học lội vì sợ đỉa đeo. Sợ đến bây giờ. Một lần theo bạn tắm sông vào muà gặt mãi chơi với bạn tôi không để ý một con điả trâu đeo cứng ngang bụng. Tôi chạy lên bờ cứ như trời tròng, la, khóc chẳng biết làm sao. Sợ quá là sợ. Tôi thù con điả. Tuổi nhỏ hồn nhiên đầy kỹ niệm với bạn bè, lớn dần cùng con rạch, bờ ao, với đàn cò trắng, với cây bần chua ven rạch...
Tôi cũng là thằng bé hay mơ mộng, khi nhìn trăng lên, khi trông mặt trời chiều sắp lặn, ngồi lưng trâu nghe chim sáo hót trên đọt dừa. Cha tôi không ở nhà quê với mẹ tôi từ lâu lắm. Ông ở Saigon và đi làm việc ở một hãng kỹ nghệ ngành hàng hải, ông thường theo tàu đi khắp nơi... Thỉnh thoảng ông trở về nhà, mang theo mấy chai rượu và quà bánh cho ông bà Nội. Một ít hàng vải cho mẹ tôi và một số tiền. Rồi ông lại đi và tôi lại có thêm em... và mẹ tôi khóc thầm vì sầu lẽ bóng? Cha tôi kể chuyện đường xa rất hấp dẫn, cho tôi nghe và các chú bác về những bước lưu lạc xa. Ở những hòn đảo xa lạ, những bến bờ mà hồi đó tôi không để ý và nhớ hết. Nhớ làm gì những thứ đó có gì hấp dẫn, chưa lôi cuốn được tôi về những cuộc phiêu lưu của ông đối với tôi. Tôi chỉ mong sao cho bửa cơm chóng tàn để lỉnh sang hàng xóm chơi cùng đám bạn đồng tuổi. Mẹ tôi ít khi ra khỏi làng, trừ khi nhớ nhà mới xin phép Nội về thăm mẹ ruột bên ngoại, ngày giổ ông Cố hay ngày mồng hai tết. Bà thường nói " ở đâu cũng vậy, chỗ nào cũng toàn người". hay mẹ tôi sợ không muốn rời khỏi làng. Tội nghiệp mẹ tôi, cả đời người hy sinh cho con, một đàn con năm đứa, thiếu tình thương cha vì cha mãi bôn ba. Tôi là con chim đầu đàn nhưng cũng không giúp ích được gì nhiều. Mẹ tôi vừa làm dâu, vừa tảo tần buôn bán gạo cám và phải canh tác hai mẩu ruộng lúa được bên ngoại giao cho. Mẹ cực nhọc từ sáng sớm. Khi lên giường thì mấy đứa con đã ngũ say. Tôi chưa hiểu hay chưa đủ trí khôn để hiểu về những gút mắt của cuộc đời, dù sao anh em chúng tôi cũng được sự bảo bọc chu đáo của ông bà Nội, của chú bác họ hàng bên Nội. Tôi thương ông Nội tôi còn hơn cha tôi. Ông là người dạy tôi chữ Quốc Ngữ, chử Hán, chữ Tây. Ông thường cho phép tôi ngũ với ông, ông lo lắng tứng chút. Ðêm nhà quê, lắng nghe giọt mưa rơi tí tách ngoài hè, tiếng gió thổi rì rào trên những tàu lá chuối, trên những thân tre. Tôi nghe tiếng dừa rụng trong đêm. Tiếng cá lóc táp mồi sau nhà. Tiếng súng vọng về xa xa bên kia sông... Tôi nghe tiếng ông thở dài, yên lặng ngồi uống trà trong bóng đêm.
Rồi cha tôi đi mãi, lâu lắm không về. Mẹ vẫn còng lưng làm việc nuôi con cùng với những gánh nặng đè lên vai mẹ. Nhiều lần trong căn nhà vắng, đàn em ngủ say, trí khôn nẩy mầm với những so sánh đau xót về sự thiếu vắng tình thương ngày một nẩy nở. Nhiều lần vô tình nhìn mẹ khóc thầm trong đêm khi mẹ bị ông Nội khiển trách vì đàn con chọc phá hàng xóm. Mẹ cắn răng chịu đựng, mẹ đâu có ai để tâm sự. Mẹ cố làm vui, mẹ không muốn các con buồn. Hai chữ hy sinh của mẹ lớn dường bao, lòng mẹ bao la chừng nào... Người mẹ Việt Nam yêu quí của tôi.
Tiếng súng ngày một vọng về gần hơn, không khí bất an ngày thêm rõ nét, đêm đêm mẹ bảo các con tắt đèn ngủ sớm. Tôi vừa xong tiểu học, đang bước vào ngưỡng cửa Trung học, bớt nghịch ngợm và phá phách. Tôi đã biết phân biệt thế nào là nỗi buồn, thế nào là sự chia ly, hiểu mang máng về tình yêu, sự hy sinh của cha mẹ. Nhiều lần nhìn đàn cháu bắt đầu lớn. Hiểu nỗi quạnh hiu của mẹ tôi. Ông Nội tôi cảm thông nỗi bất hạnh của mẹ tôi nên đã có lần đề nghị mẹ tôi bươc thêm bước nửa với một người đàn ông khác... Ông sẳn sàng chấp nhận vì ông biết cha tôi đã sống với người khác. Mẹ tôi từ chối..." Cám ơn tía đã có lòng, con đâu còn ham muốn gì chỉ lo chon đàn con ăn học. Ðời con coi như đã xong, chồng bỏ bê không thương là số phận... con tin số con đã an bài như vậy... Con đã làm hết sức... con giao cho trời. Tiá đã thương, bảo bọc đàn con của con thế cũng đủ..."
Một năm vài lần về thăm ngoại, nhà Ngoại trong vườn cây ăn trái, ao cá thả sen. Ngoại là nhà Nho đúng nghĩa. Ông ăn trầu, búi tóc, tập võ, uống trà nằm võng đọc sách. Mọi việc đồng áng giao cho cậu mợ trông coi. Ông chỉ có hai người con, một trai và một gái là mẹ tôi. Nhà khá sung túc khi ông từ quan về qui ẩn. Có lẽ ông là kẻ sỉ bất phùng thời... Ông rất thương đàn cháu ngoại, nhưng sự lo lắng chăm sóc anh em chúng tôi không bằng bên Nội. Hay ông giận cha tôi quên tình nghĩa. Bà ngoại thật hiền, cưng cháu hết mực, cậu mợ và các anh chị bên Ngoại thật tử tế. Nhà Ngoại không bao giờ hết thức ăn như bánh tét, mức kẹo. Ngoại không tiếc gì hết cho cháu... Thương, cưng tụi nó để tụi nó về, lớn lên nó nhớ ông bà, tội nghiệp chúng nó thiếu cha!"
Chiến tranh về gần nhà hơn, súng nỗ hàng đêm bên kia sông. Nhiều nhà bị pháo kích bị cháy và bom nổ. Ðồng ruộng vắng bớt người. Nhiều người lạ mặt thường xuất hiện trong đêm. Mẹ tôi lo sợ cho đàn con, mẹ gầy hơn nhiều, bà có ý định về thành phố. Cuối cùng tôi phải giã từ mẹ về thành phố ở trỗ đi học cho đến lớp 12. Mẹ ở lại cùng với những khó khăn kinh tế càng lúc càng khẩn trương hơn....
Rồi như bóng mây tôi quen nàng, người con gái áo hoa cà tím. Nàng có đôi mắt đen và nuo cười hai má lún đồng tiền làm tôi ngơ ngẫn. Tôi đi vào tình yêu hồi nào, tôi nào hay biết. Tôi quên mất đồng quê, tôi quên đồng ruộng, quên bến đò. Quên cả con chó nhỏ quẩy đuôi mừng rối rít cho dù tôi xa nó từ lâu... Dù yêu, nhưng tôi với nàng còn nhiều giới hạn, tôi tự gạch cho mình một lằn mứt nào đó, chờ cho hết chiến tranh... Tôi sợ những hứa hẹn, những bất trắc của cuộc đời mà tôi không hề kiểm soát được . Nhìn tấm thân còm cõi của mẹ tôi thêm xót xa.
Vào quân đội trong muộn màng vì lệnh tổng động viên như nhiều người khác... Sự chia lià tất phải đến. Tôi không dám hứa hẹn gì nhiều ở tương lai vì tôi sợ nàng sẽ đi vào vết xe như mẹ tôi. Chờ cho đến hết đời... Tin thằng em kế tử trận, làm mẹ tôi buồn thêm. Những cánh thư cứ thưa dần và mất hẳn cùng với cường độ chiến tranh đang leo thang, nàng khuyên tôi rán giữ gìn tình yêu đẹp của hai đứa để làm quà. Duyên và phận là đây chăng? Tôi thở dài buồn hơn bao giờ. Buồn , nhưng thế cũng xong...
Ba mươi năm sau.
Saigon... ngày... tháng... năm... 199.
Kính gởi anh N. yêu dấu.
Ðược tin chị NH. về VN thăm nhà , thăm gia đình sau nhiều năm lưu lạc. Gặp lại chị ấy mừng muốn khóc tưởng như giấc mơ. Bạn bè thân thiết, mỗi người một ngả gặp lại đầu chẳng còn xanh, mộng ước cũng đã hầu tàn. Anh ơi, em tự hỏi có phải chúng ta mất hết chỉ còn nhau...? Ở một nơi nào đó, xa lắm em không tưởng tượng được. Anh còn nhớ em không, một người em gái thuở trướcc. Riêng em nhớ anh biết chừng nào.
Những quảng đời trôi nổi, thăng trầm theo vận nước đã làm nát lòng ta, làm chúng ta xa nhau... Em buồn lắm...
Anh yêu dấu, ngày nay ván đã đóng thuyền. Bên này, bên kia đại dương nghìn trùng xa cách. Nhớ anh hiều như thời mình mới biết nhau.
Chồng em vượt biên và mất tích (?) hơn 15 năm. Rồi em thành quả phụ... Hai đứa con đã yên bề gia thất... Thôi cũng xong...
Em sẽ về miền biển, ngày ngày đi trên bải cát em sẽ cố tìm cho được cái vỏ sò, một con ốc đẹp mà ngày trước anh mua tặng em của một cô bé bán sò bên bải bể. Em thả nó để lấy hên... Bây giờ nó ở đâu rồi. Một vỏ sò lạc loài nào đó như anh đã cho em. Em sẽ nhìn về phía đai dương xa mong một cánh buồm. Em sẽ bỏ vào chai lá thư tình ngày trước, em trả về biển cả. Hy vọng với cơ may nào đó sẽ vượt sóng đến tay anh... cho thư về chủ cũ...
Anh ơi. Em không còn đủ sức để giữ nó nữa. Em sợ cho em sẽ bỏ cuộc nữa chừng...
Anh yêu dấu. Em sẽ ngủ yên đêm nay. Biển rồi sẽ yên, như biển của anh. Tàu đã mang anh đi và che chở anh suốt hành trình. Suốt cuộc đời.
Anh yêu dấu. Chúng ta không ở gần nhau. Sẽ mãi mãi không gần nhau, nhưng em chắc em sẽ là áng mây. Em như bóng chim. Em nghĩ sẽ an ủi anh vì em tưởng như có anh rồi... Anh ơi. Em không còn đủ sức để viết... Em buồn quá.
Thư không còn đoạn kết...!
Trần Thị Minh Châu
Nguyễn Thị Bình Thường
ngày cuối cùng năm 1996