vhnt, số 268
3 February 1997
Trong số này:
Thư vhnt..................................................................BBT
T h ơ :
1 - Tháng Giêng - Em..............................................Lê Tạo
2 - Mùa Xuân - Chim Yến - Núi.....................Nguyễn Tất Nhiên
3 - Xuân..................................................Tôn Thất Hưng
4 - Khi Em Về........................................Nguyễn Ðình Toàn
5 - Xuân Và Em...........................................Trần Thái Vân
6 - Xuân Ấm Hương Rừng....................................Ðinh Hùng
7 - Niệm Ý Mùa Xuân...................................Trần Mặc Tâm
D i ễ n Ð à n V ă n H ọ c :
8 - Từ Thức: Chút Tản Mạn
Về Tình Người và Tình Yêu... Ngô Hà Ðông
Ð i ể m P h i m / Ð i ể m S á c h :
9 - ASIA VIDEO 13: Hoa và Nhạc.......................................BCCA
T r u y ện N g ắn / S án g T ác :
10 - Thi Tâm......................................Nguyễn Phước Nguyên
đi qua vùng cỏ non, ngỡ Mùa Xuân đang đến...
- Trịnh Công Sơn -
Anh đã đi qua vùng cỏ dại, gai cỏ vướng gấu quần, gai cỏ đâm ứa máu bàn chân. Ngày đó em không nói gì, chỉ lặng yên, bưóc theo anh đi tìm hoa xanh cỏ lạ Ngả ba đường, có mấy ai một lần chọn trúng, anh yêu em, lời âu yếm trên môi.
Lâu lắm lâu rồi, có ai còn đi qua cùng cỏ lạ. Hưong đồng nội có còn vương phảng phất, ngỡ mùi tóc em năm tháng mãi theo anh. Anh đi qua trăm vạn nẻo đưòng, nhiều cay đắng, nhiều nồng nàn hạnh phúc: tất cả là giấc mơ dài, đêm về sáng, khi bừng tỉnh chỉ còn vòng tay trống trải. Giọt nưóc mắt muộn màng không xóa nổi niềm đau năm tháng.
Chiều xuân đường quê pháo nhuộm hồng , em không nói gì, chỉ lặng yên, bưóc theo chồng. Những trang vở ép nhiều hoa cỏ dại đã phai màu chờ mong ; anh đã không về. Yêu vội vàng cho quãng ngày còn lại; gởi anh mùi hoa dại chiều xưa.
Chiều nay, bên ngưòi yêu mới, đi qua vùng cỏ dại, giật mình với mùi hương. Mắt môi cười, những nhịp tim rung, như tìm lại dư âm ngày cũ. Trong ngây thơ, em nào biết đuợc, đã một lần người ấy qua đây.
thân ái,
Sung Nguyen/vhnt
Tháng giêng - Em
Cởi áo đông em chờ Tết đến
tim nhịp xuân, má nhuộm pháo hồng
từng bước nhẹ, mộng sao mỏng quá
nghe bâng khuâng trên những tầng không.
Tháng giêng - Em, hồn Anh trỗi dậy
mừng đầu ngày, mật ngọt tháng năm
góc ót trắng thoảng hương trời đất
người lạc về bồ kết xa xăm.
Tháng giêng trong, trong như đáy mắt
hồn trượt chân trong cõi hư hao
tháng giêng ngoan, hiền như suối tóc
chảy trăm giòng, tụ giấc chiêm bao
Tháng giêng - Em, và Em - tháng giêng
lòng ta say trên đỉnh nẻo phiền
áo em vàng, ngai cao lộng gió
ta trở về, còn dính vệt son.
Cảm ơn đời, tháng giêng mầu nhiệm
trọn năm dài - vạt nắng đầu xuân
sưởi ấm áp cõi lòng hiu quạnh
trái tim anh trổ những chồi non.
Lê Tạo
Mùa Xuân, Chim Yến, Núi
tết, gần rồi đó nhỏ
chim núi của lòng anh
tội tình chi thế nhỏ
tội tình chi thế, nhỏ?
mắt, lệ còn long lanh
mắt, lệ dẫu thành sông
vẫn là ta khốn khó
vẫn là ta héo mòn
chớ hay ho gì, nhỏ?
hạnh phúc nào mong manh
cũng cần gom góp hết
bởi tụi mình chung thân
bị trời hành trời phạt
dấu diếm mãi mùa xuân
ở một trần thế, khác!
thôi hãy nghĩ như mình
lúc đầu thai, đã thích
chọn kiếp đời điêu linh
nhỏ nặng nề đau tim
với từng cơn chết giấc
anh ốm nhách ốm nhom
kéo lê ngày đói rách!
Ðà lạt đồi thông xanh
nhỏ làm chim nội trú
Biên Hòa sương đồng bằng
anh làm xe đạp cũ
cọc cạch từng mắt xên
rán lăn vòng bánh, vẹo
ba trăm cây số đường
nhỏ chờ anh chứ, nhỏ?
mùa xuân tâm hồn anh
có con chim yến, khổ
bay lẩn quẩn loanh quanh
trong rào sân trường đạo
yến ơi và yến ơi!
tết, gần rồi đó nhỏ
chim núi của lòng anh
nhớ, ra đồi thông xanh
khuyên chúng đừng chết rũ
nhớ, ra đồi thông xanh
dịu dàng ru chúng ngủ
bằng một bài thơ anh
bằng một bài thơ anh
nhỏ nên luôn thể, ngủ
hạnh phúc nào trong mơ
cũng ngàn lần hơn thật
và, vì anh làm thơ
nên, cuối cùng biến mất
Nguyễn Tất Nhiên
Xuân
Hoa cà phê ướp thơm lừng giấc ngủ
Hoa ướp huơng giọt mật ong vuờn
Vị xuân đầu sao ngọt lịm
Ong kiếm tìm những hạt phấn bâng khuâng.
TTH
Khi Em Về
Khi em về trời xanh và gió mát
Con đường mòn thơm lá mục quê hương
Vườn cải ngồng dỗ ong bướm về sân
Anh nằm đấy buổi trưa và tiếng nắng.
Mặt đất mềm bước chân em chợt nặng
Lá tre vàng dồn thổi mùa thu đi.
Luống huệ ấy xòe những vồng hoa trắng
Và đầy thềm lá rụng, liếp phên che.
Quê mẹ đấy, ưu phiền nhiều quá lắm
Hàng cau già mo thương bẹ quắt queo
Anh nằm đếm những ngày và những tháng
Ði qua dần khi nước mắt buông theo.
Kỷ niệm vẫn còn nguyên vẹn đó
Trời tháng giêng tháng bảy buồn như nhau
Gió vẫn thơm mùi hoa bưởi hoa ngâu
Rồi Tết đến, rồi lòng anh nhớ quá
Khi em về bước xưa chừng xa lạ
Và cỏ hoa tất cả đã vắng im
Giấc ngủ ấy một đời anh ao ước
Từ máu mình hoài rứt khỏi đường tim.
Em đừng khóc, đừng buồn, đừng nhìn nữa
Cứ cúi đầu, cứ thế rồi ra đi
Trời sẽ tối, tiếc thương rồi sẽ hết
Và dấu giày mai sẽ lá sương che.
Nguyễn Ðình Toàn
Xuân Và Em
Về đây em khi mùa xuân vừa tới
Cùng hoạ thơ, viết nhạc giữa trời mơ
Ngàn hoa tươi và lộc non, chồi mới
Nắng chan hoà ngàn lối dệt vàng tơ
Về đây em tình xuân còn đương thắm
Gió hiền từ, như Bụt, thổi hồi sinh
Trên trời cao ánh cầu vồng lấp lánh
Én tung bay đôi cặp tựa nhân tình
Về đây em cho đời vui mai mãi
Cho Ngưu-lang, Chức-nữ nổi hờn ghen
Anh sẽ hái cho em ngàn hoa dại
Sẽ cùng em ngồi nhóm lửa, lên đèn
Về đây em cho tình thơ thêm ấm
Cho cuộc đời thêm một bóng giai nhân
Cho hoa đào vội vàng khoe sắc thắm
Cho yêu đương vồn vã đến thêm lần
Về đây em, hỡi người em yêu dấu
Ðời gian nan, thay đổi, dễ xa nhau
Anh cảm ơn Thượng đế phép nhiệm mầu
Ðưa Vũ Trụ cùng em vào xuân mới.
trần thái vân
Xuân Ấm Hương Rừng
Thương em, trăng xế nửa vầng,
Mùa xuân thở ấm hương rừng trên vai.
Giang tay ôm bóng núi dài,
Ðá thiên sơn có hồn ai tạc hình?
Tiếng vang chim lạ gọi mình,
Huyền âm chín cõi u minh hiện về.
Sao chìm đáy mắt sơn khê,
Màu đêm dã thú hôn mê tóc rừng.
Lửa sàn linh loạn hoa dung,
Núi nghiêng vai áo cẩm nhung đổi màu.
Hồn nào ngủ thiếp bông lau
Bạc thời gian, cánh bướm sầu ngàn xưa.
Chập chờ khe liếp trăng mưa,
Bên Em, mùi phấn giao mùa còn say?
Nửa vầng trăng, nét xuân gầy,
Ta mơ giấc ngủ còn ngây hồn rừng.
Em đi, sầu núi chất từng,
Gót chân từ thạch buông trùng sóng hoa.
Mây bay ánh mắt trăng tà,
Nồng hương cỏ dại, sương pha áo ngàn.
Người đi vào giấc mơ tan,
Ta soi dòng suối đêm tàn tìm nhau.
Ðinh Hùng
(trích Ðường Vào Tình Sử)
niệm ý mùa Xuân
đêm huyết nguyệt hồn Xuân khô máu
cuối đường tim tắt nghẽn mạch đau
ta quì xuống đời hôn thắm mệt
thơ nửa vời đuối thẳm vực sâu
con chim én lao mình khóc thảm
đôi cánh hời lượn khuyết vòng cung
bầu trời nắng chưa từng độ lượng
rải mưa gai sắc gợn mây nhung
mùa sang hứa hẹn chồi lộc mới
ửng cành mai đượm nét Đông pha
chữ rụng xuống cội phần mặc tưởng
gieo vần Xuân niệm ý ứa hoa
gã cuồng sĩ yêu đời xuống tóc
ngâm da vàng giặt trắng nghìn năm
mang văn tự hồn thiên sông núi
đốt nụ cười sưởi ấm hàn tâm
nguyên thủy quyện đỉnh trinh băng tuyết
khép thiên thu kín cõi sơn hà
Xuân vọng quốc đo lòng - sâu? cạn?
kích thước nào diện tích vinh hoa?
đời bí ẩn làn sương huyền nhiệm
liệm hồn Xuân, khuyết mảnh trăng tà
trần mặc tâm
TỪ THỨC: CHÚT NGẪU HỨNG VỀ TÌNH NGƯỜI VÀ TÌNH YÊU
(Tặng 'nhà bác' Ðinh, thay lời chúc Tết.)
Rằng xưa có kẻ từ quan,
Lên non tìm động hoa vàng...
- Phạm Thiên Thư -
VÀO:
Thời gian gần đây, 'văn đàn hải ngoại có hai khuynh hướng đối nhau trổi bật.
Khuynh hướng thứ nhất thường chọn văn đề từ cuộc sống hiện tại nơi xứ ngưòi. Ðại loại: Nhân hội Mardis Gras vọng mỹ nhân rừng Boulogne của một Bolsa dị nhân, v.v... Hãy tạm gọi là 'văn hướng hội nhập' của các nhà-văn-nghệ-yêu-tự-do-hiện-tị-nạn-chính-trị-tại-hải-ngoại.
Khuynh hướng thứ nhì hoài cổ, thường chọn văn đề từ quá khứ nơi quê nhà. Hãy tạm gọi là 'văn hướng hướng tâm'. Văn đề là khung cảnh xứ mình, và cuộc sống quá khứ. Những cây viết thuộc 'diện' này đa số có học vị, chức vị cao, mức sống vật chất không thấp, và sinh kế tương đối phụ thuộc vào hệ thống kinh tế - xã hội xứ người - nghĩa là tương đối độc lập với thị trường cộng đồng người Việt Nam hải ngoại. Ðáng nói nhất là không ít người trong số này là các nhà khoa học tự nhiên, hoặc các kỹ thuật công nghệ gia: vật lý không gian, thầy thuốc, điện toán, v.v...
Hãy gượm 'mừng' về văn hướng hội nhập. Hãy khoan 'lo' về văn hướng hướng tâm. Ðể tán gẫu một chút về Từ Thức - một con người từ sáu trăm năm trước có vấn đề 'tục' và giài pháp 'tiên'. Bỏ 'tục', có 'tiên'. 'Về tục', mất 'tiên'. Tình người và tình yêu của Từ Thức, có gì đáng nói.
Tán gẫu mà thôi. Không biện hộ, cổ vũ hoặc lên án bất cứ một thái độ chính trị, cuộc đời ái tình và sự nghiệp nào.
MỞ:
Truyện Từ Thức thường được lưu truyền dưới dạng truyện cổ tích (1). Nguyễn Dữ (2) là người đầu tiên ghi chép truyện đó trong bộ Truyền Kỳ Mạn Lục (TKML) bất hủ của ông. Về Từ Thức, có hai điều đáng bàn: Một là, về tình người của Từ Thức. Hai là, về tình yêu của Từ với tiên nữ Giáng Hương.
THỰC và LUẬN:
I. VỀ TÌNH NGƯỜI CỦA TỪ THỨC:
Truyện rằng Từ Thức người ở Châu Ái (Hóa Châu, Thanh Hóa). Hết thảy sách chép chuyện về Từ Thức đều bắt đầu một cách rất 'tiên' rằng Từ Thức có tự vào cuối thời Trần (đời Trần Thuận Tông, niên hiệu Quang Thái 1388-1398). Không tác gỉa nào biết để cho người đọc biết về năm sinh của Từ Thức. Chắc để bảo đảm tính 'tiên' của chuyện. Trong ngụ phỏng đó, không biết năm sinh của Từ Thức là điều đáng khuyến khích (vì nếu có sinh thì lại có lão, bệnh, tử - e rằng tục quá, mất đi cái tiên); nhưng không ai cấm ta đoán năm sinh Từ Thức ở khoảng năm 1388 - 20 tuổi = 1368. (Một phần suy từ sự kiện) năm 20 tuổi chàng con nhà quan được bổ làm quan: Tri huyện Tiên Du (tỉnh Bắc Ninh cũ, nay thuộc Hà Bắc ) nhờ học giỏi, và đậu cao.
Hiện tại là sản phẩm của quá khứ, và nhân cách có thể giải thích gần đúng cho hành tung của một con người. Một thư sinh đã học giỏi, và đậu cao thường sẽ là một quan chức chuyên cần với công vụ. Hay rượu, thích đàn, yêu thơ, mến cảnh tất nhiên là có nhưng chắc là không mải mê đến nỗi khiến vị Quan huyện bê trễ việc công tới độ bị cấp trên khiển trách nặng. Mặt khác, ta có thể xác quyết rằng sự ham vui của Từ Thức không phải là lý do chính dẫn đến sự từ quan của ông bởi: ông là con của một vị đại thần, dòng giống và hiếu đễ không cho phép ông làm mang tiếng thanh danh gia tộc; hơn nữa, ông được tiếng hiền đức với nhân dân sở tại. Do đó, mê chơi hẳn chỉ là cái cớ để từ quan. Và từ quan vì lý do chính trị. Thời khoảng từ quan của Từ Thức là đúng vào bối cảnh xã hội giặc giã nổi lên như ong: loạn Phạm Sư Ôn, giặc Chế Bòng Nga, rồi sự chuyên quyền của Lê Quý Ly. Nếu ông không thể là một phần của giải pháp, ông cũng không thể là một phần của vấn đề. Nhất là khi một phần của vấn đề chỉ là miếng cơm manh áo - cái 'gióp': 5 đấu gạo đỏ. Dạ vâng! 5 đấu gạo đỏ. Ở ông không có chuyện trá ngụy 'ta nuôi chí lớn vòng cơm áo', đó là một điều khả tín. Chính trị là nhân bản và dân tộc. Làm nghề chính trị mà không nhân bản, mà phi dân tộc là làm tà loạn (chính đối với tà, trị đói với loạn). Nếu từ quan vì lý do chính trị, có thể nói thẳng ra ở đây rằng, động lực của Từ Thức là tình người - là tình thương dân bởi không muốn tiếp tay với bạo quyền áp bức và bóc lột nhân dân (qua việc bê trễ về sổ sách thuế má). Ít nhất và trước hết là như thế.
Câu Từ Thức nói: ''Ta không thể vì số lương đấu gạo đỏ mà buộc mình trong áng lơi danh. Âu là một mái chèo về, nước biếc non xanh vốn chẳng phụ gì ta đâu vậy '' [TKML, bản dịch Trúc Khê, trang 115] tỏ rõ sự can đảm và tự trọng, tư cách chính trị và nhân sinh quan thoáng thoát của ông. Bỏ cái hủ Nho, lấy cái Ðạo tiên - nếu muốn công thức hóa sự lựa chọn dứt khoát của ông.
Trước đó, tình người và lòng thương dân của Từ Thức thể hiện rõ ở chỗ Từ Thức động mối lòng thương cởi phăng tấm áo cừu trắng ra chuộc thiếu nữ bị bọn buôn thần bán thánh làm tiền. Chuyện có gì đâu! Chỉ vì thiếu nữ đi hội ngắm hoa, vô ý vin cành hoa, không may cành giòn, cành gãy khấc. Quan huyện không cố tình, ngụ ý gì. Nhưng thiếu nữ để ý - để ý kỹ.
Cái tốt nhân tính của người đàn ông chưa chắc đã là cái đúng chính trị. Nhưng chắc chắn cái tốt đó là cái đúng, và là cái đẹp trong tình yêu nam nữ.
2. TÌNH YÊU CỦA TỪ LANG VỚI TIÊN NỮ GIÁNG HƯƠNG::
Tri huyện Từ Thức 'đi nhẹ vào đời' Giáng Hương tháng 2 năm Bính Tý (niên hiệu Quang Thái thứ IX, 1396) nhân Hội Mẫu đơn. Quán Thế Âm Bồ Tát/ Lục Vân Tiên Từ Thức 'cứu khổ, cứu nạn' Giáng Hương. 'Một ngày nên nghĩa'. Cô con gái 16 tuổi xinh đẹp của Ngụy Phu nhân hẳn đã kể, xin và được mẹ chịu cho lấy Từ Thức 'đền ghì trúc mai'.
Tiên Giáng Hương táo tợn nhưng chung tình (túi không tiền mà dám một mình đi chơi Hội Thưởng Hoa để xảy cớ sự, và quan trọng hơn dám trả nghĩa bằng tình yêu, hôn nhân: ''Không như thiếp bảy tình chưa sạch, trăm cảm dễ sinh, hình ở phủ tía nhưng lụy vướng duyên trần, thân ở đền Quỳnh mà lòng theo cõi đục'' [TKML, bản dịch Trúc Khê, trang 122] mà vẫn nghiêm túc: ''Chàng đừng nên nhân một mình thiếp mà cho là tất cả quần tiên đều thế ''[vừa dẫn]. Như thể Công chúa Tiên Dung là tiền kiếp của Giáng Hương. Ðược tình vợ, được cả lòng mẹ vợ. Ðáp lại luận điệu 'kỳ thị' của tiên mặc áo bào xanh, Ngụy Phu nhân nói: ''Tôi nghe tiên khá gặp chứ khôn tìm, đạo không tu mà tự đến. Những cuộc gặp gỡ hiếm lạ, đời nào mà không có... Bao nhiêu những chuyện cũ còn sờ sờ đó; nếu thế này mà bị chê cười thì đã có những người trước ấy họ chịu đỡ tiếng cười cho mình'' [TKML, bản dịch Trúc Khê, trang 122].
Ẩn sĩ Tống Sơn Từ Thức sống hạnh phúc với Giáng Hương nơi điện Quỳnh Hư, chỗ gác Dao Quang, chốn động tiên thứ sáu núi Phù Lai. Quãng đời đó, họ không có gì phải than trách, đấu tranh giai cấp, cách mạng, cải cách, đổi mới. Ở đâu không có áp bức, ở đó không có đấu tranh. Do đó, không có gì để nói, để viết về họ trong thời kỳ đó cả.
Và cũng do đó, thơ của Từ Thức tuy số lượng cao nhưng phẩm chất thấp. Khi hạnh phúc thì không nên làm thơ; vì thơ được đẻ ra trong hạnh phúc thường là thơ thiếu tháng: vừa thiếu nghệ thuật, và vừa kém nhân sinh. Nhiều người khen tài thuổng thơ của Minh Mạng, của Tự Ðức chứ ít người khen tài làm thơ của các tay vua này. Giản dị là vì họ có bao giờ họ đau khổ đâu. Họ chỉ gây đau khổ cho người khác. Và thơ của người bị họ gây đau khổ mới là thơ để đời (như thơ của Cao Bá Quát). Lúc đau khổ thì mới nên làm thơ. Nếu đau khổ bằng các nhà làm thơ Ðường thuở trước thời bắt buộc thơ cũng hay như thơ Ðường. Song, thơ Từ Thức lộ triệu bất tường, như ''Hương tâm hà xứ nhất thanh kê'' (Lòng quê theo dõi áng mây tần) [TKML, bản dịch Trúc Khê, trang 125] hoặc ''Dạ lai hà xứ mộng hương quan'' (Mộng về quê cũ lối khôn thông) [TKML, bản dịch Trúc Khê, trang 126].
Có nhẽ không ai thắc mắc về con cái (có hay không, mấy đứa, như thế nào?) của vợ chồng Từ Thức - Giáng Hương, cũng như không ai thắc mắc về sức khỏe của Thúy Kiều sau mười lăm năm biết bao nhiêu tình. Thắc mắc thế thì tục quá. Tiên mà. Ðoạn kết có hậu, happy ending vui rồi. Nguyễn Du dứt khoát giải quyết vấn đề do ông đặt ra. Rồi còn 'Bất tri tam bách dư niên hậu. Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như'' hậu tính. Trái lại, hình như Shakespeare cho rằng vì con người là nguồn gốc của vấn đề nên hết con người, nên con người chết là hết vấn đề; còn con người, còn vấn đề; hết con người, hết vấn đề: unhappy ending, cứ chết là hết chuyện thôi. Margaret Mitchell trong Cuốn Theo Chiều Gió lại trao quyền định đoạt kết cuộc cho người đọc vì chắc không ai muốn có một unhappy ending.
Trở lại Từ Thức, một chung cuộc mối tình đầy nuối tiếc. 'Tình thiếp, ý chàng, ai sầu hơn ai?'. Quyết định từ quan không có gì tiếc, như mọi quyết định khác nơi trần tục. Nhưng quyết định thứ hai quả đáng tiếc, không chỗ nào so được với cõi tiên nên không việc gì phải lựa chọn cả; nếu lựa có nghĩa là chọn đáng tiếc. Và đây là quy luật của cuộc chơi: được tiên mất tục, được tục mất tiên. Từ Thức không biết. Nhưng Giáng Hương biết. Ngụy Phu nhân biết. Từ Thức tưởng được hết, nhưng mất hết. Ngụy Phu nhân tiếc: ''Không ngờ chàng lại thắc mắc vì mối lòng trần như vậy'' [TKML, bản dịch Trúc Khê, trang 128], nói với Từ Thức: ''Ðừng nên cho câu chuyện thần tiên là câu chuyện hoang đường'' [vừa dẫn], Từ Thức không nghe. Ðau khổ hơn cả chính là Giáng Hương. K hông chờ hóa đá vì là vô ích. ''Kết loan lữ ư vân trung, tiền duyên dĩ đoạn; phỏng tiên sơn ư hải thượng, hậu hội vô nhân'' (Kết bạn loan ở trong mây, duyên trước đã đứt; tìm núi tiên ở trên biển, hội sau khôn cầu [Nguyễn Tử Quang, trang 60]. Chỉ xin Từ Lang ''đừng quên tình cũ''.
Tiếc, nhưng chớ trách vì quyết định của Từ Thức là quyết định phát xuất từ lòng yêu quê hương của một con người. Quyết định nào của con người không xuất phát từ tính người, và không xuất phát từ lòng yêu quê hương mới đáng trách. Từ Thức không ái ngã, mà ái tha (không ái tha, làm sao có Giáng Hương?). Từ Thức có tình yêu, nhưng không quên và vẫn còn thiếu tình người quê hương. Thiếu chịu không nổi. Phải một lần gặp lại người quê hương: huyện Tống Sơn, núi Chích Trợ, động Lục Vân, sông Lãi, cửa Nga, cửa Thần Phù mới yên lòng vui hưởng mối tình tiên.
Quy cố hương, đồng hương xa lạ - nên Từ Thức trở thành cổ nhân, tiền nhân. Trở lại thiên đàng cõi tục. Thiên đàng cõi tục đã mất. Ngơ ngác. Tìm về thiên đàng cõi tiên. Thiên đàng cõi tiên không còn. Ngẩn ngơ. Ðâu là thiên đàng?
Và đừng trách tại sao Từ Thức không về vào lúc Lê Lợi khởi nghĩa, tham gia kháng chiến chống quân Minh xâm lược. Nguyễn Dữ cho hay sau đó Từ Thức ''mặc áo cừu nhẹ, đội nón lá ngắn, vào núi Hoành Sơn, rồi sau không biết biến đi đâu mất''[vừa dẫn]. Năm đó là 1458, niên hiệu Diên Ninh đời Lê Nhân Tông (vua thứ ba nhà Hậu Lê). Tính theo lịch trần, mối tình của Từ Thức với Giáng Hương là sáu mươi năm. Tính theo lịch tiên, mối tình tục- tiên kéo dài một năm. I năm tiên bằng 60 năm trần. Bằng một đời người. Sống một đời trần tục, tương đương sống một năm tiên cảnh. Phải chăng đời người chính là tiên cảnh?
Lê Quý Ðôn vịnh (thơ Hán, dịch Nôm trong Nguyễn T. Quang, trang 60]:
Câu chuyện thần tiên rất khó lường,
Bích Ðào động nọ đã hoang lương.
Áo bông gió bụi: thân Từ Thức,
Mày liễu xuân tàn: sắc Giáng Hương.
Trống đá ngày qua nghe gió động,
Nhũ diêm sương nhuộm mất mùi thường.
Thiên thai mộng tưởng cho thêm khổ,
Ai biết thiên thai cũng hí trường.
Một mối tình lớn. Như bao mối tình khác của Việt Nam. Yêu = Chân + Thiện + Mỹ.
SUY:
Ngoài mặt tiên, mặt tục của Từ Thức giống y hệt mặt tục của Nguyễn Dữ. Cũng học giỏi, đỗ cao, làm quan huyện. Cũng xin từ quan vào buổi nhiễu nhương - sự bất lực và tự trọng thường hằng của kẻ sĩ có, và còn sĩ khí. Phải chăng Từ Thức chính là Nguyễn Dữ? Mặt tục của Từ Thức chính là vấn đề trần thế của Nguyễn Dữ. Và mặt tiên của Từ Thức chính là giải pháp cho vấn đề của Nguyễn Dữ? Cả vấn đề lẫn giải pháp của Từ Thức, của Nguyễn Dữ cũng là vấn đề, cũng là giải pháp - như ta vừa nói, của kẻ sĩ bất lực và tự trọng. Từ Thức là gửi gắm của Nguyễn Dữ? Là giải thoát bế tắc cho Nguyễn Dữ? Một giải thoát bế tắc của một cá nhân ở một thời nhưng cho mọi cá nhân ở mọi thời.
Chuyện Từ Thức xảy ra thời nhà Trần. Tương tự, chuyện Tú Uyên cũng xảy ra vào thời nhà Trần. Chỉ có tiên vào thời nhà Trần, không có tiên vào thời nhà khác. Thời nhà Trần - kế thừa thời nhà Hậu Lý, đình cao là ba lần oanh liệt đại thắng quân Mông Cổ xâm lược - là thời nước ta cực thịnh về Thiền học (Thiền Trúc Lâm, vua Trần Thái Tôn và vua Trần Thánh Tôn). Phải chăng Thiền dân tộc có khả năng cho người Việt Nam những giải pháp 'tiên' cho vấn đề 'tục'? Phải chăng trước hiện tại bế tắc và tương lai mờ mịt, thiên hướng phản ứng vọng về hương xưa quá khứ nơi 'trí thức tiểu tư sản' Nguyễn Dữ là thời nhà Trần vàng son. Không ít người thời nay chia xẻ với Nguyễn Dữ tâm trạng hoài phục cổ đó. Vì thời đại Quang Trung kéo dài 'không quá một buổi sáng'.
Tọa trung khấp hạ thùy tối đa.
Giang Châu Tư mã thanh sam thấp'
- Bạch Cư Dị - (10)
TRƯỚC KHI HẾT:
Hiện tượng khuynh hướng văn học hướng tâm dính dáng gì tới sự kiện Từ Thức? Tùy. Chỉ tán gẫu qua liên tưởng hiện tượng hướng tâm với sự kiện Từ Thức. Nếu chuyện Từ Thức được dựng thànn phim, cảnh cuối của phim (vai chính Từ Thức ''mặc áo cừu nhẹ, đội nón lá ngắn, vào núi Hoành Sơn, rồi sau không biết biến đi đâu mất'') sẽ khiến người xem man mác lâng lâng. Man mác lâng lâng như khi xem hết câu truyện Từ Thức (11). Tục, tiên vô định. Ðời người có hạn, hạnh phúc có hạn về số lượng, về không gian, thời gian. Nhưng truyện hay không bao giờ có hạn.
Ngô Hà Ðông
SÁCH BÁO THAM KHẢO
Bửu Kế, Tàm Nguyên Tự Ðiển, Nxb Tp Hồ Chí Minh, 1993, trang 496.
Hoàng Trọng Miên, Việt Nam Văn Học Toàn Thư, quyển 2, Quốc Hoa, 1959, trang 115 - 20.
Nguyên-Tử-Năng, Thần Thoại Việt Nam, 1966, trang 125 - 35
Nguyễn Dữ, Truyền Kỳ Mạn Lục: Toàn tập, bản dịch của Trúc Khê Ngô Văn Triện, Xuân Thu, trang 115 - 29.
Nguyễn Ðổng Chi, Kho Tàng Truyện Cổ Tích Việt Nam, Viện Văn học, 1993, trang 1459 - 68.
Nguyễn Huyền Anh, Việt Nam Danh Nhân Từ Ðiển, Zieleks, 1990, trang 235. Nguyễn Tử Quang, Ðiển Hay Tích Lạ, Khai Trí, 1974, trang 57 - 60.
Phạm Duy, Hòi Ký: Thời Phân Chia Quốc Cộng, PDC Musical Productions, 1991.
Phan Kế Bính, Nam Hải Dị Nhân Liệt Truyện, Sóng Mới, USA.
Trần Trọng Kim, Việt Nam Sử Lược, quyển 1, Xuân Thu, 1990, trang 181 - 4, 265 - 276.
Chú Thích:
1 Na ná truyện cổ Từ Thức của ta, người Nhật có Người câu cá trẻ tuổi [Nguyễn Ðổng Chi, 1993:1497], người Hoa có Lưu Thần & Nguyễn Triệu (người đời Ðông Hán) nhập Thiên Thai [Bửu Kế, 1993:317], và người Mỹ có nhân vật Rip Van Winkle của W. Irving [cảm ơn cháu Như Ngọc về lời nhắc].
2 Tác gỉa của bộ Truyền Kỳ Mạn Lục. Không rõ năm sinh, năm mất chính xác. Khoảng sống của ông áng chừng từ đời Cảnh Thống (1498 - 1504) đến hết nhà Hậu Lê sang tới đàu nhà Mạc. Ông là người làng Ðỗ Tùng, huyện Trường Tân, tỉnh Hải Dương (nay là làng Ðỗ Lâm, huyện Gia Lộc). Ông là con Thượng thư Nguyễn Tường Phiếu (tiến sỉ khoa Bính Dàn năm 1496 thời Hồng Ðức. Khi mất được ban phong là Phúc thần), và là học trò của Nguyễn Bình Khiêm. Ðỗ đầu Hương tiến. Ðược bổ Tri huyện Thanh Toàn, nhưng chỉ một năm sau ông từ nhiệm xin về phụng dưỡng mẹ già. [TKML, bản Trúc Khê dịch, tr. VII - VIII & Nguyễn Huyền Anh, tr. 235]}.
3 Thực ra, đều bắt nguồn từ nguyên tác TKML.
4 Thực ra, vì Nguyễn Dữ cũng không biết hay có biết mà không cần cho biết. Cũng giống, như ta vừa nói, không rõ năm sinh và năm mất của Nguyễn Dữ.
5 Nặng tới nỗi lôi bố Từ Thức ra mà mắng Từ Thức.
6 Hệt bối cảnh từ quan của Nguyễn Dữ: đó là những năm của vua Quỉ (Lê Uy Muc, 1505 - 1509), vua Lợn (Lê Tương Dực, 1510 - 1516), Lê Chiêu Tông và Lê Cung Hoàng (1516 - 1527), giặc Trần Cao, Mac Ðăng Dung chuyên quyền.
7 Không có Từ Thức, đêm về số phận của Giáng Hương ra sao với các vị 'lãnh đạo tinh thần'. Ðây chỉ giả thiết như là một 'scenario'. Ðừng tưởng tượng 'tục'.
8 Ðúng hơn, người đàn bà Giáng Hương cảm, phục, yêu cái đàn ông tính của người đàn ông Từ Thức. Nói chung, nơi người Việt Nam thủa xưa, nghĩa rất thường đi trước tình, và tình lớn lên do nghĩa nuôi dưỡng.
9 Con vua Hùng vương thứ III. Vợ Chử Ðồng Tử.
10 'Lệ ai chan chứa hơn người, Giang Châu Tư mã đượm tràn áo xanh' (Phan Huy Vịnh dịch, Bửu Kế, 1993: trang 188.)
11 Kỳ thực, phim hay là nhờ truyện hay.
Asia Video 13: Hoa & Nhạc
Sau những thành công rực rỡ của các chương trình ca nhạc video, cuối tháng 12/96 vừa qua, trung tâm Asia đã rầm rộ phát hành bộ Video chủ đề "Hoa và Nhạc", với sự góp mặt của một số nghệ sĩ tên tuổi trong làng tân nhạc Việt Nam và những khuôn mặt mới, trẻ trung tươi mát với lối hát nhẹ nhàng và cách trình diễn sống động.
Video "Hoa & Nhạc" là một phối hợp kỳ diệu từ phim trường thực hiện, cách bố cục, cảnh trí sân khấu, kỹ thuật, màu sắc ánh sáng, nghệ thuật dàn dựng điệu múa phụ hoạ cho đến nội dung chương trình. Bộ video này được thực hiện tại phim trường của đài truyền hình Radio Canada nổi tiếng ở Montreal.
Với chiều hướng đi tìm cái mới cái lạ, trung tâm Asia lần này giới thiệu đến giới thưởng ngoạn ngoài những tác phẩm của các nhạc sĩ đã thành danh, còn nhiều nhạc phẩm mới được trình làng lần đầu tiên của các nhạc sĩ trẻ, một số nhạc phẩm được phổ từ thơ của các nhà thơ như: Ðặng Hiền, Ðỗ Trung Quân, Hà Quân Thủy, TTKH, Phạm Thiên Thư, Hữu Loan... trong suốt chương trình dài 2 tiếng chúng ta sẽ được đưa vào một thế giới đầy chất lãng mạn với thơ, hoa và nhạc...
Mở đầu chương trình nữ ca sĩ trẻ Thanh Trúc, một giọng ca mới được khám phá gần đây, thật duyên dáng và trẻ trung sẽ đưa chúng ta lạc lối vào một rừng hoa với chuyện tình thơ mộng qua nhạc phẩm "Mối tình thơ" được phổ từ thơ của nhà thơ Ðặng Hiền. Nam ca sĩ Gia Huy dẫn chúng ta đi ngược dòng thời gian về với thời học sinh áo trắng và chuyện tình ngây thơ của tuổi học trò qua lời thơ của Ðỗ Trung Quân đã được viết thành ca khúc "Phượng Hồng".
Một vì sao cô đơn
Hai vì sao diễm tình
Mai này tôi xin cưới
Nhớ gật đầu nhe không
Bốn câu thơ thật dễ thương này của Hà Quân Thủy đã được phổ thành ca khúc tựa đề "Trăng Sao" qua sự trình bày của nam ca sĩ Mạnh Ðình. Khánh Hà thật điêu luyện và trữ tình qua nhạc phẩm "Một mình" của nhạc sĩ Lam Phương. Thanh Mai, từ lâu vắng bóng trên sân khấu, đưa chúng ta về lại Ðà Lạt mộng mơ với ca khúc "Ai lên xứ hoa đào". Shayla và Lê Tâm, 2 khuôn mặt mới của sân khấu Asia, sống động với 2 nhạc phẩm ngoại quốc "Falling into you" và "Where do you go". "Những đồi hoa sim" nhạc phẩm được phổ từ thơ Hữu Loan nói về chuyện tình thời chiến chinh được trình bày qua tiếng hát Phương Dung. Lâm Nhật Tiến với ca khúc mới "Em đã quên một giòng sông". Và những lời chúc xuân của ba ca sĩ trẻ Nini, Johnny Dũng, Nhật Quân qua "Liên khúc mùa xuân".
Màn kế tiếp là màn tôi mong đợi nhất: đó là Khánh Ly cao vút với nhạc phẩm "Có tin vui giữa giờ tuyệt vọng" của nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng viết cho chương trình đại nhạc hội gây qũy giúp xây làng Việt Nam ở Phi Luật Tân. Như mọi lần Khánh Ly lại thích thắc mắc với người điều khiển chương trình. Cô hỏi Nam Lộc là sao lại xếp bài hát này trong chương trình Hoa và Nhạc. Tôi nghĩ có gì đâu, bài hát đó nói lên một niềm vui, một tin Xuân cho đồng bào tỵ nạn. Ðó chính là cả mùa xuân có hoa và nhạc.
Sau đó Lâm Thúy Vân thổn thức tâm sự với người tình qua ca khúc "Vì yêu đó anh". Nhà thơ TTKH đã để lại cho đời một tác phẩm bất hủ Hai sắc hoa ti-gôn", lần này được viết thành ca khúc "Dĩ vãng một loài hoa" qua sự trình bày của giọng ca mới Yến Phương. Nữ ca sĩ Lệ Thu xuất sắc với nhạc phẩm "Hoài cảm". Các ca sĩ trẻ của trung tâm Asia thật tươi mát và nhí nhảnh qua ca khúc ngoại quốc "Beautiful life". Duy Quang với dáng dấp thư sinh với nhạc phẩm "Ðưa em tìm động hoa vàng" của nhạc sĩ Phạm Duy phổ từ thơ Phạm Thiên Thự Tiếng hát mới Loan Châu và nhạc phẩm mới của nhạc sĩ Ngọc Trọng "Tình cuồng điên". Duy Linh với "Hoa Sứ nhà nàng". Cặp song ca Công Thành và Lynn đưa chúng ta về thời xa xưa ở miền quê Việt Nam các đám cưới rước dâu bằng thuyền với "Thuyền Hoa". Giọng ngâm thơ Hoàng Oanh vẫn như thuở nào đã mở đầu cho bài hát "Hoa Xuân của Phạm Duỵ Và rồi màn kết thúc chương trình "Hoa và Nhạc" là một màn vũ đầy màu sắc của vũ đoàn Asia làm sáng rực cả một vùng sân khấu.
Tôi vẫn hay yêu cái đẹp. Phải nói những nữ vũ công người Pháp mà Asia không ngại bỏ tiền ra mướn ai cũng cao ráo và có nhan sắc, đã làm cho sân khấu sống động hẳn lên bằng những màn múa hậu cảnh trong y phục dân tộc Việt Nam. Bên cạnh đó là những ngoại cảnh đẹp được quay tại quê nhà đã làm đẹp thêm cho những bản nhạc và người hát.
Ngoài ra phải nói chương trình được hay hơn nhờ hai MC Nam Lộc và Lê Tín Hương: một giọng Bắc ấm và một giọng Huế ngọt mật, dịu dàng. Qua vài chương trình của Asia gần đây, Lê Tín Hương đã xuất hiện một cách tự tin bên cạnh Nam Lộc. So sánh với cặp Kỳ Duyên và Nguyễn Ngọc Ngạn thì tôi có vẻ thích cặp Nam Lộc - Lê Tín Hương hơn bởi trong cách điều khiển chương trình của họ, không có những cái diễu thái quá xoay quanh đàn ông và đàn bà. Bên cạnh cách điều khiển đứng đắn nghiêm chỉnh, Nam Lộc và Lê Tín Hương vẫn có thể vui một cách thân mật trong màn phỏng vấn Nini, Johnny Dũng Gia Huy, Nhật Quân và Lâm Thuý Vân sau bài "Beautiful life". Theo tôi, đây là một trong những màn hay trong chương trình.
Tuy nhiên trong bất cứ chương trình nào dù lớn hay nhỏ cũng có một vài điều thiếu sót không thể tránh. Người viết muốn nói đến điều thiếu sót về cách sắp xếp chương trình của Asia lần này, có quá nhiều khuôn mặt mới xuất hiện lần đầu và một số ca khúc mới trình làng. Cái mới bao giờ cũng khó được tiếp nhận ngay lần đầu xuất hiện, nếu Asia gạn lọc chương trình kỹ càng hơn thì có lẽ bộ "Hoa & Nhạc" là bộ video có gía trị và sẽ được giới thưởng ngoạn hưởng ứng nồng nhiệt hơn.
Tóm lại, đây là cuộn băng đáng xem và có trong tủ băng video gia đình trong dịp Xuân về, dù rằng cây đinh của Asia, nữ ca sĩ Như Quỳnh, không còn cộng tác với Asia nữa.
BCCA
(viết chung với Dungfl)
thi tâm
Thư sinh ngẩn ngơ nhìn mỹ cảnh trước mắt. Trời bắt đầu chiều, vầng dương đang lặn dần sau áng mây ửng đỏ. Hàng thanh liễu rủ mình bên sông, lả lơi trong gió. Vài cánh chim rủ nhau bay tìm chỗ trú. Chung quanh tịch lặng. Khung cảnh hữu tình.
Thư sinh là thi sĩ nổi tiếng. Không giống như các thi nhân khác, thư sinh lánh xa những trà đình tửu quán. Chàng không chen chân vào chốn phồn hoa để khoe tài. Thư sinh sống rất đơn thanh, giang hồ cùng bầu rượu túi thơ. Khi nào hài lòng với những bài thơ mới được đúc kết thành một tập, chàng tìm về kinh đô. Nơi đó lúc nào cũng có sẵn những người mua thơ của chàng. Thư sinh đổi thơ lấy tiền, rồi lại lãng du theo tiếng gọi của phong cảnh và hồn thơ của mình.
Chiều nay thư sinh lại ra ven bờ hồ ngồi ngây ngất với nét đẹp của thiên nhiên. Mấy ngày nay chàng không ghi xuống được trên mặt giấy một chữ nào. Chàng dằn vật, khổ sở. Chàng biết muốn đưa thơ của mình đến một cảnh giới mới không phải là dễ. Thư sinh mong cảnh trí tịch lặng nơi đây sẽ giúp mình tìm ra một thi hướng mới. Nhưng đã bao ngày đêm hao tâm mà vẫn chưa đạt được một kết quả nào.
"ÙM..."
Tiếng một viên đá to bị ném xuống nước làm tan vỡ cả một vùng tịch lặng.
"ÙM... ÙM... ÙM.."
Liên tục những tiếng vang của mặt nước bị chấn động làm thư sinh bực mình. Chàng đứng dậy đi về phía tiếng động phát sinh. Qua khỏi một khúc quanh của bờ hồ, thư sinh thấy bóng dáng một người đang ôm những tảng đá lớn ném xuống hồ. Một ông lão. Chàng cất tiếng hỏi lớn:
- Lão trượng làm gì thế?
Ông lão ngừng lại trố mắt nhìn thư sinh, rồi lại cúi xuống ôm tảng đá kế tiếp ném xuống hồ. Thư sinh bước đến gần hơn và hỏi lại:
- Lão trượng làm gì thế?
- Công tử làm gì thế?
Ông lão không trả lời mà hỏi ngược lại thư sinh. Chỉ cuốn sách trong tay thư sinh, ông lão hỏi tiếp:
- Cái gì thế?
- Đây là tập thơ của vãn bối.
- Công tử đến đây để làm thơ?
- Vãn bối đến đây để tìm ý thơ.
Ông lão ngừng lại việc làm điên rồ của mình và hỏi một cách kinh ngạc:
- Ồ, công tử đến đây tìm ý thơ sao? Nó ở đâu?
Thư sinh khoát tay một vòng chung quanh mình và đáp:
- Nơi đây cảnh trí nên thơ, hữu tình. Lão trượng không thấy như vậy sao? Và cả sự tịch lặng nữa. Với vãn bối, là một động lực thúc đẩy cho hồn thơ sinh động.
Nhìn dáng lam lủ của ông lão, thư sinh ngại ngần nói tiếp:
- À, mà chắc lão trượng không hiểu vãn bối nói gì đâu nhỉ.
Ông lão cũng gật đầu đồng ý:
- Thì ra như thế. Hóa ra lão phá rối hồn thơ của công tử. Thật là lỗi quá. Thôi lão không ném đá nữa, công tử yên tâm.
- Cám ơn lão trượng.
Bất chợt ông lão ngồi xuống đất. Ông lão ngoắc tay bảo thư sinh ngồi xuống bên mình và nói:
- Công tử ạ, chúng ta có duyên gặp nhau nên lão có một món quà tặng công tử. Công tử nhận chăng?
Nhìn bộ đồ vá víu quê mùa của ông lão, thư sinh lắc đầu:
- Vãn bối không dám nhận đâu.
- Công tử đừng ngại, món quà không tốn một chút hiện kim nào cả. Nào, công tử hãy ngồi xuống đây.
Trước chân tình của ông lão, thư sinh vén áo ngồi xuống bên ông lão. Sau khi an vị, chàng nhìn ông lão trong sự chờ đợi. Ông lão đưa ngón tay lên môi ra dấu thư sinh hãy yên lặng. Xong, hai người cùng ngồi bên bờ hồ nhìn ra mặt nước. Bẵng đi một thời gian rất lâu, không thấy ông lão nói gì cả, thư sinh định lên tiếng hỏi thì ông lão đã đưa tay nắm bàn tay của thư sinh, mắt nhìn mắt, ông lão lắc đầu.
Một lúc sau, chừng hết một tuần trà, thư sinh vẫn chưa thấy ông lão làm gì ngoài ngồi yên nhìn ra bờ hồ. Thư sinh không biết ông lão chờ gì. Rồi tự hỏi - Hay ông lão đang chờ quý vật gì hiện lên từ đáy hồ chăng? Dường như đoán được tư tưởng của thư sinh, ông lão quay lại nhìn chàng, đưa bàn tay lên che miệng làm dấu im lặng và quay lại nhìn bờ hồ.
Lại im lặng. Rất lâu.
Thư sinh ngạc nhiên với chính mình trong sự lặng thinh đó. Thường, sự tịch lặng đem đến cho chàng bao nhiêu ý thơ cao đẹp. Vậy mà trong sự tịch lặng khi ngồi bên ông lão, chàng chỉ thấy bực mình. Chàng tự trách mình sao hay vị nể người trọng tuổi. Càng nghĩ càng bực mình, chàng thấy ông lão đùa giỡn với mình một cách thái quá. Nhất quyết, thư sinh duỗi chân đứng dậy, nhưng ông lão đã nắm tay chàng giữ lại, tay kia vẫn ra hiệu cho thư sinh giữ im lặng. Một người nhất định đứng dậy, một người nhất định níu lại. Thư sinh không nhịn được, định mở miệng nói, thì ông lão đã buông tay thư sinh ra. Ngay sau đó ông lão nhặt một hòn đá đặt vào lòng bàn tay thư sinh và hét to:
- Ném đi. Ném đi cho hả giận.
Thư sinh hằn học nhìn ông lão rồi quay người lấy thế ném viên đá vào mắt hồ bằng cả sự tức giận của mình.
- Chỉ ném xa được thế thôi sao? Xem ra công tử sức còn thua đứa bé.
Tiếp theo đó, ông lão đặt những viên đá khác vào tay thư sinh và cứ bảo chàng tiếp tục ném. Càng lúc viên đá càng lớn, cần cả sức lực của đôi tay, thư sinh để tập thơ của mình xuống bên cạnh, và ôm những tảng đá to hơn ném xuống hồ. Ông lão cứ reo hò, tán thưởng, khiêu khích. Lạ thay, trong nỗi bực dọc đó, thư sinh thấy có một niềm sảng khoái dâng lên mỗi lần chàng ném một tảng đá lớn vào hồ bằng tất cả sức lực của mình. Thậm chí có khi chàng còn hét to mỗi lần như thế. Làm náo động cả một khung cảnh thanh tịnh.
Sau một lúc, thư sinh thấm mệt. Cổ khô, tiếng khàn. Chàng định ngồi xuống nghỉ mệt thì ông lão đặt một vật gì đó trong tay chàng, rất nhẹ. Không suy nghĩ, thư sinh ném mạnh. Tiếng xé gió giữa không gian của vật bị ném làm thư sinh giật mình nhìn theo. Than ôi, cuốn thơ của chàng. Ông lão đã thừa lúc thư sinh mệt mỏi, không chú tâm để gạt chàng ném cả tập thơ của mình vào hồ. Thư sinh giận dữ, muốn vung tay đánh ông lão, nhưng không còn sức nữa. Chàng ngồi phệch xuống bờ hồ.
Ông lão ngồi xuống bên cạnh thư sinh và bảo:
- Ta không chạy đâu. Ta sẽ ngồi đây để chờ hình phạt của công tử.
Trong tiếng thở hổn hển của thư sinh, ông lão ôn tồn cất giọng:
- Ta biết công tử đang oán ta. Nhưng công tử hãy nhìn bờ hồ đang lặng sóng. Rồi lắng nghe cảm giác trong lòng mình.
Chỉ tập thơ đang bấp bênh, nhòa mực và chìm trôi dần heo sóng nước, ông lão hỏi:
- Cái gì là thơ? Những giòng chữ công tử ghi chép trong đó chăng? Chúng đến từ đâu. Từ ngoại cảnh làm cho công tử ý thơ dạt dào.
Vỗ mạnh vào ngực mình, ông lão nói:
- Thơ ở đây. Thơ ở đây, công tử ạ. Không là thiên nhiên. Không là ngoại cảnh.
Nhặt một hòn đá nhỏ lão đặt vào tay thư sinh, ông lão nói tiếp:
- Thơ không là hòn đá này, cũng không là tiếng động mặt nước vỡ, không là sóng gợn mặt hồ. Thơ là cơn giận dồn nén thúc đẩy công tử ném tảng đá bằng tất cả sức lực của mình. Mỗi phần trong đó không phải là thơ, mà tất cả sự việc liên tục đó là thơ. Công tử hiểu chứ.
Bàng hoàng với sự thông đạt của người đối diện, thư sinh cảm khái gật đầu. Chàng nói:
- Xem ra, thơ của vãn bối chỉ là chiều ngang của mặt hồ. Cả một đời sống cùng thơ, mà vãn bối chưa hề nghĩ về chiều sâu của nguồn thơ. Hỡi ôi...
Ông lão đặt tay lên vai thư sinh:
- Hiểu, là đã thấy bờ. Công tử chỉ việc bơi dần là tới. Nhớ, đích đến không là vào bờ. Mà là thấy bờ để biết mình là đâu, ở đâu. Từ đâu. Về đâu. Công tử hiểu chứ?
Thư sinh lại gật đầu. Ông lão cười:
- Lao lực thế, bây giờ ta mời công tử về nhà dùng một bữa ăn chiều.
Thư sinh đứng dậy vái ông lão và nói:
- Vãn bối được lão trượng hướng lối như vậy là quá hân hạnh, không dám làm phiền lão trượng thêm nữa.
- Không có gì. Công tử đừng ngại. Vả lại ta muốn hối lộ công tử một bữa ăn chiều vì có chuyện ta muốn nhờ công tử ấy mà.
Nhìn vẻ e dè hiện lên mặt thư sinh, ông lão cười lớn:
- Công tử đừng lo. Ta không đùa gạt công tử nữa đâu.
Thư sinh vui dạ tươi cười. Hai người cùng bước bên nhau rời khỏi bờ hồ. Chợt nhớ một điều, thư sinh ngừng bước, quay qua ông lão hỏi:
- Chẳng hay lão trượng có thể cho biết quý danh là chi?
Ông lão nhìn thư sinh thật lâu rồi điềm đạm đáp:
- Ta sống nơi đây đã lâu, không dùng đến tên họ. Nhưng công tử đã hỏi thì ta cũng thật lòng mà trả lời. Ngày xưa ở chốn kinh đô, người gọi ta là Thôi Hiệu. Nào, ta đi mau. Trời tối rồi...
oOo
Hoàng Hạc Lâu, ba năm sau...
Gã tiểu nhị khó chịu nhìn khách vẫn còn gục ngủ ngay trên bàn. Dưới chân khách là một túi hành trang nhỏ, trên bàn thì ngổn ngang một cái chén và nhiều bầu rượu. Đã sắp đến giờ quán đóng cửa. Gã định đi đến đánh thức khách dậy nhưng chủ quán đã khoát tay:
- Đừng, để công tử ngủ. Nhà ngươi không biết ai đấy sao?
Tiểu nhị lắc đầu. Chủ quán cười nhẹ:
- Mà thôi, ngươi cũng đừng bận tâm. Cứ đóng cửa quán rồi đi ngủ đi.
Hiểu tính hiếu khách của chủ quán, tiểu nhị lắc đầu thở dài, lo dọn dẹp đóng cửa và đi ngủ.
Nửa đêm...
Khách ngẩng đầu ngó quanh. Hoàng Hạc Lâu nằm trong bóng tối dầy đặc. Khách cho tay vào túi hành trang dưới chân tìm một vật gì đó.
- Tối quá...
Khách khẽ thốt rồi bước về phía cửa sổ một bên quán, dáng đi thật nhanh nhẹn, không phải của một người vừa tỉnh ngủ. Khách mở một cánh cửa sổ. Ánh trăng chiếu vào. Khách đặt túi hành trang lên bàn rồi mở ra.
Tách !...
Ánh lửa nhoen lên. Trong tay khách là một cây đuốc nhỏ. Cảnh vật bên trong hiện lên rõ hơn. Khách bức lại bức tường gần cửa sổ nhất và đưa ngọn đuốc cao và gần hơn. Khách lẩm nhẩm đọc:
Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ
Thử địa không dư hoàng hạc lâu
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản
Bạch vân thiên tải không du du
Tịch xuyên lịch lịch Hán dương thu.
Phương tảo thê thê Anh vũ châu
Nhật mộ hương quan hà xứ thi.
Yên ba giang thượng sử nhân sầu
Những hàng chữ trên tường hiện ra, mập mờ, bay nhảy trong ánh sáng bập bùng của ngọn lửa. Như những cánh hạc tung tăng. Khách đưa mắt nhìn ra cửa sổ. Bên ngoài ánh trăng gần rằm chiếu ánh sáng trên dòng sông và vạn vật. Vài đám mây lơ lửng, ửng vàng màu nguyệt quang. Hàng cây trầm lặng như ngàn đời an phận làm bạn cùng dòng sông.
- Thảo nào... thảo nào...
Khách buông tiếng trong cảm khái. Cắm cây đuốc vào một bình rượu cạn, khách bước đến sau quầy xách một bình rượu mới rồi về ngồi xuống chiếc ghế gần cửa sổ. Khách khui bình rượu, đổ ra chén và nâng lên môi. Một chén. Hai chén. Ba chén. Vừa uống mắt khách vừa di chuyển giữa hai hình ảnh. Bên ngoài là cảnh vật yên tĩnh. Bên trong là bài thơ ẩn hiện trên tường. Tuy hai. Mà một. Khách lại tự thốt:
- Phen này ta không thể nào thực hiện lời hứa cùng Thôi lão huynh. Xóa làm sao được bài thơ này. Hủy hoại mà chi. Đâu cần thiết. Mà cũng không sao. Khi gặp lại đúng hẹn ngày trăng tròn tới đây, ta tin Thôi lão huynh sẽ hiểu. Thi thành tự, phi thành sở tự...
Đưa tay dụi ngọn đuốc, khách mỉm cười ngó ra cửa sổ. Khách nâng chén rượu mới rót lên cao như để mời ai đó. Khách lẩm nhẩm:
- Cử bôi yêu minh nguyệt. Đối ảnh thành tam nhân. Hà... uống rượu như lão huynh họ Lý quả có nhiều thú vị đặc biệt...
Sáng...
Khách giựt mình thức giấc, mở mắt nhìn quanh. Chủ quán thấy khách tỉnh ngủ, bước đến tươi cười ôn tồn nói:
- Công tử dậy rồi à.
Chỉ ngọn đuốc tàn cắm trong bình rượu rỗng, chủ quán nói tiếp:
- Quả là cái hứng của thi nhân có khác. Bán dạ bỉnh chúc, độc thi tam đáo. Mời công tử thay đồ rồi dùng điểm tâm. Nhà bếp đã nấu gần xong món ưa thích mà công tử thường gọi mỗi năm ghé qua đây.
Khách nhìn bó đuốc, nhìn bài thơ trên tường rồi mỉm cười khó hiểu. Khách khoát tay:
- Không cần đâu. Ta đi ngay bây giờ.
Nói xong khách đứng dậy. Chủ quán vội vàng nói:
- Công tử, không mấy khi công tử ghé lại đây. Mỗi năm chỉ một lần. Để ghi lại giai thoại nửa đêm đốt đuốc đọc thơ này, xin công tử lưu lại vài chữ làm kỷ niệm cho người sau thưởng ngoạn.
Nhìn vẻ khẩn khoảng chân thành của chủ quán, và cảm lòng hiếu khách đã cho mình yên ngủ đêm qua, khách gật đầu. Cầm ngọn đuốc lên tay, khách bước về phía bức tường bên cạnh bức tường có bài thơ của bạn mình. Khách nhắm mắt định tâm, rồi mở mắt vung tay ném những vệt than đen từ bó đuốc lên tường. Xong, khách đặt bó đuốc lên bàn rồi quay lưng bước đi không ngó lại.
Chủ quán ôm túi hành trang của khách bước vội theo:
- Công tử... công tử... công tử quên hành lý tùy thân...
Khách ngừng bước quay lại:
- Quán chủ hãy giữ lấy. Những thứ trong đó, bán được bao nhiêu, quán chủ dùng để trả tiền rượu đêm qua.
Chủ quán lấy trong túi hành trang ra vài cuốn sánh, đưa lên và nói:
- Nhưng còn những tập này. Thơ của công tử.
Khách dứt khoát xua tay:
- Quán chủ cứ giữ lấy nếu muốn. Còn không, thì vứt đi, đốt đi cũng được. Thơ đâu có trong đó.
Chủ quán nhìn những trang giấy chi chít chữ trong tay, rồi nhìn khách với vẻ không hiểu. Khách cười to và nói:
- Quán chủ đọc những chữ ta viết kia sẽ hiểu.
Nói xong khách vòng tay chào quán chủ rồi bước đi. Chủ quán mừng rở với di bút của một thi nhân nổi tiếng vừa vào tay mình. Lắc đầu, chủ quán bước vào lại trong quán rồi đưa mắt nhìn lên bức tường. Nơi đó, là hai hàng chữ khách đã viết bằng than của ngọn đuốc.
Thi tâm vô tự thi dung tự
Tự bất tại tâm thi dĩ tâm
npn