vhnt, số 271
13 February 1997
Trong số này:
Thư vhnt..................................................................BBT
T h ơ :
1 - Thơ Ðỗ Trung Quân (chép lại)..................................NTD
2 - 14 tháng 2 - Câm...............................................Lê Tạo
3 - Ðêm Ði Qua Ngủ Ðại Hồ...........................Trần Thái Vân
4 - Ngoài Ðời Nhau..........................................Thận Nhiên
5 - Biển Ðá.................................................Phạm Chi Lan
6 - Cõi Không...................................................Chinh Ðinh
7 - Về Ðâu.....................................Nguyễn Ðức Bạt Ngàn
8 - Thơ Pablo Neruda..........................................Trần Thuyên
D i ễ n Ð à n V ă n H ọ c :
9 - Trâu, Bò và Ðời Sống Thôn Quê...............Lương Thư Trung
T r u y ện N g ắn / S án g T ác :
10 - Thiên Thần Gãy Cánh........................ Gabriel Garcia Marquez (Trịnh Tường dịch)
Gởi bạn đọc vhnt vài dòng viết trước ngày lễ Tình Yêu.
Cuộc đời ơi, ta yêu người.
Một dạo, tôi mê bông hồng màu xanh. Vì tôi đọc trong một câu chuyện cổ tích kể về một bông hồng xanh - biểu tượng của sự lãng quên.
Khi cô gái nâng niu cánh hồng xanh trong vườn hoa phù thủy; nàng ngây ngất, quỳ xuống và sắp để cho hương hoa hồng xanh kia vương tỏa trên mắt môi xinh; tôi đã hét to lên trong tâm tưởng - Dừng lại em, đó là đóa hồng của sự lãng quên.
Ngày Xưa. Em đến với tôi ngày xưa giữa cơn mưa mau qua phố. Em đến với tôi ngày xưa nào phải nệ cau trầu. Rồi một chiều mưa mau, không nón, đi đầu dầu, hối hả thương đau như nàng dâu sợ hư áo cưới. Nụ cười mơ chẳng ơ hờ trong mưa.
Ngày Nay. Ðã có nhiều chiều nắng ấm. Biết nắng ấm rồi có để tình ta phai? Bỗng một chiều, tôi lại thích mưa mau, để nhớ thương còn mãi thưở ban đầu. Ðể cơn mưa ấm cuộc tình trinh nguyên da diết. Ðể mãi còn những chiều xưa có nhau.
Cô gái dừng lại. Nụ hồng xanh hóa màu đỏ thắm. Cô gái lạc lõng với trí nhớ của mình trong khu vườn cần sự lãng quên. Tôi khóc.
Sung Nguyễn/vhnt
Viết cho Valentine 1997
thân ái,
PCL/vhnt
LGT: Ðỗ Trung Quân, người nổi tiếng với bài thơ "Quê Hương", một hôm xúc động vì một cuối thu Hà Nội chớm gió mùa đông bắc và thế là những lời thơ mịn màng tuôn chảy, "đêm nào hồn cũng ngập lá rơi".....
NHÀ SỐ BẢY
1. Góc ngã tư mùa thu nhỏ hẹp
ta để lại nửa linh hồn ở đấy
nhà số bảy...
2. Nhà số bảy,
tầng ba cửa kính lá không vào
giấc ngủ chập chờn những mắt xanh hư ảo
giọng rao quà vọng âm
buồn xưa?
3. Nhà số bảy,
nơi có một người áo đỏ hay khóc
có một người tóc ngắn hay cười
vô số những ngôn từ nanh nọc
những dao cau
đứt tay như chơi.
4. Nhà số bảy,
nửa đêm cơn suyễn thổi mùa
đông rách ngực bạn ta
những tiếng rít dài nghẹt thở
ta suốt đời không nhớ nổi đường đi
đã tự biết lối về
từ đó.
5. Nhà số bảy
chật người
chật như phố phường rêu Hà Nội
rộng như bát ngát mây mùa thu Hà Nội
ta về
đêm nào hồn cũng ngập lá rơi.
KHI BAY VÀO VÙNG ÁP THẤP
Ta nhai những đóa hoa này
thay bữa ăn Airlines
suốt đời dở
ta ăn những người yêu ta
ta ăn những người ta yêu
những bông cúc trắng như không thể trắng hơn
hơn cả mây ngoài cửa sổ
ta chẳng tin thời tiết
ta treo đời ta lơ lửng lâu rồi
lỡ chiều nay ta rớt
lỡ chiều nay ta rơi
chẳng sao.
cũng kịp cùng ta những bông hoa ấy
về trời...
KHÔNG ÐỀ
Ðường Nguyễn Du...
Ai không yêu
không tìm ra hoa sữa
hèn chi thu cô liêu
với một người đi lẻ
với một người vội vã
đã cuối thu mất rồi
đường tình nhân trẻ quá
hình như không còn tôi
trách mùa thu quá mỏng
không lưu hương một người.
(TTCN 24/11/1996)
14 tháng 2 - Câm
Trang giấy trắng nằm im
Sợi tóc hiền khô trên trán
ngôn ngữ thừa
Có nhau đã đủ
Tích tắc, tích tắc
vạt nắng nghiêng mình.
Mở một cửa tim
đời trỗi dậy ngàn hương lúa mới
Mở hai cửa tim
nhạc rộn ràng hiến chương tình yêu.
14 tháng 2
Gió gọi nhau chờ đợi
Mây rủ nhau lên ngàn
Khắc lên tường thêm một vạch
Không, không bao giờ bật nổi
lời xưa cũ ngàn đời: Anh Yêu em.
Lê Tạo
ÐÊM ÐI QUA NGŨ ÐẠI HỒ
Ðêm đi qua ngũ đại hồ
Ngàn sao trên trời lấp láy
Mặt nước nhấp nhô sóng dậy
Như một hải cảng năm nào
Và tình yêu xôn xao
Năm đó anh vừa hơn mười bảy
Em cũng chừng mới tuổi mười ba
Má hồng môi mọng dệt mộng hồn hoa
Em còn nhớ chăng ngày ấy
Trên lầu cao ngàn sao nhấp nháy
Em như tiên nữ giáng trần
Hương thịt da, hương biển mặn quay vần
Trong anh dường như có điều gì nên tội
Nắm tay em nói vội
Yêu đương không góp lại thành lời
Em quay mặt nhìn ra khơi
Gió thổi ngược
Tóc em thành suối mộng
Lồng lộng hương bay
Ngay lúc ấy anh nghĩ ngàn sau anh vẫn nhớ
Chuyện đêm nay...
Em quay lại run run đặt bàn tay
Nhịp tim chúng mình thình thình đập mạnh
Má em đỏ hồng
Anh không hề nghĩ chuyện viễn vông
Nhưng biết đó là phút giây hạnh phúc
Và dường như ra khỏi vòng trần tục
Vì anh chẳng làm gì hơn thế cả
(Khi nghĩ lại anh cũng cho là lạ
Hay em đích thực là tiên?)
Rồi mình hò hẹn
Ðêm này qua đêm khác
Trên đồi thông, dưới chân cầu, bên phố
Hoa tình yêu nở rộ
Theo những nụ hôn nồng
Em đặt điều đọc Quỳnh Dao mơ mộng
Hỏi anh lắm chuyện linh tinh
Chẳng hạn như lỡ bấy giờ em chết
Anh có thăm mồ mả của em không?
Có làm thơ, có để lại hoa hồng?
Trên bia mộ của người tình bé nhô
Câu trả lời em biết rất rõ
Nhưng bắt anh phải lập lại hoài
(Giờ nghĩ lại như tuồng diễn em ơi
Tuy lúc đó anh trả lời rất thực
Vì anh cũng chỉ là con nít)
Ngày em lên mười bốn
Cùng ba mẹ ra khơi
Vượt biển tìm đời mơ ngàn dặm
Anh ở lại buồn như chim không cánh
Chẳng biết khi nào mới gặp lại em...
Mười lăm năm kể từ ngày ấy, ngàn đêm
Ðông đi xuân lại
Em nhớ không chuyện cổ tích một lần
Em giờ đây chắc đã về với chức phần
Mà trời định từ kiếp trước
Tuy biết vậy anh đôi khi ao ước
Có ngày sẽ gặp lại em
(Nếu con gái anh ngày sau mười ba tuổi
Bày đặt hẹn hò như thuở chúng mình
Em đừng trách vì anh sẽ gõ u cái đầu cho nó hết tứ với tình
Trên đời anh chỉ tin mình anh vô tội!)
Ðêm nay bên Ngũ Ðại Hồ
Ngàn sao trên trời nhấp nháy
Sóng nhấp nhô
Một mình anh nhớ lại...
trần thái vân
Ngoài đời nhau
Nhón chân bước khẽ nhé ngày
kẻo ngón tay níu bờ vai
phải rời
Mười lăm năm, lặng,
bùi ngùi
ai xô mà giạt ra ngoài đời
nhau
Lọ lem
Mầu son guốc mộc
tôi vẽ suốt mùa xuân
chờ đêm nguyệt tận
mời em về ướm chân
Mười năm sau qua phố
lạ chỗ ngồi quen
bất chợt gọi khẽ
lọ lem à lọ lem
Thận Nhiên
Biển Ðá
Ðá hiểu không
lòng nước kiên trinh
đá hiểu không
lời thề thủy chung
thời gian phôi pha bạc đãi
sóng mài đá đùa cợt
biển bạc đầu già nua
miệt mài sóng cuốn sóng
vỡ trầm luân giọt mặn
đá lạnh từ nghìn xưa
rêu xanh mỏi mòn
xưa lòng đá vàng
nay lòng đá xám
ngậm ngùi chứng tích hôn mê
chuyện đời - người vẫn kể như thế
lòng biển lúc đầy lúc vơi
đá uống nước - đá khát
sóng đập đầu - sóng đau
biển say sóng nổi sóng
biển mệt lừ cơn lụt hồng thủy
tiếp nối dòng ngược dòng xuôi
biển ưu tư về một cơn thủy tận
giấu trong lòng, ngọt ngào hạt nước chẻ đôi
nói thật khẽ - cho mềm cơn khát
hãy rót vào lòng nhau
chân thành
hạt lệ!
Phạm Chi Lan
Cõi Không
Tôi mắc cạn
giữa dòng sông đông
Rượu
bốc khói
dưới ráng mây hồng.
Cây thánh giá,
sao xa tầm mắt?
Tôi gọi tên em -
có tới Cõi Không?
Chinh
1/30/97
về đâu
có ai về không em chiều nay ta nghe nhớ lắm
có ai về chưa em
chiều nay
hồn ta chĩu nặng
vẫn bầy chim thiên di
tuyết thì trắng quê người nhận
chìm
ta khuất lấp
em quê nhà còn lạnh bước chân đi
ngồi đợi mãi không ai về họp mặt
ruộng vườn xưa cháy đỏ lưng trời
nước thì lớn, chuyển đưa nhiều thương tật
cánh buồm ra khơi
ngọn cờ ra khơi
người giã từ đất nước không phải từ
sớm mai
mà bằng bóng đêm
đè lên
nhân loại
mà bằng bóng đêm đè lên tiếng nói
đè lên
ấm no
hạnh phúc
thanh bình
vẫy tay chào
máu rụng
giữa
hư không
bỏ lại bờ tre còng lưng, oan khuất
bỏ lại hàng cau gục đầu
u uất
lòng mẹ khô
cha chết
giữa lao trường
khi soi bóng mình giữa sóng đại dương
vẫn rờn rợn tiếng kèn đồng
dũng khí
đã mất rồi chùm hoa thiên lý
triệu vành khăn tang trắng phủ trên đầu
cuộc đời mòn, sông nước vẫn trôi mau
thời gian đi
sao ta đứng lại
không gian chìm theo quan ải
lồng lộng trời cao lấp lánh
ngân hà
mới còn hôm qua
mới từ hôm qua, gần trong gang tấc
nay đã đoạn lìa
gan bầm
ruột cắt
nắng đùn theo mưa, mưa rụng khắp trời
gọi ta về từ gió cát trăm nơi
mầm sống bùng lên từ tăm tối
mầm sống dậy giữa giờ
hấp hối
còn chăng gươm thiêng
uy liệt
giống nòi
còn chăng người, tan tác nổi trôi
về đâu
về đâu
đất nước
dù lịch sử rạng ngời thuở trước
sắt thép lên đường vọng mãi bốn nghìn năm
dù rừng xanh đã từng là cọc nhọn
hờn căm
đất dậy lửa trào theo gió bể
lừng tiếng hát tình cha nghĩa mẹ
sông vươn vai nghĩa khí oai hùng
dấu tích người là núi là sông
là lẫm liệt
hiên ngang
tù ngục
là cơ cầu, tủi nhục
là đọa đày
tàn phá
hèn ngu
là tự hào chăng
này đá
vọng phu
với bất hạnh nghìn đời đứng đó
giữa tuyệt vọng vẫn còn
đứng ngó
ôm con, lạc lõng vô cùng
nuối lại ta này
nợ
máu
chưa xong
dù ta đã nhiều phen
nếm máu
dù đã từng chiến đấu
(để hôm nay thất tán, lưu đày?)
cuồng nộ lên đường xé nát tương lai
đạp lên đầu
băng hoại
đêm nghiêng theo tiếng còi man dại
còn đâu là câu hò vọng nhịp
hiển linh xưa
còn đâu là bình nguyên xanh gió giao mùa
triệu thương nhớ
không
đổ đầy ngăn cách
ta-còn-bay-theo-đường-bay-chia-cắt
miếng cơm
manh áo
chận đường
mù lối về
ơi đất nước
quê
hương
nguyễn đức bạt ngàn
(bình minh câm)
thơ Pablo Neruda
trích 20 Love Poems and a Song of Despair - Chile 1924
bản dịch Anh Ngữ của W. S. Merwin - Penguin Books 1993
XVIII Here I Love You
Here I love you.
In the dark pines the wind disentangles itself.
The moon glows like phosphorus on the vagrant waters.
Days, all one kind, go chasing each other.
The snow unfurls in dancing figures.
A silver gull slips down from the west.
Sometimes a sail. High, high stars.
Oh the black cross of the ship.
Alone.
Sometimes I get up early and even my soul is wet.
Far away the sea sounds and resounds.
This is a port.
Here I love you.
Here I love you and the horizon hides you in vain.
I love you still among these cold things.
Sometimes my kisses go on those heavy vessels
that cross the sea towards no arrival.
I see myself forgotten like those old anchors.
The piers sadden when the afternoon moors there.
My life grows tired, hungry to no purpose.
I love what I do not have. You are so far.
My loathing wrestles with the slow twilights.
But night comes and starts to sing to me.
The moon turns its clockwork dream.
The biggest stars look at me with your eyes.
And as I love you, the pines in the wind
want to sing your name with their leaves of wire.
XVIII Nơi Ðây Tôi Yêu Em
Nơi đây tôi yêu em.
Trong vùng thông rậm tối diệp phong gỡ tóc rối.
Dòng nước lân tinh ánh trăng vô định.
Ngày, giống nhau, rượt đuổi theo ngày.
Những cánh tuyết giũ hình luân vũ.
Bạc cánh hải âu lao hút trời Tây.
Thuyền thấp thoáng. Ngút, ngút ngàn tinh thể.
Ơi buồm căng gió đen đời thập tự.
Ðơn độc.
Ðẫm ướt linh hồn giấc ngủ thức sương mai.
Biển vang dội âm ba trường vọng.
Hải cảng là đây.
Nơi đây tôi yêu em.
Nơi đây tôi yêu em vào chân trời tuyệt tưởng.
Vẫn yêu em giữa những vật thể lạnh băng.
Gửi những nụ hôn nặng khoang thuyền
vượt trùng dương không hẹn đến.
Lãng quên tôi về cũ rích lòng neo.
Trưa ghé lại buồn hoang bến vắng.
Mệt mỏi đời tôi, thôi đói vòng tay.
Em đã thật xa. Tôi yêu những điều không còn nữa.
Oán hờn tôi vật vã giọt chiều rơi.
Nhưng đêm đến cùng tôi bài ca diễm ảo.
Quang nguyệt chuyển chu kỳ huyền mộng.
Thiên tú nhìn tôi bằng ánh mắt em.
Và khi tôi yêu em, những rặng thông lộng gió
muốn hát tên em vào từng sợi lá rung, reo.
oOo
XII Your Breast Is Enough
Your breast is enough for my heart,
and my wings for your freedom.
What was sleeping above your soul will rise
out of my mouth to heaven.
In you is the illusion of each day.
You arrive like the dew to the cupped flowers.
You undermined the horizon with your absence.
Eternally in flight like the wave.
I have said that you sang in the wind
like the pines and like the masts.
Like them you are tall and taciturn,
and you are sad, all at once, like a voyage.
You gather things to you like an old road.
You are peopled with echoes and nostalgic voices.
I awoke and at times birds fled and migrated
that had been sleeping in your soul.
XII Ngực Em Ðủ Chứa Tim Tôi
Ngực em đủ chứa tim tôi,
Ðôi cánh tôi tháp tự do em.
Những chất chứa ngủ say trên linh hồn em sẽ trổi dậy
vươn đến thiên đàng bằng đôi môi tôi.
Trong em là từng ngày ảo tưởng.
Em đến như giọt sương thỏa lòng hoa hàm tiếu.
Hụt hẫng nền trời trong thiếu vắng em.
Bay bất tận như muôn đời sóng vỗ.
Tôi đã nói rằng em hát lời gió quyện
như ngàn thông và như những cánh buồm căng.
Em cũng vậy, cao và trầm mặc
và buồn tênh, cùng lúc, như một chuyến hải hành.
Gom hết vào tâm linh như lòng phố cũ.
Ðường tim em vang dội tiếng đời qua.
Tôi thức giấc hồn hoang em ngủ
những cánh chim di ẩn lánh về xa.
Trần Thuyên chuyển dịch
TRÂU, BÒ và ÐỜI SỐNG NGƯỜI NÔNG DÂN Ở THÔN QUÊ MIỀN NAM
Có thể nói chắc chắn, mà không sợ lầm lẫn, tất cả đất đai cày ruộng ở Miền Nam Việt Nam có được như ngày nay là nhờ vào sự cần cù, lam lũ, cực nhọc của người nông dân cùng với công sức của hai giống vật gần gũi với người nông dân, đó là trâu và bò.
Trâu, bò đều là những loài vật ăn cỏ và nhai lại. Do đó, cỏ là thực phẩm chính của trâu, bò. Thuở còn hoang dã, đồng cỏ bao la, rừng rậm ngập đầy, việc chăn giữ, cắt cỏ cho bò, trâu ăn hằng ngày không có gì khó khăn, mệt nhọc. Nên người nông dân thường nuôi trâu hơn là nuôi bò, vì trâu mạnh hơn bò gấp bội. Từ đó việc khai mở ruộng đất bỏ hoang cũng tùy thuộc vào nhân lực, trâu, bò mà diện tích đất ruộng khai phá nhiều hay ít. Trong truyện ngắn Rừng Mắm của Bình Nguyên Lộc, tác giả cho chúng ta thấy một thực tế là với sức người, không có trâu, bò tiếp sức, chỉ đốt rừng để mở mang ruộng, diện tích đất trồng trọt chỉ bằng " một lỗ " như ông đã viết: " Ðám rừng bị khoét một lỗ để làm ruộng, trông như đầu tóc trẻ con được mẹ cạo có một mảng thì có chuyện gấp, bỏ dở công việc; đứa trẻ bị chúng bạn chế nhạo là đầu chó táp". Trong thực tế, với trâu,với bò, người ta có thể mở rộng diện tích năm, bảy chục, một trăm công đất ruộng là thường. Năm này tháng khác, cứ tiếp nối nhau như vậy, ruộng đất càng ngày càng phát triển rộng thêm.
Trâu và bò, tuy cùng làm một công việc đồng áng, cùng ăn cỏ, cùng nhai lại,cùng cho con bú bằng sữa của chính nó, nhưng hai giống vật này có rất nhiều đặc tính khác nhau. Bò thích chỗ ở phải khô ráo, phải có chuồng trại. Ngược lại, trâu thích nằm hầm, nằm nước, nằm bùn. Trâu cũng ngủ trên gò khô, nhưng thường không có chuồng trại như bò vì trâu lớn con, sừng kềnh càng, việc cất chuồng cho trâu vô cùng khó khăn. Nếu một bầy trâu vài chục con, việc chuồng trại cứ chọn gò đất nào đó, đóng nọc để mỗi chiều, sau khi công việc đồng áng xong, ăn uống no bụng, đàn trâu được lùa về buộc vào các nọc có sẵn. Bò, có thể nói rất hiền. Ðôi khi, nếu nó phải có phản ứng đá ngược về phía sau, thường là vì bò hay có tật giật mình. Những đứa trẻ giữ bò, có thể cởi trên đầu, trên cổ bò, mà không sao. Trái lại, với trâu, phải coi chừng. Trâu không hiền như sách vở thường viết. Trâu ghét nhất màu trắng. Gặp bất cứ ai mặc áo trắng đi ngang trước mặt, trâu lấy làm khó chịu, mặt gầm xuống, mắt liếc trừng trừng như muốn rượt. Thuở nhỏ, trên đường đi học ở trường làng, thường phải đi ngang cánh đồng với những bầy trâu hai, ba chục con, đám học trò nhỏ chúng tôi phải cắm đầu, cắm cổ mà chạy vì bị trâu rượt. Khi trâu nổi giận, trâu chém dữ lắm, không ai can được kể cả chủ của nó. Ðó là trường hợp những con trâu "cổ", tức là trong một bầy trâu, thường thường người nông dân lựa một con trâu đực khỏe mạnh, lớn con, để giống, không thiến như mấy con trâu đực khác. Con trâu này ngoài nhiệm vụ cày bừa, gầy giống, nó còn có trách nhiệm là con trâu đầu đàn, nên trông dáng vẽ rất oai phong, dữ tợn. Chẳng những tất cả các con trâu khác trong bầy phải nể sợ nó, mà mỗi lần có hai bầy trâu lạ gặp nhau,hai con trâu cổ của hai bầy trâu này thường kênh nhau và mài sừng, chém lộn nhau là thường và chém cho đến khi nào có một con chạy thua mới thôi, chứ không có ai can ra được. Trẻ chăn giữ trâu rất thích trâu chém lộn, vì thế, chúng thường lấy miểng ve chai chuốt hai sừng trâu cổ vốn đã nhọn càng thêm nhọn hoắc. Trước mỗi cuộc chém lộn, trâu cổ mài sừng, như đã nói ở trên, nghĩa là con trâu đầu đàn chúi đầu xuống đất, hai cái sừng nhọn, cong vút đăm sâu xuống bùn đất rồi hất tung lên, và cứ làm như vậy rất nhiều lần, cho đến khi bắt đầu chém lộn thật sự. Tất cả những con trâu khác đứng giạt ra, chờ đợi một cuộc thư hùng, thường thường là đổ máu, lòi ruột, vì chừng đó cả hai bầy trâu đều nhập cuộc.
Thời kỳ trước năm 1950, dường như nhà nào cũng có nuôi trâu, ít nuôi bò. Nhà cậu hai của tôi, ở miệt Long Xuyên, nuôi một bầy trâu tới ba chục con. Trong làng, trong xóm, nhà nào cũng có bầy trâu năm, mười con là thường. Những vùng nuôi trâu nhiều nhất mà tôi được người lớn kể lại vào thời kỳ đó, là miệt Long Xuyên, Ba Thê, Núi Sập, Tri Tôn, Luỳnh Huỳnh đổ lên Châu Ðốc. Bên Ðồng Tháp Mười từ miệt Hồng Ngự, Cao Lãnh đổ về Mộc Hoá, Long An. Còn đổ xuống các vùng Ô Môn, Cần Thơ, Sóc Trăng, Cà Mau, trở dọc về Gò Quao, Tắc Cậu của Rạch Gía hoặc qua miệt Vĩnh Long, Trà Vinh, bà con nông dân cũng nuôi trâu nhiều. Riêng miệt Long Xuyên, Ðồng Tháp Mười vì hằng năm vào tháng tám, tháng chín, tháng mười mực nước sông Cửu Long dâng cao, những bầy trâu cũng dược di chuyển đến một nơi khác có gò đất cao, thường rất xa nhà. Rồi che chòi, che trại cho người ở đó chăn giữ. Nửa tháng, một tháng, chủ của bầy trâu mới lên thăm một lần cùng mang gạo thóc, mắm muối, thuốc men, thuốc hút, củi đuốc, dầu lửa v.v... Thường thường, vào thời kỳ đó hay xảy ra trộm cướp trâu, nên những người có trâu rủ nhau cầm giữ trâu chung một chỗ, để tiếp cứu lẫn nhau khi có trộm, cướp hoặc khi đau ốm, bịnh hoạn.
Sau này, khi tôi học trung học, ruộng nương đã được khai mở thành khoãnh, chỗ cầm giữ trâu thu hẹp lại, nên người nông dân bán bớt trâu dần dần và chuyển sang nuôi bò. Bò dễ chăn giữ hơn, chỗ ở cũng gọn gàng hơn. Chuồng bò có thể làm trên một gò đất cao hoặc cất chuồng bằng nhà sàn, lót ván dày, lợp lá che nắng che mưa vì bò ghét nắng kỵ mưa, chứ không dằm mưa dãi nắng như trâu. Bò phải được tắm rửa sạch sẽ, chứ không để lún như trâu. Bò thường được chủ may mùng bằng bao bố tời hoặc bằng bao cát để tránh muỗi. Ðối với trâu, người nông dân không phải không chăm sóc trâu kỹ lưỡng, mà vì trâu thường đông quá, lại lớn con, sừng cao lêu nghêu, nên việc giăng mùng rất khó khăn. Hơn nữa, trâu thích nằm dưới bùn, dưới vũng để ngủ, nghỉ, nên việc trước tiên trong lúc chọn chỗ cầm trâu là chung quanh phải có hầm, có lung vũng. Do đó, muỗi có chích trâu cũng không phải là vấn đề lớn lắm. Tuy nhiên, người nông dân nào cũng thương quý trâu, bò. Chẳng những đó là tài sản quý báu nhất trong nhà, mà trâu, bò còn là người bạn thân thiết nhất của người nông dân. Vì thế, sau mỗi ngày cùng với trâu bò cày bừa trên cánh đồng ruộng vất vả, mệt nhọc, người nông dân không quên cắt thêm cỏ để cho trâu, bò ăn dặm thêm vào ban đêm, cho bò, trâu uống thêm nước. Ngoài ra, họ còn gom rơm, cỏ mục làm thành những đống un, rưới nước lên, đốt cho xông khói để muỗi, mòng giạt ra, bớt cắn trâu bò. Tình thương loài vật thân thiết này của người nông dân còn được thể hiện qua nghĩa cử không ăn thịt những con trâu, con bò mà mình đã nuôi nấng, gần gũi, vui buồn có nhau trên đồng cạn, đồng sâu mỗi khi trâu bò bị đau, bị chết. Hồi còn nhỏ, tôi thường thấy, mỗi lần trâu của cậu tôi bị chứng bịnh đau lưỡi hoặc uống nước trúng nhằm phải con chơm chơm bị sình bụng lên ngã lăn đùng ra chết, cậu tôi bảo mấy ông anh tôi đào lỗ đem chôn, chứ không xẻ thịt, mà cũng không bán. Hầu như, nông dân , ai ai cũng có lòng từ tâm, đối xử với trâu, bò như vậy. Ít khi người nông dân đánh đập trâu ,bò có vết, cò tỳ. Nếu lỡ mướn đưa bé nào chăn giữ trâu bò mà thường đánh đập trâu bò quá, chủ biết được sẽ cho nghỉ, tìm đứa khác. Họ thường cũng có những cây roi bằng nhánh tre, bằng cọng mây, cốt chỉ để dọa cho trâu bò sợ khi cần. Bò rất sợ đòn. Có nhiều con bò rất lẹ, đi cày, đi bừa chủ nhiều lúc phải chạy theo lúp xúp. Nếu có hơi chậm chân, chủ chỉ cần giơ cao ngọn roi là bò đã ba chân bốn cẳng bước lẹ rồi, không phải đợi tới quất mạnh roi vào lưng, vào đít. Trái lại, trâu thì lì hơn, đặng không mừng, mất không lo, cứ từ từ bước đều, bền bĩ, không vội vàng. Chủ có hối thúc, cũng bước đều vậy thôi. Thêm vào đó, nếu đúng buổi thả cày, thả bừa để nghỉ ngơi, tắm rửa, ăn uống mà chủ chưa chịu cho nghỉ, trâu nhà ta sẽ không bước thêm một bước, cho dù có đánh cũng không nhúc nhích. Nếu chủ cứ tiếp tục không cho nghỉ, trâu sẽ qụy xuống rồi lộn ách ra khỏi cổ. Chủ đành chịu thua, phải thả trâu, lo tắm rữa, cơm nước, ngủ một giấc lấy sức cho buổi cày chiều.
Thông thường, trong văn chương, sách vở hay ca tụng cảnh trẻ mục đồng ngồi trâu thổi sáo hoặc nghêu ngao với đàn bò, một hình ảnh rất đẹp, rất thơ mộng. Rất tiếc, trong thực tế không phải như vậy. Thành ra, cứ mỗi lần tôi đọc được ở đâu đó nói về điểm này, hoặc nhìn những bức tranh, bức ảnh vẽ chú bé ngồi lưng trâu cầm ống sáo đang thổi, tôi có cảm tưởng bị người ta gạt mình . Vì từ thuở nhỏ, tôi sống ở đồng quê, tôi có theo mấy đứa trong xóm giữ bò. Sau, lớn lên, tôi cũng có đi giữ bò, ngủ coi chừng bò trong đồng, trong bái và đã từng bị bò đạp lên mình, giờ còn để lại đấu sẹo bên hông, nên tôi có thể nói chắc chắn rằng chăn giữ bò, trâu cực lắm, không dám lơ đễnh, rảnh rang như người ta tưởng. Vì, chỉ cần ham chơi một chút, quên để ý một chút là bò trâu vào rẫy, vào lúa rồi. Mồi lần trâu bò phá hại mùa màng là việc phiền toái lắm. Hơn nữa, mấy đứa trẻ làm gì mà biết thổi ống sáo, ống tiêu. Có chăng, thường thường lấy đất sét nắn những con tu hú, đem phơi nắng cho thật khô, rồi rỗi rãnh thổi chơi cho đỡ buồn. Ðến khi tôi được lên tỉnh học trung học, Tía má tôi gởi tôi ở đậu nhà bà cô ruột tôi, để đi học. Nhưng tôi vẫn được ông dượng rễ tôi nhờ đi giữ trâu, ngủ coi chừng trâu hoài. Gò cầm trâu của dượng tôi gần mé lộ xe hơi, phải lội ngang một cái mương đầy cỏ mồm, lục bình. Tôi phải lội qua cái mương đó để ngồi dưới ánh sáng đèn điện học bài vào ban đêm, trước khi chun vô mùng ngủ giữ trâu trong cỏ rậm, muỗi mòng ì xèo. Lỡ nửa đêm trâu sút chuồng, cực ơi là cực. Tía má tôi biết được hoàn cảnh như vậy, rất đau lòng. Nhưng vì muốn con đi học biết chữ mà không có nhà quen để ở đậu, không đủ tiền ăn cơm tháng, đành phải chịu vậy, chứ biết làm sao hơn. Sở dĩ, tôi muốn nhắc lại một chút riêng tư như vậy, để thấy rằng chăn trâu không " sướng lắm chứ " đâu!
Trở lại những đặc tính của trâu, bò, nhất là mỗi khi đề cập đến sự thông minh, người ta thường nói: "Ngu như bò". Nhưng trong thực tế, trâu bò gì cũng ngu như nhau, vì dù sao, chúng cũng chỉ là những con vật không hơn không kém. Nếu có đặc điểm nào đó đáng chú ý, thì trâu và bò đều có cùng nét độc đáo là rất dễ thuần hóa, dễ sai bảo, dễ khiến và giúp cho người nông dân rất đắc lực trong việc khai mở đất hoang thành ruộng nương cò bay thẳng cánh với những cánh đồng bạt ngàn như bây giờ. Nếu nói đến sự nhớ dai, trâu bò đều có khiếu nhớ dai, mà nhất là bò nhớ dai không kém trâu. Vì thế, cứ mỗi chiều, sau một ngày làm lụng vất vả hoặc thả cho ăn ngoài đồng, khi trời vừa sẫm xuống, bò trâu tự động quay đầu về chuồng. Tuy nhiên, trẻ chăn trâu bò cũng phải lùa trâu bò về chuồng, chứ ít khi bỏ đi hoang, sợ trâu bò phá phách rẫy, lúa. Thời giặc Pháp hay ruồng bố, nhà tôi có nuôi bò rất nhiều. Khi nghe bà con thông báo: "Tây bố! Tây bố!", Tía tôi trước khi dìu dắt anh em chúng tôi xuống xuồng chạy giặc, ra mở cửa chuồng, tháo dây vàm cho bầy bò tung ra để chạy, vì sợ Tây vô bắn giết bò. Nghe tiếng súng nổ, bò sợ hoảng chạy tứ tán vô đồng, trốn trong lùm, trong bụi. Ðến khi êm tiếng súng, không biết từ đâu, bò lục tục kéo về đứng yên trong chuồng như có ai lùa về. Thực tế đó cho thấy, bò cũng nhớ chuồng nhớ trại không thua gì trâu như trong tục ngữ có nhắc tới : "Lạc đàng nắm đuôi chó, lạc ngõ nắm đuôi trâu".
Về sức mạnh, ai cũng phải công nhận, trâu mạnh gấp đôi bò. Ðiều này có thể thấy rất rõ. Cũng cùng một cộ lúa bông, tức là lúa mới cắt, chưa đạp ra hột hoặc một xe lúa hột khoảng hai mươi lăm gịa, phải hai con bò mới kéo nổi, trong khi đó chỉ cần một con trâu là kéo được rồi. Ðiều này còn cho thấy trong nông dân, người ta có những danh từ như "cộ chiếc", " cộ đôi " là vậy. Tuy nhiên, có những công việc đồng áng, không thể dùng một con trâu hay một con bò mà kéo được như kéo cày, kéo bừa, trục đất hoang, trục đất sạ lúa, đạp lúa bông ra lúa hột phải cần tới hai con để công việc được nhẹ nhàng hơn và cũng không bị trở ngại. Dĩ nhiên, nếu được dùng hai con cùng một lúc, công việc cũng nhanh hơn nhiều. Trường hợp phải dùng hai con trâu hoặc bò, người nông dân phải lựa hai con đồng sức, nếu không, con nào yếu hơn, con đó sẽ bị con mạnh lướt hơn, nhiều lúc không theo kịp, đăm ra có cảnh lộn ách gây trở ngại không ít.
Ngày xưa, cũng như bây giờ thường xảy ra việc trộm trâu bò. Bên cạnh những người nông dân chí thú làm lụng cật lực, cũng có những người ăn không ngồi rồi, rượu chè, cờ bạc rồi sanh ra túng thiếu, dẫn đến hậu quả là sanh nghề trộm cắp. Mà trộm cắp trâu bò là trộm cắp có qui mô lớn, chứ không còn ở phạm vi ăn cắp vặt như bắt gà, bắt vịt, bẻ mía, hái dưa, hái xoài. Do đó, thường thường, bò bị bắt trộm nhiều hơn vì bò sau khi kẻ trộm dắt ra khỏi chuồng, chúng có thể dùng roi đánh vào mông bò cho bò chạy nhanh để chủ không còn theo kịp. Còn trâu vốn chậm chạp,có đánh đau cũng chẳng đi lẹ thêm bao nhiêu. Nhiều khi, trâu chưa kịp lùa ra khỏi chuồng bao xa, chủ phát giác kịp, chạy theo bắt lại được. Do vậy, trong tục ngữ có câu : "Ðồ ăn trộm trâu" là thế.
Ðời sống của người nông dân ở thôn quê Miền Nam trước kia gắn liền với đời sống của đàn trâu, bầy bò. Tất cả vui buồn, sung túc, nghèo túng, trúng mùa, thất mùa v.v... đều lệ thuộc vào trâu, bò. Không có trâu, bò người nông dân không thể khai mở đất đai nhiều, không thể làm ruộng nhiều. Mà nguồn lợi chính yếu của người nông dân là ruộng lúa, do đó nhà nào không có ruộng lúa, cái nghèo sẽ đeo đuổi không rời, có khi suốt đời không khá nổi. Từ việc bám víu vào ruộng lúa, trâu, bò đưa đến một quan niệm hết sức sai lầm trong đời sống người nông dân thời trước. Ðó là quan niệm: "Lấy thúng đội lúa chứ không có ai lấy thúng đội chữ". Do đó, đa số con cháu của người nông dân đều dốt nát, thất học, chỉ biết chí thú làm lụng, cày sâu, cuốc bẩm. Rồi con cái lớn là bắt cưới vợ, gã chồng để có thêm người giúp việc ruộng nương, rẫy bái. Tôi cũng chính là nạn nhân của quan niệm sai lầm này của ông dượng rể, như có đề cập ở trên. Ông dượng tôi thường phản bác việc Tía má tôi quyết chí cho anh, chị, em chúng tôi đi học. Biết được thâm ý của ông dượng tôi như vậy, Tía má tôi tìm cách mua một miếng đất gần trường học để cất một căn nhà nhỏ cho anh em tôi ở đi học, về tự túc nấu cơm ăn lấy, dù có mất thì giờ nhưng đỡ khổ hơn mỗi tối phải đi ngủ giữ trâu. Ðiều này cũng xin được nói thêm về việc xuất xứ của tục ngữ và ca dao, phần lớn phát xuất từ nông thôn như nhà văn Nguyễn Hiến Lê, trong quyển "Bảy ngày trong Ðồng Tháp Mười": "Tuy nhiên,trong số dân quê kia, tất có những thi sĩ vô danh gởi tình cảm của họ trong lời ca
mộc mạc..." khi ông đề cập đến những câu hát, tiếng hò giữa cánh đồng hoang vắng với những vần điệu ca dao được người nông dân sáng tác ngay trên vùng đất này. Chẳng hạn:
Trời xanh, kinh đỏ, đất xanh,
Ðĩa bu, muỗi cắn làm anh nhớ nàng.
Bao giờ cho lúa chín vàng,
Cắt rồi anh trở về làng thăm em.
Ðất xanh là vì vùng này còn đầy cỏ, lát, chưa khai mở được nhiều. Ðiều này , còn cho chúng ta thấy, ông Lâm Ngữ Ðường, một văn hào của Trung hoa, khi nhận xét về nông dân, ông viết như sau: "Hạng nông dân và tiều phu chỉ nói chuyện được về lúa má, mưa nắng, làm cho ta mau chán", trong quyển The importance of Living, chưa hẳn đã đúng. Mà nhất là đối với người nông dân VIỆT NAM, lại càng không đúng. Tất cả những điều này cho thấy dù người nông dân thời trước ít biết chữ Quốc ngữ, nhưng đa số họ có học chữ Nho, như ông dượng của tôi cũng biết chữ Hán. Và tiềm tàng ở đó, ở trong tâm hồn của họ là một kho tàng phong phú về thi ca bình dân. Với khung cảnh trữ tình chung quanh gây cho họ rung cảm, là thi ca trào dâng như mạch nguồn bất tận.
Dần dần về sau, từ năm 1954, sau hiệp định Genève, hòa bình được lập lại, người nông dân sau thời gian tản cư, chạy giặc, bấy giờ trở lại vườn cũ, nhà xưa. Họ dọn dẹp lại vườn tược, nhà cửa bị tàn phá, che lại chòi trại, mở mang lại ruộng đất với đôi trâu, đôi bò mới mua sắm hoặc đôi trâu, đôi bò họ dẫn theo được hồi chạy loạn. Ðời sống đâu đó được ổn định lại, quan niệm về học hành cũng thay đổi theo thời gian. Người nông dân, người này bắt chước người kia, họ bắt đầu cho con cái đi học càng ngày càng đông, bên cạnh công việc ruộng đồng, đàn trâu, bầy bò vẫn làm việc đều đặn trên đồng, vẫn lang thang gậm cỏ bên cạnh những đứa trẻ thả diều, nô đùa vô tư lự. Rồi có người, con cái đỗ đạt, rời quê xa làng, nhưng trong thâm tâm những người con của đồng nội đó, họ vẫn không quên được thôn xóm quê mùa của họ. Có cơ hội là họ hòa nhập vào đời sống nông dân bình dị, chất phác, quê mùa như tổ tiên của họ. Nhưng có một điều đặc biệt là họ cấp tiến hơn, cảm thông hơn với nỗi cơ cực của người nông dân nhiều hơn những người khác, những tầng lớp khác nhìn cái cơ cực của người nông dân. Chính vì thế, sau tháng tư 75, khi lịch sử sang trang, thời thế đổi thay, thôn quê miền Nam có thêm rất nhiều nông dân có trình độ học vấn tới trung học, tú tài, cử nhân không ít và cũng không ai lấy làm ngạc nhiên về điều này, nếu có về sống ở thôn quê như chúng tôi. Họ chính là những người con, người cháu của nông dân, được cha mẹ cho đi học hành, thi cử đỗ đạt trước đây. Khi hòa nhập vào đời sống mới, những lớp nông dân mới này đã mang đến cho thôn quê Miền Nam một bộ mặt mới trong giao tiếp hằng ngày như lịch thiệp hơn mà không khách sáo, vui tươi hơn mà không sỗ sàng, thân tình chia xẻ hơn mà không giảm phần cảm mến, kính phục. Họ cũng mang đến cho nông dân, cho bà con của họ những kiến thức khoa học. Nhưng họ cũng đã học được của người nông dân những kinh nghiệm quý báu trong việc đồng ruộng, trồng trọt, mùa màng. Họ hướng dẫn người nông dân cách thức xử dụng thuốc sâu rầy đúng liều lượng đã được hướng dẫn và ngược lại họ cũng được người nông dân chỉ dẫn cách giăng lưới, giăng câu hoặc cách trồng dưa leo, trồng khoai lang nhiều củ, trồng bầu, trồng đậu nhiều trái, nhiều hột. Họ cũng rất yêu mến con trâu, con bò như tổ tiên, ông bà của họ yêu mến con trâu, con bò.
Bây giờ, trình độ khoa học tiến bộ. Việc dùng máy cày, mày xới cũng nhiều nhưng không vì thế mà trâu bò không còn gần gũi với mảnh ruộng, miếng rẩy. Người nông dân ở thôn quê miền Nam vẫn còn nuôi trâu, nuôi bò như xưa. Có điều, dân số càng ngày càng gia tăng, trong khi ruộng nương vẫn giữ nguyên diện tích cũ, nên việc chăn giữ bò trâu cực hơn và người nông dân thường nuôi bò nhiều hơn là nuôi trâu. Và điều đặc biệt đáng ghi nhận là từ bao giờ cho tới bao giờ, người nông dân luôn luôn coi trâu, bò là người bạn thân thiết của mình và đối xử với chúng với lòng từ tâm của một con người, của một người nông dân Việt Nam vốn hiền, chất phác, nhớ ơn, bình dị, chân tình...
Lương Thư Trung
(Viết riêng cho tạp chí VHNT và Ô THƯỚC)
Boston, ngày 10-02-97
Thiên Thần Gẫy Cánh
Khi mưa đến ngày thứ ba, cua bò vào nhà nhiều đến nỗi Pelayo giết cũng không xuể nữa. Chàng phải lội qua khoảng sân trước nhà để ném chúng ra biển. Vì vợ chồng Pelayo mới sanh thằng con và họ nghi rằng chính vì mùi cua mà thằng bé bị sốt nặng cả đêm. Từ thứ Ba, thế giới buồn thảm đạm. Biển cũng như trời xám như tro, và bờ biển thường sáng long lanh trong những đêm tháng Ba, bây giờ nhầy nhụa những bùn và mùi cá chết. Dù giữa trưa, ánh sáng mặt trời cũng yếu ớt đến nỗi khi Pelayo sau khi ném lũ cua ra biển trở vào nhà cũng không nhận ra một đống thù lù đang cựa quậy và rên rỉ ở sân sau. Chàng phải tiến lại thật gần mới nhận ra đó là một lão già lụ khụ đang nằm úp mặt xuống vũng bùn, và dù có cựa quậy thế nào đi nữa cũng không trở dậy nổi vì lão ta có một đôi cánh khổng lồ.
Kinh hoàng như gặp cơn ác mộng, Pelayo chạy vào gọi vợ, Elisenda, lúc đó đang đắp khăn ướt lên trán thằng nhỏ, ra xem. Hai vợ chồng đứng đờ ra nhìn hình thù quái lạ đang cựa quậy. Lão già trông như một người đi lượm rác. Ðầu hói bóng, chỉ còn lưa thưa vài sợi tóc bạc, và vài chiếc răng lung lay còn sót lại. Trong tình trạng thảm hại này, nếu lão ta có được vẻ uy nghi nào thì cũng không còn nữa. Ðôi cánh rộng như cánh chim ưng bẩn thỉu, cụp xuống, bị dính cứng vào đống bùn. Cả hai vợ chồng đứng sững nhìn lão ta thật lâu và khi đã bình tĩnh trở lại, họ thấy ở lão ta một vẻ quen thuộc. Cả hai cùng cất tiếng hỏi, nhưng lão đáp lại bằng một thứ tiếng lạ, với giọng ồm ồm như những tay thủy thủ. Vợ chồng Pelayo cũng bớt sợ, và cho rằng đây chỉ là một tay đi biển nào đó bị đắm tầu trôi dạt vào đây. Tuy vậy, họ cũng gọi bà hàng xóm thông thái của họ sang xem. Bà ta chỉ cần liếc qua là biết ngay họ đoán lầm.
"Thiên thần đấy," bà ta bảo họ với giọng quan trọng. "Chắc ổng được phái xuống để chữa cho thằng nhỏ, nhưng chắc già yếu quá nên bị trận mưa làm cho rớt xuống đây luôn."
Ngày hôm sau, cả làng đều biết là có một thiên thần bằng xương bằng thịt đang bị nhốt trong nhà Pelayo. Dù bà hàng xóm cho biết là ngày nay thiên thần là những kẻ phạm tội trên thiên đình trốn đi, họ cũng không nhẫn tâm đập chết lão giấ Cả buổi chiều hôm đó, chàng còn cẩn thận kéo lão ra khỏi đống bùn, và nhốt vào chuồng gà. Cho đến nửa đêm, khi mưa dứt và cả hai vợ chồng Pelayo vẫn còn đang bận giết những con cua chạy lung tung trong nhà, bỗng thằng nhỏ tỉnh dậy, khoẻ khoắn như không, lại còn đòi ăn nữa. Hai vợ chồng bỗng thấy "lòng từ bi bất ngờ", và quyết định cho lão ta lên một chiếc bè với lương thực đủ cho ba ngày và thả lão ta ra đương đầu với biển cả. Nhưng khi sáng dậy, cả làng đã kéo đến bu quanh chuồng gà, vừa ngắm nghía vừa chọc ghẹo ông già không nể nang gì cả. Họ ném đồ ăn cho ông lão qua mắt lưới chuồng gà như đối với một con thú trong gánh xiệc, chứ không phải đối với một sinh vật siêu nhiên.
Linh mục Gonzaga đến trước bảy giờ sáng, vì ông cũng nghe được những tin đồn vệ sự việc lạ lùng vừa xảy ra. Vào lúc đó những kẻ hiếu kỳ lúc sớm đã bỏ đi hết, những người mới đến sau xúm lại bàn tán chỉ trỏ lung tung, người thì cho rằng lão nên được bầu làm chủ tịch của cả thế giới. Những người khác cho rằng ông ta phải làm một ông tướng năm sao để có thể thắng được mọi trận chiến. Vài kẻ mộng mơ lại nghĩ rằng nên cho ông già này vào lò ngựa giống để có thể tạo ra một giống người thông minh, có cánh để chinh phục thế giới. Nhưng cha Gonzaga, trước khi thành một linh mục, hành nghề thợ rừng cho nên rất thực tế, ông phải ngẫm nghĩ xem nên dụng văn hay dụng vổ Song le, vì "cha là linh mục" cho nên khi đứng bên chuồng gà ông duyệt lại bộ giáo luật và bảo đám người bu xung quanh mở chuồng cho ông "vào trận". Ông nhìn lão già đáng thương đang nằm như một con gà khổng lồ bịnh hoạn giữa đám gà con ngơ ngác. Lão ta nằm trong góc chuồng phơi đôi cánh giữa đống vỏ trái cây và thức ăn sáng còn dư do những người đến từ sáng sớm ném vào. Lạc lõng với thế giới loài người, lão chỉ mở đôi mắt xanh ngắt mầu nước biển, và lẩm bẩm thứ tiếng lạ khi cha Gonzaga cất tiếng chào bằng tiếng La-tinh. Ông cha xứ bỗng đâm nghi cái hình thù trước mặt vì lão ta không hiểu được ngôn ngữ của Thượng Ðế, và không biết cách chào vị chủ chăn chút nào hết. Càng nhìn kỹ, ông càng thấy ông già không có chút gì "thiên thần" hết: mùi hôi nồng nặc bốc lên vì nhiều ngày không tắm rửa, đôi cánh bị đầy bọ bám vào, và những chiếc lông vũ bị gió thổi làm xơ xác cả. Sau khi nghiên cứu xong ông bước ra và cảnh cáo đám dân hiếu kỳ không được tưởng tượng ra những điều quái lạ. Ông cũng nhắc cho họ nhớ là quỉ sứ thường mượn các trò như đoàn xiệc để lừa bịp dân kh
Ông lý luận rằng nếu đôi cánh không phải là yếu tố chính để phân biệt một con chim và một chiếc máy bay, thì cũng khó nhận ra được một thiên thần chỉ vì đôi cánh. Song le, ông cũng hứa sẽ viết thư cho Cha Bề Trên để Ðức Cha sẽ chuyển lên dần cho đến Ðức Giáo Hoàng để xem ngài phán như thế nào.
Sự cẩn thận của cha xứ cũng chỉ vô ích cũng như phúc âm gieo vào những kẻ cứng lòng. Tin một thiên thần bị bắt truyền đi mau lẹ, và chỉ trong vài giờ, sân trước nhà Pelayo đã biến thành một cái chợ ồn ào, huyên náo đến nỗi người ta phải gửi lính mang lưỡi lê đến giữ trật tự khi đám đông tràn vào như muốn xô xập căn nhã. Elisenda, sau khi phải còng lưng quét dọn rác, nảy ra sáng kiến làm hàng rào quanh nhà, và bán vé vào cửa mỗi người 5 xu để xem thiên thần.
Những kẻ hiếu kỳ từ mọi nơi xa đều đến xem. Lúc đó có một đoàn xiếc từ xa đến, có màn trình diễn đu bay nhưng chẳng ai thèm xem cả vì cánh bay của họ không phải là cánh thật. Những kẻ tàn tật, bất hạnh đến xin thuốc chữa bệnh: một người đàn bà nghèo bị bịnh cứ đếm nhịp tim của mình từ lúc mới sinh ra và đã đếm hết cả số rồi; một người Bồ Ðào Nha bị mất ngủ vì âm thanh của những vì sao quá ồn ào; một kẻ mộng du cứ đêm đêm thức dậy phá hết những gì ban ngày hắn làm được; và còn nhiều những kẻ khác bị bịnh nhẹ hơn. Ðoàn người hành hương hỗn độn, ồn ào khiến cho trái đất rung động, nhưng Pelayo và Elisenda vừa mệt vừa vui, vì chỉ trong vòng chưa đến một tuần họ đã chất tiền vô đầy nhà, trong khi đoàn hành hương vẫn còn dài dằng dặc cho đến mãi chân trời.
Trong lúc thiên hạ chộn rộn, bận bịu mua vé vào xem thiên thần như xem diễn viên đóng trò thì thiên thần vẫn mặc kệ. Ông dùng hết thì giờ cố làm sao cho được thoải mái trong "cõi tạm" chuồng gà nóng như quỉ vì những ngọn đèn dầu, và những ngọn nến thánh đặt dọc theo cửa chuồng. Lúc đầu họ thử cho lão ăn những cục long não, vì theo bà hàng xóm thông-thái, long não là thức ăn chính của thiên thần. Nhưng lão không chịu ăn, cũng như không ăn những thức ăn dành cho các bậc tu hành do những kẻ đang ăn năn tội lỗi mang tới. Và họ cũng không thể hiểu nổi không biết vì lão là thiên thần, hay chỉ là một ông già mà cuối cùng lão cũng chỉ ăn những nụ cà pháo. Lão dường như chỉ có một đức hạnh siêu nhiên ấy là sự kiên nhẫn chịu đựng, nhất là trong những ngày đầu khi những con gà mái mổ vào đôi cánh to sù của lão để tìm những con bọ chét bám đầy trong đó, và khi những kẻ tật nguyền kéo những chiếc lông cánh để thoa vào chỗ tật nguyền của họ; ngay cả khi có những tên độc ác ném đá vào mình lão cố làm cho lão đứng dậy để xem hình thù thế nào. Chỉ có một lần họ thành công khi dí một thanh sắt nung nóng, vì lão cứ nằm bất động trong hàng giờ khiến họ nghi rằng lão đã chết. Nhưng lão choàng tỉnh dậy, gừ lên những tiếng lạ, và đôi mắt thì đẫm lệ, rồi vỗ vỗ đôi cánh khiến cho một cơn trốt đầy phân gà, và bụi kèm theo một cơn gió kinh hoàng dường như chưa có trên quả đất bao giờ làm cho họ kinh hoảng. Mặc dù nhiều người cho rằng phản ứng này của lão chỉ vì đau chứ không phải vì giận, họ cũng cẩn thận không dám chọc lão nữa, vì đa số hiểu rằng sự thụ động này không phải của một vị anh hùng sa cơ mà là của ngọn núi lửa đang bị đè nén.
Cha Gonzaga phải dùng chiêu chiều chuộng đám đông như một một người tớ gái để ngăn đám đông đừng làm thêm những hành động bất kính, cho đến khi nhận được phán quyết cuối cùng của Giáo Hoàng về số phận của "lão thiên thần". Nhưng thư từ La-Mã không có gì lộ vẻ khẩn trương cầ Họ nhẩn nha tìm hiểu xem lão có lỗ rốn hay không, ngôn ngữ của lão có dính dáng đến tiếng Aramic, hay chỉ là một người Na-Uy có cánh. Những lá thư này có lẽ sẽ tiếp tục cho đến khi tận thế nếu không có một biến cố khác xảy ra cất đi cái bệnh nhức đầu ông cha xứ mắc phải từ khi thiên thần mắc đọa.
Trong suốt thời gian đó, ngoài các gánh hát đến rồi đi, có một cuộc trình diễn của một người đàn bà bị biến thành một con nhền nhện vì không vâng lời cha mẹ. Vé vào cửa cũng bằng vé vào xem thiên-thần-mắc-đọa, nhưng người ta được hỏi bà này và được sờ mó từ đầu đến chân để chứng thực là bà ta bị biến hình thật sự. Bà ta là một con nhện đầu người, to bằng một con cừu đực. Nhưng điều làm cho người ta não lòng nhất không phải vì hình dáng của bà ta mà vì sự đau khổ thành khẩn khi bà ta kể lại chi tiết về nỗi bất hạnh bà phải chịu. Khi còn là một cô bé, cô ta đã trốn nhà đi "nhót". Khi về nhà, sau khi đã nhảy suốt đêm mà không xin phép cha mẹ, cô đi qua một cánh rừng, bỗng một tiếng sấm nổ vang vé bầu trời ra làm hai, và cô bị sét đánh hóa thành một con nhện. Thức ăn của bà ta bây giờ là những viên thịt mà những kẻ hảo tâm quăng vào miệng. Một cảnh tượng như thế, đầy chất "người", và mang một bài học đáng sợ đến thế gần gũi với loài người hơn, và dĩ nhiên, "show" thiên thần không ăn khách nữa. Thêm vào đó, một vài phép lạ xảy ra từ "lão thiên thần" cho thấy lão tâm trí không được bình thường. Một kẻ mù không sáng mắt được mà mọc ra ba cái răng mới, hoặc kẻ què không đi được lại trúng số, và người cùi không hết bịnh mà những vết loét lại trổ những bông hoa hướng dương. Những phép lạ này làm cho lão thần tiên mất hết tiếng tăm khi bà nhện xuất hiện. Khi đó cha Gonzaga mới thực sự hết mất ngủ, và gia đình Pelayo mới trở lại bình thường, vắng vẻ như trong ba ngày mưa dầm với lũ cua bò lúc nhúc trong nhà.
Tuy vậy, chủ nhà cũng chẳng có gì tiếc nuối. Họ đã có đủ tiền để cất một căn nhà hai từng có ban-công, có vườn, có hàng rào cao ngăn không cho lũ cua lọt vào nhà trong mùa đông, và cửa sổ có song sắt để ngăn không cho ông lão chui vào. Pelayo xây một trại nuôi thỏ gần phố, và bỏ nghề làm phú-lít vĩnh viễn. Elisenda cũng sắm sửa giầy cao gót, áo sa-teng, quần lụa lèo để mặc trong những ngày chủ nhật như những người đàn bà khác thời bấy giờ. Chuồng gà là nơi duy nhất không được tu bổ gì hết. Nếu họ có quét dọn bằng dầu thơm, hay xông trầm đều đều, không phải vì họ kính nể gì ông già mà vì phân dính đầy tứ tung, mùi hôi thối không thể tả cứ ám vào căn nhà mới sẽ làm cho nó cũ đi. Nhưng dần dần họ hết sợ, và dần dần quen với mùi khó chịu đô Trước khi thằng nhỏ mọc chiếc răng thứ hai, nó lẫm chẫm đi vào chuồng gà để chơi, vì các song chắn đã xiêu vẹo, rụng rơi cả rồi. Lão thiên thần cũng chả tỏ vẻ gì thân mật với nó hơn đối với những sinh vật khác, nhưng lão chấp nhận sự nghịch ngợm vô tư của thằng nhỏ với sự kiên nhẫn của một con chó không có một ảo tưởng nào cầ Cả hai đều bị bệnh đậu gà cùng một lúc. Vị bác sĩ chữa cho thằng nhỏ không ngăn được tính tò mò cố nghe tim thiên thần xem nó đập như thế nào, nhưng ông ta chỉ nghe được những tiếng kêu rù rù trong quả tim, và hàng chục thứ tiếng khác nhau trong trái thận, khiến ông không thể tin là lão có thể sống được. Ðiều làm cho vị bác sĩ ngạc nhiên nhất là đôi cánh. Nó dính vào xác thịt lão già một cách tự nhiên đến nỗi ông ta tự hỏi tại sao những người khác không thể có được.
Khi thằng nhỏ đến tuổi đi học, thời gian và mưa nắng làm cho chuồng gà sụp đổ. Lão ta đi lê thê trong vườn từ nơi này sang nơi nọ như một bóng ma trơi. Thường sau khi dùng chổi quét lão ta từ trong buồng ngủ ra, lại thấy lão ở trỏng rồi. Dường như lão có thể có mặt tại nhiều nơi trong cùng một lúc đến nỗi họ tin rằng lão có phép phân thân làm Elisenda khó chịu như phải sống trong một địa ngục đầy những thiên thần. Hầu như lão không ăn uống gì cả, và đôi mắt mầu xanh nước biển lúc nào cũng như phủ một lớp sương mờ làm cho lão ta hết va đầu vào cột này lại đâm đầu vào cột khác. Quần áo lão đã rách nát hết, chỉ còn trơ trọi những sợi lông khiến cho Pelayo phải cho lão một tấm mền và động lòng trắc ẩn cho lão ngủ trong nhà kho, và chỉ khi đó họ mới biết lão bị sốt về đêm, và cứ lầu bầu thứ tiếng khó nghe như của một lão già người Na Uy. Có đôi lần họ tưởng rằng lão "đi đứt rồi". Ngay cả bà hàng xóm thông-thái cũng không biết phải làm sao với một cái xác thiên thần.
Nhưng không những lão "qua hết một mùa đông" mà còn khoẻ ra trong những ngày nắng ấm. Lão vẫn nằm bất động trong vài ngày ở tận một góc vườn nơi ít người để ý. Khi tháng Chạp bắt đầu, một vài chiếc lông vũ mọc trở lại trên đôi cánh, những sợi lông cứng như lông quạ lại càng làm tăng thêm nỗi thảm hại trên một thân hình tiều tụy. Nhưng lão hẳn biết nguyên do của những sự thay đổi này, vì lão rất cẩn thận không để ai chú ý tới, cũng như bài hát về biển lão thường ngân nga dưới những vì sao. Một buổi sáng kia, khi Elisenda đang thái những củ hành cho bữa ăn trưa, thì một cơn gió dường như từ biển thổi vào trong bếp. Nàng chạy ra cửa sổ và bắt gặp lão đang vỗ cánh tập bay, nhưng rất vụng về vì khi té xuống móng tay lão cào thành những luống dài trên những liếp rau, đôi lần suýt nữa làm sụp luôn nhà kho vì đôi cánh chưa đủ sức cản gió. Nhưng sau một lúc lão bay lên được. Nàng thở ra một hơi nhẹ nhõm cho chính nàng, và cho cả lão nữa khi nàng thấy lão từ từ bay bay khuất khỏi những căn nhà cuối cùng với đôi cánh đập như cánh chim ưng. Nàng tiếp tục nhìn theo cho đến khi không còn nhìn thấy nữa, bởi vì lão không còn là một nỗi khó chịu trong đời nàng, mà chỉ như một chấm tưởng tượng ở cuối chân trời.
Trịnh Tường chuyển ngữ
Dịch từ "A Very Old Man with Enormous Wings" của Gabriel Garcia Marquez.