vhnt, số 263
16 January 1997
Trong số này:
Thư vhnt..................................................................BBT
T h ơ :
1 - Em Phố Núi ........................................................TTV
2 - Buổi Chiều Thạch-Phố ...................................Diễm Âu
3 - Em và Ca Dao Tục Ngữ (Chùm thơ)..................Trần Ban Thạch
4 - Bài Thơ Ðầu Năm ..........................................Cỏ Nhớ
5 - Bài Thơ Khuya / Gió Núi.................................Trương Chi
6 - Tạ Ơn...............................................................TTH
7 - Trái tim chàng .............................................Bích Châu
8 - Ðoản Khúc Tháng Giêng .............................Hoàng Mộc Linh
D i ễ n Ð à n V ă n H ọ c :
9 - Vài Ý Kiến Về Hát Bội - Trầu - Tiêu .......Lương Thư Trung
Ð i ể m P h i m / Ð i ể m S á c h / T i n Tứ c :
10 - Tin Tức Văn Nghệ ............................................DungFL
11 - Ðiểm Sách Mới .................................................NTD
T r u y ện N g ắn / S án g T ác :
12 - Hãy Ngủ Yên Mặt Trời ........................................BCCB
13 - Tình Ðời ...........................................Bùi Thanh Liêm
Bạn đọc Vhnt thân mến:
Vhnt sẽ gởi đến các bạn một món quà mừng Xuân: Ðó là số VHNT đặc biệt, chuyên đề về Mùa Xuân - Tình Yêu - Cuộc Sống. Mong các tác giả và bạn đọc chia sẽ những tác phẩm của mình với bạn bè gần xa; xin các bạn gởi bài cho số đặc biệt về địa chỉ vhnt@saomai.org.
Vhnt tâm tình rằng: Có thể gọi những người viết văn là nhà văn không? Có thể gọi những người viết thơ là nhà thơ không?
Có thể lắm chứ - phải không các bạn?
Những dòng thơ, câu văn của các tác giả khắp nơi, mà Vhnt chân tình gởi đến các bạn có thể là những dòng viết đầu tay, có thể là những câu viết đã qua sóng gió chữ nghĩa ban đầu; nhưng, thật sự hay không thật sự, những tác phẩm đó đều mang một ước mong thầm kín của người viết. Ước mong thử nghiệm con đường văn nghiệp. Ước mong chứng nghiệm cách diễn đạt, phương thức bày tỏ của tâm hồn. Ước mong suy ngẫm về số phận con người, số kiếp tha hương... Ước mong và nhiều ước mong hơn nữa.
Ở đây, những câu chữ không mang theo mình một sứ mệnh văn nghệ nào cả; mà là thêm một dấu than suy tưởng cho thân phận, thêm một dấu hỏi bâng khuâng cho sự hư thực của cuộc đời, thêm một dấu huyền thơ mộng cho tình yêu đã và đang đến, thêm một dấu sắc bật cười giữa đời thường cơm áo ngây ngô... Viết ra chưa phải là kết thúc mà chỉ để bắt đầu đi đến những khởi điểm.
Bước đi đã là nơi đến, nói chi chuyện đêm dài.
Chúc các bạn một ngày vui,
thân ái,
BBT/vhnt
Em Phố Núi
viết cho trần thu hồng
Có ai đưa em về trong chiều nay
Ðường hun hút mùa đông đầy tuyết lạnh
Có ai đưa em về trong chiều nay
Ngày trước Giáng Sinh phố phường hiu quạnh
Tự thuở mười ba em sống xa nhà
Tương lai gởi nhờ tấm lòng nhân loại
Ðường quê mình em chưa đi bao xa
Mà đường tha hương nửa vòng thế giới
Em ở đây làm tiểu thơ phố núi
Chiều hoang vu quay quắt nhớ gia đình
Mây xuống gần nhưng mây vẫn làm thinh
Cho mắt em giăng giăng màu u uẩn
Tuổi hăm ba vẫn xa lìa cố quận
Phố núi vẫn buồn em vẫn bơ vơ
Lời ru mẹ giờ viết lại thành thơ
Thay tay ấm vỗ về em giấc ngủ
Em đang đi trên đường chưa lần thử
Bốn ngàn năm chỉ một chuyến lưu vong
Thế hệ đầu tiên nước mắt lưng tròng
Câu chuyện thật như câu chuyện huyền sử
Có ai đưa em trong chiều gió hú
Ðường quanh co gợi nhớ chút quê hương
Hoa tuyết bay, bay nhẹ phủ đời thường
Tôi viết cho em lời thơ đẹp nhất...
trần thái vân
Buổi Chiều Thạch Phố
Mỗi ngày khi tan xưởng
Cha ngắm nắng chiều rơi
Lòng không dưng buồn vợi
Cha đứng lặng bồi hồi
Cha chạnh nhớ buổi chiều quê Trung Phước
Nắng hanh vàng, trời cũng thật trong xanh
Cha đứng trên đê ngẩn ngơ nhìn con nước
Chảy lặng lờ quanh ruộng lúa hiền lành
Cha làm thơ dưới mái nhà ngói đỏ
Thường mộng mơ về rặng núi phía xa
Thường thấy Ông tôi ngược xuôi vất vả
Nên giòng thơ Cha viết rất chan hoà
Mỗi chiều ra khỏi xưởng
Cha mỏi mệt về nhà
Tên đường trên phố lạ
Mười năm rồi chưa quen
Mười năm lẻ chưa một lần Cha khóc
Ðôi lúc chùng lòng ngó tấm ảnh xưa
Vậy mà nghe như có những vạt mưa
Rơi tầm tã trên vũng sầu chan chứa
Sáu mươi bảy tuổi, bao giờ Cha hứa
Dẫn tôi về bên ruộng lúa bờ ao
Nhìn Quế Sơn trùng điệp giữa non cao
Cha sẽ chỉ tôi xem nguồn nước cũ
Bao nhiêu lần tan xưởng
Cha ngắm nắng chiều rơi
Tóc mỗi ngày mỗi bạc
Rụng trắng cả quê người
Diễm Âu
Em và Ca Dao Tục Ngữ
Em Là Con Chim Sáo
Con chim sáo đậu trên cành
Càng rung, gió giật chim đành bay xa
Mình ta giữa cõi ta bà
Giữa trời đất rộng, nghe tà huy rơi.
Mật Ngọt Tình Em
Em từ một cõi trời nào
Theo cơn lốc xoáy lạc vào cõi tôi
Nên lòng em để hai nơi
Nửa cho tôi, nửa cho người tình xa
Tôi con ruồi nhỏ mù lòa
Chết trong đĩa mật ngát hoa dị thường.
Tôi Kẻ Trồng Gai
Tay leng, tay cuốc tôi trồng
Tôi vun, tôi xới bụi hồng vườn em
Ðưa tay hái cánh nhung mềm
Mới hay gai nhọn mọc trên tay mình.
Uổng Công Trang Ðiểm
Hình như có chút lược gương
Chút son, chút phấn, chút hương dậy thì
Em đi, tình cũng ra đi
Tôi còn giữ chút nhu mì dáng xưạ
Thiên Thu Nhớ
Tình em ta cắn sao giòn
Cắn tim ta vụn, cắn hồn ta đau
Ta còn một giọt máu đào
Ðể thiên thu nhớ cuộc tao phùng nàỵ
Trần Bang Thạch
Bài Thơ Ðầu Năm
đầu năm ngồi phổ thơ mừng
đem khoe trời đất mấy vần thơ tôi
dòng nầy cảm nghĩa ân đời
từ bao nhiêu tiếng khóc cười tôi cam
từ nơi thế tục trần phàm
mừng tôi được sống kiếp đam mê nầy
và dòng thơ nữa là đây
cám ơn người cuối chân mây hong tình.
Cỏ Nhớ
Bài Thơ Khuya
Trơ trọi những câu thơ
Ho lao
thổ huyết
Tôi nằm đau, tưởng chết
giữa sương mù
Một mùa đông
rất dài, thiếu vắng
lửa hồng
Nên bài thơ không hương
Ai
làm dịu
vết thương
ung mủ
Xào xạc
lá khua
trên đường.
Bài thơ vô thường
xào xạc bay...
11/1/1997
Gió Núi
Em phong phanh gió núi
Ta về qua bến sông
Chân tìm em gót mỏi
Dưới hiên đời mênh mông.
Chiều vàng lưng núi rộng
Ngày tím xa cánh đèo
Có cánh chim về đậu
Ta lần dấu đi theo.
Tìm gót người lẩn lút
Tình cạn giữa thiên thu
Bóng ta hoài chìm khuất
Nên bóng bay sương mù.
11/1/97
Trương Chi
Tạ Ơn
tặng Ba Mẹ và Em
Tạ ơn
mấy nụ hoa cà
một giàn bông bí
la đà
ngọn cau
đong đưa
mấy sợi dây trầu
thắm môi của Nội
nồng câu Truyện Kiều
Tạ ơn
dòng suối xanh rêu
cho Em giặt áo
mỗi chiều
nắng bay
lá thay
ngày tháng
mau phai
đôi chân nhỏ
đôi vai gầy
nắng xiêu
tạ ơn Em
gian khổ nhiều
mưa giăng mấy sợi
thương yêu
mấy lần
Tạ ơn
ngày nắng quanh sân
hong khô
hạt thóc
nhuộm vàng
hạt ngô
Nước non
trời đất
xô bồ
xua ta trôi giạt
bến bờ
mồ côi
chân đi mòn mỏi
phận đời
mong về quê Mẹ
nói lời
tạ ơn.
TTH
1996
Trái tim chàng
Trái tim chàng...
Như ngọn lửa hồng
Bạn ơi hãy nhớ...
Ngọn lửa có thể tàn
Nhưng có thể bất ngờ
Bạn sẽ cháy ra tro
Trái tim chàng...
Như lưỡi dao sắc
Bạn ơi hãy nhớ...
Lưỡi dao có thể cùn
Nhưng cũng xem chừng
Bạn có thể đứt tay
Trái tim chàng...
Cho bạn hạnh phúc
Nhưng trái tim chàng
Có thể là kẻ cướp
Tước mất đi
Linh hồn bạn...
BC
Jan. 1997
Đoản Khúc Tháng Giêng
- một đêm tháng giêng miền đông bắc -
I.
Tháng giêng gió đông về trằn trọc
Những ước mơ dài thổn thức
Và tiếng yêu đầu đời còn trăn trở khôn nguôi
Tháng giêng nửa đêm giật mình thức giấc
Gió rú từng cơn khóc sụt sùi
Tôi treo tim mình trên hoang vu đống lửa
Hong nóng để rồi được bung vỡ làm đôi
II.
Tháng giêng có từng hơi thở lạnh
Bước xuống đời có những lúc không vui
Thì em ơi, em cứ ngồi xuống cạnh
Hát khúc yêu thương để quên đời
III.
Tháng giêng tôi ra bờ sông tình tự với gió
Ôm bao la mà ngỡ có tình thương
Lời kêu gọi từ đỉnh trời gió hú
Mang tôi đi đến những cảm nghĩ dị thường
Tháng giêng tôi ngâm chân mình dưới nước
Ừ hử, hẳn trên đời còn có thứ lạnh hơn tôi
IV.
Tháng giêng trong tôi còn bao điều muốn nói
Gió ru đều một giấc ngủ thiên thu
Lò sưởi nhà ai vừa toả khói
Ấm cả lòng tôi muốn gục vùi
Ðêm nay tôi nghĩ về cái chết
[vài người tôi quen vừa mới mất]
Và nghĩ về một sinh nhật xa xôi
[tháng giêng là sinh nhật của tôi]
Có lẽ đời là một tuần hoàn không định trước
Có kẻ ra đi, có kẻ về
Tôi mỉm cười nhắm mắt
Tôi sắp ra đi hay sắp về.
Hoàng Mộc Linh
VÀI Ý VỀ HÁT BỘI, TRẦU, TIÊU
Nói đến tục ngữ, ca dao là nói đến một nền văn chương truyền khẩu với những đặc tính bình dị, đơn sơ mà trong sáng, ý nhị, thâm trầm. Ở đó hàm chứa những tình cảm chân thật, cao quí, với muôn vàn chất liệu cùng kinh nghiệm sống xác thực, phong phú. Mãi hoài, tục ngữ, ca dao vẫn giữ vị trí độc tôn trong suốt dòng sông văn chương VIỆT NAM từ xa xưa cho tới bây giờ và mãi về sau, dù vật đổi sao dời...
Tuy nhiên, không phải lúc nào chúng ta cũng dễ dàng hiểu tục ngữ ca dao, nếu chúng ta không đi vào thực tế của người dân quê, không hòa nhập vào hoàn cảnh của nông thôn, cùng những phong tục, tập quán của làng, của xóm trong từng địa phương.
Với lời "cầu cứu" của bạn Lê Tạo qua câu dao:
Trồng trầu thả lộn với tiêu
Con theo hát bộ, mẹ liều con hư
Dù tôi không tinh tường, nhưng với một vài điều đọc được qua vài tài liệu cùng kinh nghiệm trồng trầu, trồng tiêu trong thời gian tôi về quê làm ruộng, xin nêu với các anh chị và các bạn cùng bạn Lê Tạo một vài ý mà bạn cầu cứu.
Trước hết, theo sách "Phong tục Miền nam qua mấy vầnca dao" của Ðoàn Văn Hội, câu ca dao trên được ghi như sau:
Trồng trầu thả lộn với tiêu
Con theo hát bộ, mẹ liều con hư
1. Xuất xứ.
Theo sách "Phong tục Miền nam qua mấy vần ca dao" của tác giả Ðoàn văn Hội, phần "Phong tục thôn quê", tác giả đã giới thiệu tổng quát:
"Mặc dù ca dao Nam Việt chuyên tả tình tả cảnh, song ca dao còn là tiếng nói của các bạn bình dân, nó là sản phẩm của đồng ruộng, của làng mạc sau lũy tre xanh, nên nó phản ảnh cả phong tục tập quán của dân quê nơi thôn dã"... Chẳng hạn, người dân quê miền Nam quan niệm "xướng ca vô loại", nên đã nghiêm cấm con cái, không cho con cái làm nghề hát bội:
Trồng trầu thả lộn với tiêu
Con theo hát bộ, mẹ liều con hư
Theo cuốn "Thuần phong mỹ tục VIỆT NAM" của Sơn Nam, trong phần "Lễ xây chầu", ông viết: "Nét đặc trưng của đình miếu Nam Việt (kể luôn Bình thuận của Trung Việt, là địa bàn của Gia Ðịnh Thành do Tả Quân Lê văn Duyệt cai quản) là dịp cúng lễ Kỳ yên tại các đình thờ Thành Hoàng Bổn Cảnh hằng năm ,phải có lề Xây chầu, Ðại bội rồi đến Hát bội. Vì vậy, người điều khiển ban cúng tế cần hiểu khái quát (nếu không muốn nói là chi tiết) về lễ nhạc, về xây chầu và hát bội."
Từ đó, ta thấy "hát bội" là hình thái văn nghệ có mặt thường trực, gần gũi trong các đình làng miền Nam.
Ngoài ra, căn cứ vào các chữ dùng trong câu ca dao, ta thấy chữ dùng rất nôm na, không cầu kỳ, giống như lời nói thường của những người nhà quê ở làng xóm miền Nam, một thứ ngôn ngữ rặt "miệt vườn".
Từ những nguồn gốc và nhận xét trên cho phép ta kết luận câu ca dao vừa nêu có xuất xứ từ miền Nam.
2. Hát bộ hay hát bội.
Theo tự điển của Thanh Nghị:
Bộ: là dáng dấp hiện ra bên ngoài, điệu bộ (manière d'être).
Hát bộ: Lối hát có điệu bộ (chantave gestes).
Bội: Cuộc diễn trò, hát với điệu bộ (chỉ dùng trong tiếng hát bội) {théâtre}.
Hát bội: Là hát có tuồng, có lớp lang, diễn theo các truyện tích xưa (théâtre classique).
Theo nhà văn Sơn Nam trong "Thuần phong mỹ tục Việt Nam":
"Hát bội phải gắn bó với tế lễ. Nếu tế lễ là lời cầu nguyện được ban phước, dân làng hứa tuân thủ kỹ cương, giữ thuần phong mỹ tục thì hát bội phải minh họa những lời hứa ấy với hình tượng cụ thể, không phải là những từ ngữ sáo rỗng, mơ hồ .Bởi vậy cần lựa chọn tuồng tích thích hợp. Thí dụ như tuồng "Thần nữ dâng ngủ linh kỳ" thường được các đoàn hát bội hát trong dịp lễ cúng đình Kỳ yên vì lẽ tình lý giữa mẹ con, chồng vợ, cùng việc nước đều vẹn toàn, phù hợp với tâm lý cùng đạo lý của xã hội đương thời " (......) Tế lễ mà thiếu hát bội và phần mở đầu là xây chầu quả là thiếu sót lớn."
Theo Tự điển thành ngữ điển tích của Diên Hương có lược kể về hát bội để hát cho nhà vua xem. Ðời nhà TRẦN đội hát bội đầu tiên được thành lập có tên là đội Hát Bội Thanh Bình. Riêng nhà NGUYỄN từ:
Ðời MINH MẠNG, đội lính hát bội được 137 người: 50 đồng ấu và 87 lính, có một ông Chánh Quản và một ông Phó Quản.
Ðời THIỆU TRỊ, đội lính hát bội 120 người: 50 đồng ấu, 70 lính hát.
Ðời TỰ ÐỨC, 100 người: 50 đồng ấu ,50 lính hát.
Ðời ÐỒNG KHÁNH, thì giữ đội hát bội của vua TỰ ÐỨC để lại.
Ðời THÀNH THÁI, đội hát bội cũng 100 người.
Ðời DUY TÂN, giữ nguyên đội hát bội của vua THÀNH THÁI.
Ðời KHẢI ÐỊNH,đội hát bội có 116 người: 50 đồng ấu, 66 lính hát.
Ðời BẢO ÐẠI, giữ đội hát bội của vua KHẢI ÐỊNH. Chừng vua BẢO ÐẠI thoái vị ngày 24-8dl-1945, thì đội hát bội cũng tan rã. Sau này, đội hát bội này chung đậu với nhau lo cúng tế thường năm, chứ không được ân ban như trước.
Tóm lại, qua các tài liệu mà tôi đọc được, không thấy tài liệu nào dùng chữ "hát bộ". Tất cả thống nhất trong chữ dùng là "hát bội", kể cả trong ca dao.
3. Tại sao lại ví von trầu, tiêu vào việc hát hò.
Trầu và tiêu là hai loại đây leo nhưng có những đặc tính khác nhau về công dụng cũng như sinh thái và môi trường.
Tiêu là loại thực vật trồng để lấy trái, lấy hạt làm gia vị. Tiêu rất dễ trồng và trồng bất cứ nơi nào miễn là có mô đất cao, đừng đọng nước, có nọc cây khô hoặc cây sống để dây tiêu bám vào đó mà leo. Do đó, để tận dụng đất vườn, người nông dân trồng tiêu theo gốc mít, gốc xoài, gốc cau, gốc vông nem v.v... Tiêu có thể sống ở chỗ rậm rạp, thiếu ánh sáng mặt trời mà vẫn xanh tốt, vẫn có trái chín đỏ dây, đỏ nhánh nếu được vun bón, tưới nước đầy đủ.
Trái lại trầu thì khác. Trầu phải trồng có vườn riêng biệt. Nọc trầu phải bằng gốc tre gai, hoặc những loại cây lâu mục như cây tràm lụt hoặc cây vông nem nhưng phải mé nhánh vông nem thường xuyên vì sợ nhánh vông che khuất ánh nắng, trầu không chịu trong rập. Chỗ làm vườn trầu phải quang đảng, không đọng nước. Có như vậy trầu mới tốt, lá mới vàng. Trầu mà trồng lộn với tiêu, trầu không tốt được, trầu không vàng, lá sẽ nhỏ và có màu da lươn nên được gọi là trầu lươn. Người sành điệu, không ai ăn trầu lươn. Và trầu lươn cũng không dùng vào việc lễ nghĩa được. Vì rằng trầu ngoài việc để ăn với cau, theo tập tục của người VIỆT, trầu còn là biểu tượng của lễ nghĩa trong giao tiếp, cưới hỏi. Người ta tới thăm nhau, việc đầu tiên họ chào nhau bằng miếng trầu. Chẳng vì thế, mà trong tục ngữ, ca dao có đề cập rất nhiều về miếng trầu. Sau đây là một vài thí dụ:
Miếng trầu là đầu câu chuyện
hoặc:
Miếng trầu nên dâu nhà người
hoặc:
Miếng trầu chạm ngõ là miếng trầu bỏ đi
hoặc:
Mâm trầu, hủ rượu đàng hoàng,
Cậy mai đến nói phụ mẫu nàng thì xong, v.v...
Tóm lại, người nông dân họ rất thực tế, bình dị, đơn giản, chất phác. Thấy chung quanh mình cái gì dễ nhận là có dịp họ đem so sánh, áp dụng vào đời sống thường nhật trong việc giáo dục, dạy dỗ con cái theo lễ nghĩa. Họ thấy trầu mà trồng lộn với tiêu, trầu vô dụng, không dùng vào đâu được, còn mất công tưới nước, vun phân. Thà thôi bỏ đi để cho đây tiêu còn có thêm chút phân, chút đất, tiêu xanh tiêu tốt, lợi ích hơn.
Quan niệm xưa, việc đào hát diễn tuồng là việc "xướng ca vô loại", bị khinh miệt. Những người đi hát sống một đời bềnh bồng, rày đây mai đó, ăn quán ngũ đình, không bờ không bến. Nhà nào có con gái theo đào hát bội thì cha mẹ coi như con mình hư hỏng rồi, như trầu trồng lộn với tiêu, trầu lươn, trầu trong rập ,trong mát rồi, trầu bỏ đi.
Trên đây là một vài ý thô thiển như một góp nhặt nhỏ nhoi và xin các bạn vui lòng bổ khuyết thêm.
Lương Thư Trung
VOLTERRA (Ý) - Giới thiệu nhạc Việt và đồng song thanh
Từ Ý, nhạc sĩ Trần Quang Hải viết cho tòa báo: "Bạch Yến và tôi lần đầu được mời tham dự đại hội Volterra Teatro này. Quả thật tôi không bao giờ có ý nghĩ trong đầu là đến một làng nhỏ bé của xứ Ý để trình diễn nhạc cổ truyền Việt Nam."
Ðại nhạc hội Volterra Teatro ở tỉnh Volterra, vùng La Toscana, thực ra là một sinh hoạt quan trọng vì vùng đất này vốn có lịch sử 3,000 năm, nơi phát sinh nền văn minh Etrusque vào thế kỷ thứ 8 trước Thiên chúa giáng sinh.
Ðại nhạc hội có tên I Poteri del Suono (Uy thế của âm thanh), diễn ra từ mùng 2 tới mùng 5 tháng Mười 1996, quy tụ rất đông ca nhạc sĩ đến từ khắp nơi trên thế giới.
Bạch Yến và Trần Quang Hải đã biểu diễn, trong một chương trình dài 60 phút, nhiều điệu dân ca Việt Nam và các kỹ thuật đánh muỗng, hát đồng song thanh, được khán giả tán thưởng nồng nhiệt.
QUẬN CAM - Ðêm hát Hùng Sử Ca
Hùng sử ca là một thể loại bài hát đề cao lòng yêu nước và ca ngợi những tấm gương sáng của anh hùng liệt nữ trong lịch sử Việt Nam. Ra đời kể từ khi nền tân nhạc phôi thai cách đây khoảng sáu mươi năm, thể loại hùng sử ca đã có tác động giáo dục lòng yêu nước và yêu quý tiền nhân của nhiều thế hệ người Việt Nam. Các bài hát như Bóng Cờ Lau, Nước Non Lam Sơn, Bạch Ðằng Giang... đã biến thành tình cảm trong sáng lành mạnh của biết bao lớp thiếu niên nhi đồng, góp phần xây dựng nhân cách và đào tạo nên những công dân yêu nước nhà suốt nhiều thập niên qua.
Buổi hát hùng sử ca được Ủy Ban Thanh Niên thuộc Hội Văn Học Nghệ Thuật Việt Mỹ tổ chức tối ngày thứ Sáu, 25 tháng Mười 1996 tại phòng Sinh Hoạt Nhật Báo Người Việt, thành phố Westminster, Nam California, đã làm sống lại nhiều tình cảm về lịch sử và đất nước quê hương Việt Nam. Hơn một trăm người tham dự, thuộc nhiều lứa tuổi khác nhau, có những bậc lão thành tóc trắng xóa bên cạnh rất nhiều đoàn sinh Hướng đạo trong tuổi thanh thiếu niên, có những huynh trưởng thanh niên cách đây ba bốn chục năm cùng hát với những đại diện sinh viên các trường Ðại học miền Nam California của ngày hôm naỵ
Ðây không phải là một buổi trình diễn ca nhạc mà là một buổi sinh hoạt ca hát chung. Một tập nhạc gồm 18 bài Hùng Sử ca đã được hội VAALA in và biếu cho người tham dự để mọi người có thể cùng hát với nhaụ Sau khi anh Lê Nguyên Phương, trưởng Ủy ban Thanh Niên của Hội Văn Học Nghệ Thuật Việt Mỹ, trình bày mục đích của buổi sinh hoạt này như là một cố gắng gìn giữ tâm hồn gần gụi với quá khứ của người Việt Nam hải ngoại, nhất là đem lại cho tuổi trẻ lòng tự hào về lịch sử đất nước mình, chương trình ca hát bắt đầu với sự điều khiển chương trình có duyên và vui nhộn của anh Ðinh Quang Anh Tháị Bài Nước Non Lam Sơn của Hoàng Quý đã được hát bởi một tập thể trẻ đến từ nhiều tổ chức khác nhau: đoàn Thanh Niên Bách Việt, Tổng Hội Sinh Viên, Thanh Niên Việt Nam Quốc Gia hải ngoại, Nhóm Nắng Mới, Tổ chức Nhân Quyền năm 2000. Vừa hết một phiên khúc đầu thì cử tọa không còn "nhịn" được, cả phòng hòa tiếng hát theo:
Nước Non Lam Sơn
Nước Non Lam Sơn
Bóng cờ bay phất phới
Khắp nơi cờ vàng...
Tiếng hát chung làm rung động hội trường và rung động lòng người.
Các chị Nguyễn Thị Nhuận, Mỹ Thúy và Bích Ngọc hướng dẫn mọi người cùng hát bài Trưng Nữ Vương của Thẩm Oánh, một bài hát từ lâu mọi người có cảm tưởng chỉ dành cho các nữ sinh trường Trưng Vương, rồi bài Ðại Phá Quân Thanh của Hoàng Thi Thơ với âm điệu dồn dập của những trận xáp chiến. Rồi lần lượt những khuôn mặt đã có thời từng ca hát bên ánh lửa trại bập bùng, Ngô Mạnh Thu, Lê Ðình Ðiểu, Phạm Phú Minh, Mục sư Nguyễn Quang Minh, Ðỗ Ngọc Yến, Ðinh Quang Anh Thái, Hoàng Trọng Thụy... lên mời mọi người hát với mình những Nhà Việt Nam của Thẩm Oánh, Việt Nam Việt Nam của Võ Ðức Thu rồi Phạm Duy, Việt Nam Minh Châu của Hùng Lân, Trên Sông Bạch Ðằng và Bóng Cờ Lau của Hoàng Quý, Hội Nghị Diên Hồng và Bạch Ðằng Giang của Lưu Hữu Phước, Truyền Kỳ Việt Sử của Lê Thương... Những âm điệu xưa làm người lớn tuổi sống lại thời trẻ trung của mình và làm người trẻ tuổi ngạc nhiên không ngờ lịch sử của dân tộc mình có nhiều trang hùng tráng đến thế, và người đời sau biết ngợi ca tiền nhân một cách phong phú và trữ tình đến thế...
Âm hưởng của buổi hát Hùng Sử Ca chắc chắn theo mọi người ra về và còn "vang động trong lòng" lâu dài, vì các bài hát ấy đã đánh động một tình cảm có lẽ là thiết tha nhất trong tâm khảm mỗi người, là lòng yêu mến đất nước và dân tộc. Lòng yêu mến ấy có thể bị che mờ hay méo mó đi vì những phức tạp của cuộc sống, nhưng nghệ thuật, và ở đây là nghệ thuật âm nhạc, có khả năng làm nó sống dậy với tất cả sự chân thành và trong trắng. Giống như tiếng mẹ ru khi ta còn thơ, Hùng Sử Ca đưa ta về một cỗi nguồn tưởng là rất xa xôi, nhưng thật ra rất gần: ấy là cõi lòng của chính chúng ta...
SEATTLE, WASHINGTON - Nhà văn Owen Butler ra mắt sách
Tác giả tập truyện tiếng Anh viết về người Việt có tựa đề "Hương Thơm Từ Núi Lạ," Owen Butler, tái ngộ độc giả vùng Tây Bắc trong buổi ra mắt cuốn sách mới của ông, nhan đề "Tabloid Dreams," hôm mùng 7 tháng Mười Một, tại Thư viện Trung Ương Seattle.
Tuyển tập này gồm 12 truyện ngắn, có văn phong hài hước, cốt truyện dựa theo những biến cố thời sự rất đại chúng (như cái tựa cho thấy: tabloid là tiếng chỉ loại báo bình dân của Mỹ), chẳng hạn "Người chồng ghen tuông trở lại trần thế dưới hình dáng của một con vẹt," "JFK âm thầm đi dự buổi bán đấu giá của Jackie," hay "Người đàn bà dùng đôi mắt thủy tinh để dò xét ông chồng lang chạ"...
Dịch giả Thiên Nhất Phương, người đã dịch cuốn sách đoạt giải Pulitzer Văn chương của Butler ("Hương Thơm Từ Núi Lạ") cho biết có thể ông sẽ dịch cuốn sách mới này của Butler.
QUẬN CAM - Tuần lễ phim Việt Nam
Khoảng 300 khách đã đến dự buổi chiếu khai mạc "Tuần Lễ Phim Việt Nam Hải Ngoại" tổ chức trong khuôn khổ Ngày Ðiện Ảnh Việt Nam lần thứ 10, tại rạp Thủ Ðô, tối 25 tháng Mười.
Cuốn phim được chiếu trong đêm khai mạc là phim "Ðất Khổ," thực hiện năm 1972 ở trong nước, với màn ảnh rộng, có phụ đề Anh và Pháp ng Phim do Hà Thúc Cần thực hiện nhưng chưa bao giờ được chiếu cho công chúng vì tính cách phản chiến của nó.
Trong đêm khai mạc, người ta nhận thấy có các người làm phim trước 1975 ở trong nước và sau 1975 ở hải ngoại, như: Bùi Sơn Duân, Phạm Hàong Kim, Phan Ngọc Tiếu, Văn Giai, Ngọc Phu, Calvin Nguyễn (Chủ tịch Hội Ðiện Ảnh VNHN), Nguyễn Minh Hằng, Mai Phương, Ðỗ Phúc Lộc, Ðặng Hùng Sơn, Lan Ngọc, Tuấn Trần, Ngọc Tùng,...
Ngoài phim "Ðát Khổ," tuần lễ phim Việt Nam kéo dài đến đầu tháng Mười Một còn chiếu các phim như "Tuổi Trẻ Thiếu Tình Thương," "Mùi Ðu Ðủ Xanh," "Bụi Bolsa," "Thời Hùng Vương 18," v.v... (Theo Lê Thụy)
(Trích TK 21 số tháng 12/1996)
GIỚI THIỆU SÁCH MỚI
NGUYỄN DU, ÐẠI THI HÀO DÂN TỘC - Triết Lý Việt Nam Về Chữ "Lòng" Và Chữ "Tơ", Phạm Công Thiện. Viện Triết Lý Việt Nam Và Triết Học Thế Giới xuất bản. Giá 18MK. Văn Nghệ tổng phát hành.
Ba mươi năm trước, Phạm Công Thiện cho rằng Nguyễn Du là một trong 5 (năm) thi hào vĩ đại nhất của phương Ðông. Bây giờ, sau một thời gian dài chiêm nghiệm, ông tái khẳng định, quyết liệt hơn: Nguyễn Du là một trong 3 (ba) thi hào vĩ đại nhất, không phải chỉ của phương Ðông, mà là của nhân loại (hai người kia là Hoelderlin và Walt Whitman).
Ðể chứng minh, Phạm Công Thiện đã viết Nguyễn Du, Ðại Thi Hào Dân Tộc. Tác phẩm được hoàn tất trong một thời gian kỷ lục: 45 ngày, dày trên 300 trang, chia làm hai phần, gồm 12 chương, mỗi chương có mhiều tiểu mục.
Quảng bác, đầy chất thơ cùng những khám phá kỳ thú về thi học, mỹ học, ngữ học, triết học... Phạm Công Thiện vẫn chứng tỏ là một ngòi bút sung mãn.
ÐẶC SAN QUẢNG ÐÀ, Số 1, tháng 9/1996. Thái Tú Hạp và Ái Cầm chủ trương. Bìa Khánh Trường. Giá 12MK. Liên lạc: Saigon Times.
Là một đặc san xuất bản không định kỳ, dày trên 400 trang, tập hợp những sáng tác thơ văn, biên khảo, lý luận của 37 tác giả gốc Quảng Nam, hoặc ít nhiều liên hệ đến vùng đất này.
Vài năm nay nhà thơ Thái Tú Hạp và Ái Cầm đã theo đuổi một công việc có tính cách... công quả: cho ra đời và nuôi dưỡng tờ đặc san Quảng Ðà, nhằm mục đích giới thiệu, xiển dương những thành quả trong các lĩnh vực, nhất là lĩnh vực văn chương, của những nhân tài đã sinh ra và lớn khôn từ vùng đất vẫn được mệnh danh "địa linh nhân kiệt" này. Ðối với người dân xứ Quảng, việc làm của Thái Tú Hạp-Ái Cầm, cách nào đó, là sợi dây liên lạc mật thiết nối kết tình đồng hương. Ðối với văn học nghệ thuật VN, những sáng tác văn chương mang đậm dấu ấn dãi đất nối liền hai đầu Nam Bắc của địa hình đất nước có những nét đặc thù tiêu biểu, xứng đáng được bảo tồn và quảng bá sâu rộng.
Rất mong việc làm của Thái Tú Hạp, Ái Cầm được đông đảo bạn đọc VN, nói chung, "người Quảng mình", nói riêng, tích cực hỗ trợ, để tờ đặc san có thể tiếp tục ra đời, không phải bất định kỳ, mà sẽ trở thành một tập san xuất bản định kỳ, hàng quí.
MINH TRIẾT TRONG ÐỜI SỐNG, Darshani Deane, Nguyên Phong dịch, bìa Khánh Trường, Văn Nghệ tái bản lần thứ ba 1996. Giá 12MK.
Darshani Deane là một diễn giả nổi tiếng, đã giúp đỡ nhiều người trên phương diện tâm linh. Cuộc diễn thuyết nào của bà cũng thu hút rất đông quần chúng, sau buổi nói chuyện bà thường dùng thời giờ tiếp xúc với thính giả để thảo luận thêm về những đề tài liên quan đến đời sống cá nhân của hỗ Chi tiết cuộc tiếp xúc được ghi nhận và in thành sách dưới tựa đề "Wisdom Bliss, and Common Sense" (tạm dịch: Minh Triết Trong Ðời Sống). Cuốn sách này đã giúp nhiều người tìm được sự thoải mái trong đời sống tinh thần và là một trong những cuốn sách tâm linh bán chạy nhất.
Ấn bản lần thứ ba của nhà Văn Nghệ hoàn toàn đổi mới về hình thức. Bìa được vẽ và trình bày lại, tất nhiên. Nội dung bản văn cũng được đánh máy rõ và sáng hơn.
KIẾN VÀ NGƯỜI, tập truyện Trần Duy Phiên, bìa Khánh Trường, Tân Thư xuất bản. Giá 12MK.
Tác giả hiện ở trong nước.
Tác phẩm gồm 20 truyện ngắn, mỗi truyện là một vấn đề, liên quan đến đời sống con người, được viết với một văn văn phong giản dị nhưng sâu sắc và lôi cuốn.
Trần Duy Phiên không xem văn chương là trò vọc câu giỡn chơi. Với ông, từ những thập niên 60, 70 tại miền Nam, rồi đến những thập niên 80, 90 trên toàn cõi Việt Nam, mỗi giòng viết lên giấy, mỗi tác phẩm đưa vào cuộc đời, đều phải mang chức năng tố cáo. Văn chương, với Trần Duy Phiên, từ bao giờ đến bây giờ vẫn là tên nhọn, đạn lớn, tiến công không khoan nhượng vào các mặt tiêu cực của con người và xã hội, bất kể xã hội ấy mang nhãn hiệu, tên gọi gì. Chính vì thế, trước kia, ông bị xem là người "thiên tả", nhưng ngày nay ông lại là cái gai của chế độ hiện hành.
Tác phẩm Kiến Và Người được gửi ra từ trong nước, được đông đảo các nhà văn tại hải ngoại đánmh giá là một tác phẩm xuất sắc. Có thể nói toàn bộ 20 truyện ngắn trong tuyển tập này, không có truyện nào dưới trung bình.
VÕ PHIẾN, biên khảo của Nguyễn Hưng Quốc. Bìa Khánh Trường, phụ bản chân dung Võ Phiến qua ký họa của Bé Ký, Nguyễn Nhật Tân, Phạm Tăng, Chóe và hình chụp của Nguyễn Hữu Nghĩa. Văn Nghệ xuất bản. Giá 12MK.
Tuy Nguyễn Hưng Quốc khiêm tốn bảo rằng cuốn sách này chỉ là phác thảo diện mạo văn chương của Võ Phiến, và chỉ là phác thảo mà thôi, nhưng đọc trên 200 trang "phác thảo" ấy, chúng ta không thể không nhận rằng cuốn sach này được viết một cách rất cẩn trọng và công phu.
Ngoài phần Dẫn nhập và Vài ghi chú về tiểu sử, sách chia làm 7 chương theo thứ tự sau:
Chương 1: Một Phong cách.
Chương 2: Nhà lý luận văn học.
Chương 3: Nhà phê bình văn học.
Chương 4: Nhà tạp luận.
Chương 5: Nhà tùy bút.
Chương 6: Người viết truyện.
Chương 7: Một niềm trăn trở không nguôi.
Cuối cùng là phần phụ lục: Niên biểu Võ Phiến. Tác phẩm của Võ Phiến. Tài liệu tham khảo của Võ Phiến.
MÙA XUÂN VÀ NHỮNG CON DÃ TRÀNG, tập truyện Phan Thị Trọng Tuyến, bìa Ðinh Cường, An Tiêm xuất bản. Giá 12MK. Văn Nghệ phát hành.
Phan Thị Trọng Tuyến là một trong vài ba tác giả phái nữ đã thành danh trên một thập niên vừa qua, tại hải ngoại. Như hầu hết những tác phẩm khác đã xuất bản, truyện của bà bao giờ cũng đôn hậu, nhẹ nhàng trong cấu trúc; vi tế, nhạy bén trong cảm xúc. Bà không bao giờ đưa vào văn chương những "vấn đề lớn", mà chỉ nhìn ngắm, khai thác những mảnh "đời thường", nhưng qua đó, độc giả thấy được những băn khoăn, trăn trở của một trái tim mãi mãi hoài nhớ không nguôi một khoảng trời quê hương, một tiếng chim vườn cũ, một vạt nắng cuối ngày, một đời trăng mới lớn...
Có thể hình dung văn chương Phan Thị Trọng Tuyến là thảm cỏ mượt. Ở đó ta có thể yên tâm ngã lưng ngửa mặt nhìn lên cao, nhìn qua tàng lá rậm, và bắt gặp những miếng trời rất xanh, trong vắt.
(Trích Hợp Lưu số 32 tháng 12/1996)
Hãy Ngủ Yên Mặt Trời
Bé níu cánh tay mẹ hỏi:
- Mẹ ơi, tại sao lại có ban đêm và ban ngày? Tại sao banngày thì sáng, ban đêm lại tốỉ
Mẹ mỉm cười âu yếm trả lời bé:
- Ồ, mặt trời chiếu sáng ban ngàỵ Nhưng mặt trờicũng cần ngủ ban đêm nên ban đêm thì tối và ban ngày lại sáng. Có ban đêm và ban ngày để chúng ta và mặt trời có thể ngủ nghỉ.
Bé ngây ngô tiếp:
- Mẹ ơi, thế khi mặt trời đi ngủ chúng ta đừng đánh thức ông ta, để ông ta ngủ say thì chúng ta cũng ngủ được lâu hơn phải không mẹ?
Mẹ cười nhẹ bảo:
- Ừa, đúng đó con.
oOo
Bé giờ đã lớn khôn đủ để hiểu rằng câu chuyện với Mẹ về giấc ngủ của mặt trời chỉ là một trò đùa trẻ con. Tuy vậy, câu chuyện đó vẫn tồn tại mãi trong trí nhớ của bé vì đó là kỷ niệm còn sót lại của Mẹ. Chỉ một năm sau lần trò chuyện về giấc ngủ mặt trời đó, mẹ bé đã mất vì bịnh laọ Lúc đó bé mới năm tuổị Những lần bé nhắc lại cho bố về mặt trời, chim chóc, với những ý nghĩa thật trẻ con mà Mẹ đã giảng giải, thì bố đều cắt ngang: "Con chỉ biết chuyện nhảm." Thế là bé đã nín lặng và thế giới của bé dần dần đóng kín, chỉ còn hình ảnh của Mẹ và bé. Mỗi buổi sáng, khi thức dậy, bé đều nói nhỏ: "Chào mặt trời của Mẹ" và khi bé đi ngủ, bé đều nói: "Hãy ngủ yên nhé, mặt trời của Mẹ." Thói quen này bé vẫn không bỏ khi đã lớn. Bé nâng niu trân trọng từng kỷ niệm đã có với Mẹ và xem đó là những giờ phút thiêng liêng nhất đời mình. Chính vì vậy mà hình ảnh mặt trời với giấc ngủ trẻ thơ luôn ở trong lòng bé.
Vì mất Mẹ và vì bố của bé đã không chịu tìm hiểu, tận tình săn sóc con mình, từ một đứa trẻ liếng thoắng, bé đã trở nên lầm lì ít nóị Dường như không ai có thể hiểu được bé, trừ Mẹ. Bé thường im lặng một mình tưởng tượng đến những câu trả lời mà Mẹ có thể nói với bé nếu Mẹ còn sống. Bé cô lập mình bằng hình bóng tình thương của Mẹ. Ðối với bé, Mẹ là một thiên thần thật sự từ thế giới cao vợi hơn hẳn thế giới loài ngườị Mẹ đã đến chăm sóc bé và kể cho bé nghe hằng muôn ngàn chuyện cổ tích. Mỗi lần đọc truyện, làm bài hay một mình chơi với đồ chơi, bé luôn như trò chuyện với Mẹ. Trong ánh mắt của mọi người, bé cô độc lắm và không ai hiểu được bé cả vì khó mà trò chuyện được với bé quá ba câu. Song trong lòng bé, bé tự hào nghĩ rằng bé luôn được bảo bọc trong tình yêu của Mẹ, cả bố cũng không biết rằng Mẹ yêu bé đến thế!
oOo
Bác sĩ Trung ngồi nhìn cô gái Việt mới được đưa vào điều trị trong khu trị liệu những bệnh nhân bị chứng mẫn cảm (depression). Hồ sơ bệnh lý cho biết cô gái mới mười tám tuổi, là một học sinh giỏi của trường trung học Monzanọ Cha mẹ cô gái đã kể rằng gần đây, cô rất khác thường, hay nói năng lảm nhảm những điều trong thiên văn học, và gần như không chú ý đến việc ăn uống ngủ nghỉ. Họ đưa cô vào đây vì khám phá ra cô có ý định tự sát. Họ than phiền rằng từ nhỏ, cô vốn không để ý và không chịu trò chuyện với những người khác ngoài việc ôm mấy cuốn sách vở và các mớ đồ chơi đã cũ kỷ. Cô đã từng trốn học đi ra khu nghĩa địa mà theo như cô nói với họ là để tế hương hồn của mẹ cô. Họ đã mặc kệ cho cô muốn làm gì thì làm.
Cô đang ngồi trên một băng ghế, mắt đăm đăm hướng về bức tường đối diện, như thể quên hết mọi thực thể tồn tại chung quanh cô. Gương mặt cô tiềm ẩn một nét buồn man mác. Cô chỉ mặc một chiếc áo thun và quần jean, rất đơn giản, lộ rõ phong cách học trò, khác hẳn với cách ăn mặc sang trọng của cha mẹ cô. Trông cô nhỏ nhắn rụt rè và lạc lõng trong thế giới ở đâỵ Một y tá lại gợi chuyện cùng cô bằng tiếng Anh:
- Why are you staring at the wall like that? Are you talking to somebody?
Cô im lặng phớt lờ câu hỏi của cô y tá và vẫn ngồi bất động. Một vài bệnh nhân đi ngang nhe răng cười thân mật với cô. Cô cũng im lặng.
Các y tá và các công tác viên xã hội lắc đầu nói với bác sĩ Trung:
- We tried, but she has never opened her mouth here. She eats, drinks and goes to sleep like a normal person, but she seems really lost.
Một y tá khác nhận xét:
- She looks like a lost bird in the paradise!
Bác sĩ Trung buồn bã gật đầu thừa nhận.
Trung là bác sĩ tâm lý học thực tập ở bệnh viện này đã được một năm. Hàng ngày, Trung phải tiếp xúc với không biết bao nhiêu bệnh nhân tâm thần bị chứng mẫn cảm. Họ đều có chung một đặc tính là rất buồn. Họ được đưa đến bệnh viện vì những thái độ khác thường sau những cơn sốc trong tình cảm, việc làm hay cuộc sống gia đình. Trung biết, các bác sĩ sau khi chẩn đoán từ các triệu chứng, đều viết toa cho họ các loại thuốc có thể kềm chế sự bộc phát quá mức của những tính cách bệnh lý và đề nghị họ tái khám theo định kỳ. Nhưng lần này, Trung quyết định phải làm theo ngoại lệ, có lẻ vì cô gái Việt kia vốn cùng nguồn gốc với anh. Anh tỏ ra chú ý đến yếu tố cô gái đi ra nghĩa địa để tìm hương hồn của Mẹ cô trong khi Mẹ cô đã mất từ lúc cô mới được năm tuổị Anh tìm phonẹ Anh gọi và nói chuyện rất lâu cùng gia đình của cô bệnh nhân đồng hương bé nhỏ.
oOo
Lilian, cô bệnh nhân người Việt đến ngồi trước mặt Trung. Cô đã bắt đầu nói chuyện sau các liều thuốc tiêm.
Tuy vậy, ánh mắt cô vẫn xa vắng mênh mông. Trung bắt đầu hỏi chuyện cô bằng ngôn ngữ mẹ đẻ của mình:
- Em buồn lắm vì nhớ Mẹ em có phải không?
Cô gật đầu. Trung đã quyết định mổ xẻ vết thương lòng của cô gái cho tiệt dứt căn bệnh:
- Em có thể cho tôi biết về Mẹ của em không?
Cô gái đưa mắt nhìn anh và nói một cách châm rãi:
- Mẹ là mặt trời, Mẹ ở khắp nơi.
Anh tiếp:
- Có phải em thường hay trò chuyện với Mẹ em không? Ngay cả những khi em học hành và ngủ nghỉ, phải không?
Cô giật bắn người như ai đó vừa chạm vào thế giới thiêng liêng của đời cô:
- Sao ông biết?
- Mẹ ruột của em đã chết lâu rồi, khi mà em vừa năm tuổi. Làm sao mẹ có thể nói chuyện với em được? Chỉ là em tự tưởng tượng ra thôi, em có hiểu không? Không có một bàn tay vô hình nào theo em cả.
Cô bé ngồi im lặng can đảm lắng nghe sự thực đau đớn mà Trung lột tả. Trung hỏi tiếp:
- Em tự tử cũng là vì em nghĩ rằng em sẽ gặp được mẹ em, có phải không?
Lilian im lặng gật đầụ Trung quyết định đi xa hơn vì anh không muốn sau khi rời viện Lilian lại có ý định dại dột. Anh nói một cách trầm tĩnh như một ông anh nói chuyện với một đứa em:
- Em có biết là làm như vậy là điên khùng lắm không? Em chẳng có thể gặp được mẹ em. Em phải biết là mình đang sống. Mẹ em, nếu vẫn còn đâu đây, sẽ đau buồn thế nào khi biết em có ý định dại dột dường ấy. Em phải biết đến trách nhiệm của một con người...
Nước mắt đổ dài trên gương mặt Lilian. Cô vội đẩy ghế bỏ đi về phòng mình sau khi nói trong nước mắt:
- Xin lỗi ông...
oOo
Sau hai tuần nằm viện, Lilian được đón về nhà. Bác sĩ Trung đã dùng phương pháp tâm lý trị liệu hơn là dùng thuốc men để giúp Lilian hồi phục lạị Anh là người duy nhất đã hiểu rõ vai trò của mẹ ruột Lilian đối với cô. Anh đã giúp gia đình Lilian hiểu được điều đó và anh cố gắng giúp cô hiểu được thực tại của thế giới vật chất. Cô bé đã chấp nhận sự thật đau buồn rằng chính mình là người có bệnh và cần phải đổi thay và rằng mẹ mình thực sự không phải luôn luôn ở với mình mọi nơi mọi lúc.
oOo
Hôm nay là ngày giỗ mẹ Lilian. Gia đình cô tổ chức một buổi giỗ long trọng để Lilian được vuị Bố cô và mẹ kế đã nhận ra rằng cần phải làm cho cô sống vui vẻ thì bệnh của cô mới không tái phát. Lilian cũng góp mặt cùng gia đình. Song chiều đến, cô trở về phòng mình, trở lại với thế giới quen thuộc của Mẹ và Lilian bé bỏng ngày xưạ Ngắm nhìn ánh hoàng hôn đỏ rực dần tắt ở cuối chân trời, cô nói nhỏ trong tĩnh mịch, như với Mẹ và với chính mình:
- Mặt trời, xin Người hãy ngủ yên vì Mẹ đã ngủ yên. Xin Người đừng đánh thức Mẹ dậy vì nếu Mẹ biết được Lilian của Mẹ đã mang bệnh vì nhớ Mẹ, Mẹ sẽ đau lòng lắm. Thật ra, ánh mặt trời thật sự của Lilian đã tắt vì bịnh tật... Mẹ ơi. Xin mặt trời trong một ngày mới đừng đánh thức cơn bệnh của con...
Lilian tắt đèn, tìm chăn đắp. Cô thiếp dần vào giấc ngủ. Trên đôi mắt nhắm nghiền của khuôn mặt nhỏ xinh, hai dòng nước lệ chảy dài...
BCCB
(Lư Ngọc Dung)
Tình Ðời
(phóng tác từ truyện của Thụy Linh)
Người ta thường nhìn thấy họ âu yếm bên nhau trên đồi cỏ thơ mộng của khuôn viên đại học vào những buổi trưa hè. Họ lúc nào cũng dính chặt như sam, nửa bước không rời. Người ta kháo với nhau rằng họ là một cặp tình nhân Việt Nam đẹp nhất trong trường. Trai tài, gái sắc là họ. Giữa một xã hội Mỹ, những mối tình chợt đến chợt đi như thoáng mây, người ta thay đổi tình nhân như thay áo vậy, nhưng họ thì vẫn bền chặt, keo sơn gắn bó. Họ còn tính đến chuyện lâu dài, ăn đời ở kiếp. Hãy lắng nghe họ nghĩ gì về nhau?
Yêu nhau quả ấu cũng tròn...
Nàng: Ôi, chàng là một người đàn ông lý tưởng của bất cứ cô gái nào; chàng đẹp trai lại còn học giỏi. Có nhiều cô bạn của mình đã ghen tức với mình. Nhưng thật ra đẹp trai và học giỏi đối với mình chỉ là yếu tố phụ. Mình yêu chàng ở con người nghệ sĩ của chàng. Chàng chơi đàn rất hay. Lần đầu tiên gặp chàng trong buổi văn nghệ của hội sinh viên, nhìn chàng trên sân khấu với những ngón tay phù thủy khẩy trên những sợi dây đàn trong một tấu khúc nhạc cổ điển, mình đã bị mê hoặc. Tối hôm đó chàng đã trình diễn độc tấu Tây Ban Cầm đến mức tuyệt kỷ. Mình đã yêu chàng từ ngay giây phút đó. Thoáng đó mà đã 4 năm trời. Bốn năm trời mình sống trong hạnh phúc tràn trề, mình được nghe những tiếng đàn thánh thót, được chàng đàn cho mình hát. Tuy nhiên, chỉ có một khuyết điểm duy nhất nơi chàng là chàng còn mê nhậu nhẹt chè chén với bạn bè; đôi khi mình cũng buồn là vì khi bia rượu vào là chàng ít còn để ý đến mình. Bạn bè mình bảo đây là chuyện nhỏ; đàn ông ai cũng vậy, nhưng họ sẽ thay đổi một khi yên bề gia thất.
Chàng: Nàng là một cô gái thông minh và có nhan sắc. Ði chơi với nàng, tôi rất hãnh diện với những bộ đồ luôn thay đổi trên người nàng, những bộ đồ đắt tiền và hợp thời trang. Khuyết điểm nhỏ nơi nàng là nàng không giỏi bếp núc cho mấy và hay nhỏng nhẽo, nhưng nhằm nhè gì ba cái lẻ tẻ. Nàng ăn nói dịu dàng dễ thương và lại hát rất hay, giọng nàng rất hợp với tiếng đàn của mình. So sánh với các cô gái khác trong trường, nàng vượt xa ở hầu hết mọi tiêu chuẩn. Mình còn chờ đợi gì nữa?
Một năm sau ngày cưới...
Cả hai đầu tắt mặt tối, phải tranh thủ "cày" hai, ba "jobs" để trả nợ áo cơm, và điển hình nhất là trả nợ cho căn nhà - mái ấm gia đình mà họ đã vay nợ của nhà băng để mua. Chàng chẳng còn thời giờ để mà dẫn nàng đi chơi, thậm chí chủ nhật chàng cũng phải làm thêm giờ phụ trội. Còn nàng thì cũng bơ phờ không kém, đi làm cả tuần lễ mà cuối tuần có được thảnh thơi phút nào vì phải mang đồ đi giặt, đi sấy, phải lo dọn dẹp nhà cửa. Nhớ lại những ngày xưa thân ái, khi chàng và nàng cuối tuần đi chơi đó đây hay ở nhà đàn hát cho nhau nghe, mà nàng không khỏi ngậm ngùi. Mới chỉ có một năm mà sao dài quá.
Còn cây đàn thì bị bỏ rơi trong nhà đậu xe. Từ lâu, từ khi bị cuốn xoáy vào đời sống máy móc này, chàng đã quên là mình từng có một thời cầm đàn. Còn nàng thì... nàng quá bận bịu, không có thời giờ phủi bụi cho nó.
Năm năm sau...
Nàng: Ngày nào cũng như ngày nào, việc nhà mình gánh vác tất cả. Ði làm về là lăn vào bếp, rồi còn phải giặt khăn thay tả cho con. Anh ấy chả giúp gì được, rảnh rổi thì nằm phè cánh nhạn đọc sách hay ngủ khò, cuối tuần thì ôm cái ti-vi xem "football". Nhưng bực hơn hết là thỉnh thoảng anh ấy lại đi nhậu về, người nồng nặc mùi rượu, mình tra hỏi thì anh ấy nói đàn bà nhiều chuyện. Mỗi lần như thế là anh ấy lại gây sự với vợ, với con. Mình thấy chuyện lấy anh ấy làm chồng là một lỗi lầm lớn trong đời.
Chàng: Cô ấy không phải là người vợ mà tôi mong đợi. Cô ta không biết chi tiêu dè xẻn, tôi đi "cày" oằn vai, tiền mang về một tháng có 3 ngàn đô mà "nó" dám mua từng món nữ trang đáng giá bạc nghìn. Vợ con nghĩ đến mà chán. Cơm nước chỉ có duy nhất một món thịt kho trứng, năm này qua tháng nỗ Tôi phàn nàn thì nó đốp chát lại ngay: "Có giỏi thì nấu đi!" Trời! Cái tính dịu dàng dễ thương của cô ta còn đâu? Chán quá, biết thế cóc thèm lấy vợ cho xong. Chán đời, mình lân la qua nhà mấy thằng bạn độc thân để tìm hơi men giải sầu.
Cô bé vô tội....
Cô bé là kết quả của tình yêu của họ. Ðáng lý ra cô phải được sống và hưởng những ngày tháng êm đềm, hồn nhiên của trẻ thơ. Nhưng không! Cô đã lớn khôn trước tuổi. Cô đã biết chạy trốn vào góc nhà mỗi khi bố mẹ lớn tiếng gây lộn, đập phá đồ đạc trong nhấ Hai người lớn tha hồ dùng những tiếng thô tục, lỗ mãng để gọi cho nhau. Họ đâu cần biết có một cô gái bé nhỏ đang co ro trong góc nhà xe. Bố mẹ cãi lộn, không thiết gì đến cô bé, cô chỉ còn biết tâm sự với cây đàn. Trái tim bé bỏng của cô bé đang bị người lớn bóp nghiền.
Rồi cho đến một hôm, cô bé thức dậy và hay tin rằng bố mẹ cô không còn sống chung với nhau nữa. Cô lại chạy xuống dưới nhà xe, ôm cây đàn và nức nở khóc. Cô đã dẫy nẫy vùng lên khi mẹ bắt cô cuốn gói hành trang về ở với bà ngoại.
Rồi chiều nào cô bé cũng ra ngồi trước bậc tam cấp nhà bà ngoại trông chờ mẹ đến thăm, những lần viếng thăm vội vã, ngày càng thưa dần. Mấy dì to nhỏ với nhau rằng dạo này mẹ đã có tình nhân mới, có lẽ mẹ đang bận bịu vun xới tình yêu mới và đã quên mất con gái rồi. Còn về phần bố của cô bé, từ lâu bé quên mất mình cũng có một người cha. Cha của bé ít ghé lại nhà bà ngoại để viếng con gái, ông than rằng ông rất bận bịu công việc ở hãng. Ông bận quá đến nỗi quên gửi tiền cấp dưỡng nuôi bé.
Ngày tháng trôi nhanh. Cô bé lớn dần. Người ta khen cô bé ngoan và khôn lớn trước tuổi. Các dì thì bảo với nhau rằng con bé này bất bình thường vì họ thấy bé tối ngày độc thoại một mình. Cho đến một hôm bà ngoại sửng sốt khi nghe cô bé tâm sự với búp-bê:
- Bé biết không? Chị có bố mẹ nế Bố mẹ thương chị lắm. Bố tắm cho chị nè, thơm chị nế Mẹ mua cho chị áo mới nè, quà bánh cho chị nế Cuối tuần nào bố mẹ cũng chở chị ra McDonald chơi cầu tuột nế..
Càng lớn cô bé càng ít nói. Các thầy cô ở trường gọi về cho biết cô bé xao lãng việc học. Hàng tháng học bạ gửi về nhà, môn nào cô bé cũng bị điểm F. Một hôm dì ba được gọi vào trường lãnh bé về, cô giáo cho hay bé trốn học, theo đám trẻ con Mỹ đi hút cần sa. Tối hôm đó cả nhà xúm lại chửi cô bé:
- Thân phận không cha không mẹ như mày không lo học hành, cớ sao đua đòi với bọn trẻ con mất dạy Mỹ, làm xấu hổ bà ngoại và các dì. Lần sau trốn học thì đừng có hòng mà vác mặt về nhà này.
Năm 15 tuổi bé bỏ đi bụi đời, theo băng đảng Việt Nam. Trong một chuyến "làm ăn" ở nhà hàng Việt Nam trong vùng, bé và đồng bọn bị cảnh sát bắt và giam giữ ở trong "Juvenille Hall", chờ ngày ra tòa xét xử, vì trong lần làm ăn này chủ nhân phản kháng có nổ súng và có án mạng. Vì bé dưới tuổi vị thành niên nên phải bị giam thêm 3 năm nữa mới đủ tuổi ra hầu tòa. Bà ngoại vào nhà giam thăm bé, nước mắt bà lưng tròng khi nhìn thấy cháu bà xác xơ. Bà khóc:
- Khổ thân cháu tôi, tại sao ra nông nổi này? Ðể bà đi tìm mẹ cháu, lôi cổ nó vào đây cho nó sáng mắt ra.
Bé lạnh lùng lắc đầu:
- Thôi, bà ạ. Từ lâu họ đã quên cháu rồi.
Tâm sự của cây đàn...
Sau khi ly dị, nhà cửa, đồ đạc, tài sản trong nhà được chia đôi. Chỉ có mình tôi, cây đàn bị bỏ quên, đã từng chứng kiến một tình yêu đẹp của đôi trai tài gái sắc, từng nghe những lời tâm tình nồng thắm, nay bị bỏ rơi trong căn nhà chứa xe. Cô bé đã nằng nặc đòi bà ngoại mang tôi về. Thật ra, từ lâu cô bé đã trở thành người bạn thân của tôi từ khi cô lên 2. Dạo đó cô thường rờ rẫm lên trên dây đàn, những âm điệu trầm bỗng vang lên đã làm cô thích thú cười nắc nẻ. Năm cô lên 5, khi bố mẹ cãi vả, cô thường chạy trốn dưới nhà xe và ôm tôi mà khóc. Trông cô thật cô đơn và đáng thương vô cùng.
Bùi Thanh Liêm
Tháng 1, 1997