vhnt, số 266
28 January 1997
Trong số này:
Thư vhnt..................................................................BBT
T h ơ :
1 - Em Ðà Nẵng ..........................................Trần Thái Vân
2 - Thất Lạc Tương Lai ..........................................Cao Văn
3 - Trao Thân/Yêu Em Như Một Giòng Sông ..............Từ Ðông Nghị
4 - Vừa Lớn ......................................... ..Từ Kế Tường
5 - Khúc Ca Ru .....................................................Trúc Lê
6 - Vực Thẳm Ðầu Non .......................................Vân Hoành
7 - Bài Thơ Rướm Máu ..........................Nguyễn Phước Nguyên
D i ễ n Ð à n V ă n H ọ c :
8 - Gối Ðầu Lên Chữ Nghĩa ........................Hoàng Khởi Phong
Ð i ể m P h i m / Ð i ể m S á c h
9 - STARS WAR: Mặt Tối Của Bộ Phim Hay ...........Nguyễn Tiến Dũng
T r u y ện N g ắn / S án g T ác :
10 - Nàng ...................................................Bùi Thanh Liêm
Sách một dãy nằm trơ trên giá
Cạnh người thân thế cũng trơ trơ
Sách, người hai cõi cùng hư hoại
Nơi một ngàn chương thiếu một tờ
- Mai Thảo -
Bạn thân mến,
Nơi một ngàn chương thiếu một tờ ...
Mai Thảo là một khuôn mặt lớn trong văn học miền Nam Việt Nam. Cùng với một vài người khác, ông sáng lập nhóm Sáng Tạo, nhóm sáng tác văn học mà dấu ấn trên nền văn học phong phú miền Nam vẫn còn đậm nét cho đến mãi hôm nay.
Những bạn đọc thường xuyên theo dõi văn học hải ngoại hẵn đã biết rằng tình trạng sức khỏe của Mai Thảo hiện nay rất xấu, và ông đã không còn đủ sức để chăm sóc tạp chí Văn từ nhiều tháng qua. Hiện nay, Văn được lèo lái bởi nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng, và như Mai Thảo đã tiên đoán, tạp chí này không bao lâu sẽ mang cá tình của người chủ bút mới. Ðiều mà Mai Thảo đã khẳng định, "Văn và Mai Thảo là hai thực thể không thể tách rời" đã không còn đúng nữa, ít nhất là từ nay về sau. Bạn có thể thích hay không thích nhân vật của Mai Thảo. Họ hoặc là những chàng playboys hào hoa, chưa hề lo lắng về sinh kế, hoặc là những kiều nữ sẵn sàng lao đầu vào những cuộc phiêu lưu tình cảm nóng bỏng. Có người đã cho rằng nhân vật của Mai Thảo sống trong thế giới của riêng họ, rất xa với những điêu linh của đất nước. Nhưng hầu hết độc giả của Mai Thảo đều công nhận ngòi bút tài hoa và chữ nghĩa độc đáo của ông, điều đã đưa ông chiếm lĩnh một cõi rất riêng, rất... Mai Thảo trong một giai đoạn văn học của Việt Nam.
vhnt số này gởi đến bạn "Gối Ðầu Lên Chữ Nghĩa," một bài viết 2 kỳ của Hoàng Khởi Phong về khuôn mặt văn nghệ Mai Thảo. Ở phần cuối của bài [vhnt số 267], bạn sẽ có dịp thưởng thức một số bài thơ của Mai Thảo, trích từ tập "Ta Thấy Hình Ta Những Miếu Ðền," mà theo một số bạn bè của ông, là tác phẩm xuất sắc nhất của nhà văn tài hoa trong giai đoạn cuối cùng của sự nghiệp sáng tác.
Ngoài những mục thường lệ, số vhnt này còn là nơi giới thiệu những vần thơ tám chữ. Những Trần Thái Vân, Cao Văn, Từ Ðông Nghị, Vân Hoành, Nguyễn Phước Nguyên, Trúc Lê sẽ tâm sự với chúng ta về những điều rất gần gũi hay đã xa xôi. Những câu vần tám chữ này có cùng một mẫu
số chung: Tình Yêu. Thi sĩ vốn nòi đa tình, không phải vậy
sao?
Chúc bạn một ngày rất đa tình,
PN/vhnt
viết thay xử lý chủ biên Sung Nguyễn 1 kỳ
Em Ðà Nẵng
Ta yêu em từ thuở mới khai sinh
Thành phố nhỏ bốn mùa hoa nắng nở
Dòng sông Hàn nhấp nhô làn sóng thở
Tựa quả tim đời nối nhịp thiên thu
Ta yêu em những ngày đông mây mù
Trời tháng chạp mưa phùn và gió bấc
Có tiếng ai rao mặn mà rất thật
Sáng bánh mì chiều bánh nậm đơn sơ
Ta yêu em ngày xuân thắm dệt mơ
Núi Ngũ Hành, động Huyền Không đô hội
Khói nhang lên ngoằn ngoèo đường vô tội
Biển Thái Bình mờ ảo đậm màu xanh
Ta yêu em từng mùa hạ hiền lành
Ðường Quang Trung, hàng kiềng kiềng rợp bóng
Em trường Nữ đi qua hay làm dáng
Hơi thẹn thùng liếc vội đám con trai
Ta yêu em những đường phố không dài
Mà mằn mặn muối biển đông êm dịu
Ðây Nam ô chim chiều kêu riu ríu
Ðây Thanh Bình sặc sỡ cánh diều bay
Ta yêu em bằng những sự thơ ngây
Không toan tính, không làm sang, làm dáng
Rất thực lòng như đường không nhưạ tráng
Và vô tư như những cánh chim non
Quê hương, vâng, muôn đời mãi mãi còn
Dầu khi đói, khi no, khi quên lãng
Trong chúng ta đều có những ngày tháng
Những ân tình đến trọn kiếp không quên
Có những đêm nghe niềm nhớ không tên
Từ đâu đó vọng về lời thăm hỏi
Ta thấy buồn trên trăm ngàn đầu mối
Bỗng dưng lòng trĩu nặng khúc bi ai
Quê hương ta từ muôn thuở miệt mài
Ngay lúc Mẹ mới vào châu Ô, châu Lý
Cuộc đời buồn như bài dân ca thần bí
Âm hưởng Chàm còn lãng vãng ngàn năm
Quê hương ta là đời mẹ âm thầm
Ngày hai bữa tảo tần ngồi tráng bánh
Mái nhà dột nửa khuya trời trở lạnh
Mẹ bồng con cho đủ ấm qua đêm
Quê hương ta là lá đổ quanh thềm
Ba đứng quyét cho rộng đường trẻ chạy
Trời bão lụt mẹ cha lo ngay ngáy
Sợ nhà bay, sợ củi quế gạo châu
Quê hương ta là bài thơ đậm màu
Chị viết vội rồi đốt đi rất vội
Ta nhìn chị lòng hình như muốn hỏi
Chị nhìn ta như muốn nói, "thôi em..."
Quê hương ta có dấu đạn in thềm
Có bà mẹ qua đời vì pháo kích
Có đứa bé chưa chào đời đã chết
Trong bầu thai còn nặng nước từ ân
Quê hương ta có một sáng phù vân
Người từ tạ tìm tương lai ngoài biển
Có tiếng AK nỗ dòn... chết điếng
Tiếng mẹ hiền, tiếng trẻ dại kêu van
Ta đã nghe, đã đọc, viết trăm hàng
Về đất Quảng với danh xưng thừa thãi
Ngũ Phụng Tề Phi... hình như... mà chưa phải
Ðất dựng Thành Ðồng... nếu có cũng như không
Em trong ta còn lại một tấm lòng
Rất chân thực như người tình thứ nhất
Những chân dung không cần tô màu mực
Mà muôn đời ký ức vẫn không phai
Ta đã đi qua vạn dặm đường dài
Vẫn chưa gặp người tình em-Ðà-nẵng...
trần thái vân
Thất Lạc Tương Lai
Con tim thủy tinh bày ra trò chơi điện
Cô bán hàng mặc áo trắng cười duyên
Văn phòng tôi có một rừng thông ẩn dật
Bụi nhỏ bên ngoài mưa lồng lộng cô đơn
Thành phố tận tâm trong linh hồn buổi sáng
Tôn giáo chẳng thà bước mỏi đôi chân
Tôi thở nhẹ nhàng niềm cô quạnh lớn
Ðưa em về ngõ hẻm bao dung
Gã da đen và tiếng kèn vong bản
Mặt trời đen chạm mặt lá cây
Em sung sướng bước vào bẫy sập
Từ đó suốt đời thất lạc tương lai
Giòng nước mắt xanh chảy về mùa đông cũ
Trăng rất tròn rớt nhẹ rất cô đơn
Dĩ vãng tương lai và những điều dính líu
Ðêm về sâu trong cô độc thật thà
Gió quì xuống hôn lên màu tóc rối
Mưa bên ngoài sang trọng lửa Giáng Sinh
Màu áo trổ hoa chung quanh đời đại thụ
Những ngón tay ngọc ngà mật thiết từng đêm
Giữ lấy đời nhau trong cực cùng lõa thể
Cây cảnh trong nhà tươm tất ngọn xanh
Mỗi ngày yêu em như điều lo sợ cũ
Ðôi mắt chân tình chăm sóc thời gian
Ðời sống tôi thịnh soạn một nỗi buồn tình ái
Em suốt đời chưng diện những mất mát kim cương
Ðau đớn như hàng hương sáng trưng trí thức
Còn chỗ nào triển lãm hết chiêm bao
Ðiếu Winston thở ra lời hăm dọa cũ
Những buổi chiều mùa đông choáng váng nắng mai sau
Hạnh phúc bày biện những hành tinh bất định
Nụ cười em tô đỏ không quen
Ðiếu Marlboro cháy ra điều gian dối
Khi tách trà em lỡ để qua đêm
Ðêm đầu thai những linh hồn buổi sáng
Ngoài kia chiều nắng khủng khiếp bao vây
Tôi đang sống trong thời khắc bất định
Thành phố hồi xuân và ân ái bình thường
Áo mệnh phụ so đo mùa thu trí thức
Nắng đổ một mình vô dụng hoa khôi
Trái ngọt miền nam tròn bàn tay trung kỳ ẩn dụ
Có chỗ đời sau ngó thấy chân dung
Giòng sông phu nhân chảy tới khôn cùng ngôn ngữ
Hạnh phúc mỗi ngày trầm trọng như mơ
Nụ hôn kết nghĩa trên làn da kỳ nữ
Em suốt đời tháp nến nghiêm trang
Áo mùa xuân phô trương màu hoa cũ
Và mặt trời phú quý trên thủy tinh
Những nhánh sông tử tế trên bàn tay em bé nhỏ
Vầng trán cao ngời che chở mấy đời sau
Có đời sau gửi về Massachusetts
Có đời sau gửi về California
Cao Văn
trao thân
muốn hiểu tôi, thì xin em nhắm mắt
để thấy đời không màu sắc, âm thanh
em không nhìn, nhưng vẫn thấy chung quanh
tôi đứng, vẽ mình-trong-tranh-đứng-vẽ
và em sẽ thấy mình như đứa trẻ
ngồi nhìn đời, cười nắc nẻ, trò vui
mà loài người chân dọ dẫm ngược xuôi
chơi bịt mắt, làm người đui tìm ánh sáng
khi mở mắt, em ơi, đừng ngao ngán
hãy biết mình mang ánh sáng trong tim
em hãy cười cho vỡ nát lặng im
và rộng mở vòng tay ôm cuộc sống
rồi những lúc cô đơn trong cuộc sống
hãy ngó xuống chân mình,
sẽ thấy bóng em -
Tôi
Yêu Em Như Một Giòng Sông
em có thấy niềm vui trong ánh mắt
của hai người vừa tìm bắt được nhau
mặc cho dẫu chỉ là trong khoảnh khắc
đã đủ rồi, cho cả một đời sau
em cút bắt với tình đầu đã lạ
trinh nguyên nào, em ạ, cũng tà huyt
tình chung thủy, nên tình gieo tai họa
mà hạnh phúc vẹn toàn là hạnh phúc trao đi
em son phấn để cùng đời đưa đãi
mỗi tiếng em cười, ta hớt hãi cơn đau
ta nguyện tình mình là nhánh sông sâu
em rửa mặt bằng từng dòng nước mát
và em ạ, những khi nào chợt khát
hãy uống ta vào, cho ngọt chát chua em
hãy soi bóng bên dòng ta phẳng ngát
điểm trang mình, cho nhân thế ngất ngây thêm
những ngày tháng tình em vào đoạn kết
nếu có lần em ghé bến sông ta
ở một lúc em muốn tìm cái chết
hãy trầm mình tự vẫn giữa đời ta
ngày trời đất reo vui, hoa đăng mở hội
sông ta vỗ sóng về dỗ giấc ngủ thuyền tim em
từ đông nghị
Vừa Lớn
Tóc mới rẽ trên đường ngôi thứ nhất
Thoáng như người bay một chút tình xa
Nghe ở đâu chim bướm tới bên nhà
Trên tay nở những hoàng hôn bối rối
Ðau nhỏ nhẹ trên mỗi tờ thư nối
Lòng thời gian quá rộng ở ngày đi
Mắt vừa cay những sợi khói phương phi
Nhưng chưa khóc vì còn trong hồ lệ
Trang nhật ký thơm những giòng kể lể
Trời rét lên xương máu cũng thèm đau
Buồn lạ lùng, vui chất ngất xôn xao
Trên những bước chân đi vờ ngoảnh lại
Tay nhẹ hẫng ném vèo qua tuổi dại
Bỗng ăn năn khi đứng trước gương đời
Chẳng là mây ngơ ngác tới trong trời
Không là gió thổi về theo nắng chín
Tuổi vừa lớn biết đâu mà bịn rịn
Tháng ngày bay cánh mỏng có ai ngờ
Nếu mà cho nhung nhớ lại từng tờ
Gỡ cho hết những vàng phai kỷ niệm
Mực đã chảy cạn một giòng suối tím
Áo học trò và lũ ghế bàn xưa
Mắt thân quen trên đỉnh lá mong chờ
Ngoài cửa lớp trời thu mây xuống thấp
Tuổi vừa lớn hồn đang nghe tấp nập
Nắng mùa xuân từng cọng biếc bay cao
Thoáng ai qua bóng lạ thả hôm nào
Con đường ấy tự nhiên mà thương nhớ
Lòng chùng lại để nghe mùi nhịp thở
Ðể bàng hoàng, mất mát một ngày vui
Biết gì không hương cốm đợi tay người
Cho hơi ấm và cho thầm mạch sống
Từ hôm ấy người ngoan như giấc mộng
Ðến bên tôi trong những lúc học bài
Mùa thi ơi nhè nhẹ ở trên vai
Ðừng rớt nặng mà lòng tôi rối chỉ
Hãy thong thả cho tôi còn chuẩn bị
Cứ bình yên rồi hãy đến ngập ngừng
Như nụ cười ai đã bọc da nhung
Ðem đến bỏ ngoài sân còn rộn rã
Tình yêu tới làm cây cao bóng cả
Làm nghìn trùng nối lại một đường dây
Chẻ những mùa hoa gạo xuống đôi tay
Xua mưa đến rồi đi cho nắng chín
Từ Kế Tường
Khúc Ca Ru
tặng Em yêu
Ngủ đi em giấc say nồng hạnh phúc
Ðã bao đêm, em thức trắng để mơ
Ngủ đi em - Em ngủ, anh làm thơ
Lời quyện ý thành lời ca ru em ngủ
Mơ ước, ước mơ vòng tay ôm đủ
Những dịu dàng khao khát trao anh
Bình thường thôi, em mong được bên nhau
Ðể nước mắt trôi chuổi ngày xa cách
Ðể không gian em thành hình trọn vẹn
Ðể nghe anh thì thầm mãi lời yêu
Ngủ đi em - nàng tiên trong cổ tích
Ðêm viễn mơ gặp hoàng tử mình yêu
Quì xuống hôn em -
Bình minh choàng tỉnh
Sưởi giấc mơ rộ hoa thắm cho tình
Ngủ đi em - Ngày mai là nắng ấm
Con phố chiều xưa hoà bóng đôi ta
Hồ biếc - thông xanh không còn đơn lẻ
Nụ hôn đầu có sóng lá lao xao.
TrúcLê
Vực Thẳm Ðầu Non
Ta đi tìm ánh nắng một ngày tàn
Ta đi tìm một nỗi chết siêu hoang
Ta chợt khóc thời gian đâu có thật
Cả cuộc đời chợt sáng lẽ chu hoàn
Ôi vay mượn cho ta tròn tuổi mộng
Cả cuộc đời dan díu một mình ta
Rồi trả lại những sầu đau tuyệt vọng
Khóc cười suông cho đẹp ánh trăng tà
Ta đi tìm ánh nắng một ngày tàn
Lệ trăng sầu vun vút nét sao băng
Ôi khoảnh khắc mà miên trường vạn đại
Ôi phù du ba vạn sáu thường hằng
Mây chợt đến chợt đi màu diễm tuyệt
Ðời chợt vui chợt khổ có gì đâu
Bơ vơ quá tim đau niềm siêu việt
Ta âm thầm về hố thẳm chiêm bao
Nắng hạ xuống cho tình yêu giũ cánh
Ru ta yên ngủ cạnh đỉnh cô hồn
Thoảng chợt giấc thôi bùi ngùi tưởng tiếc
Ðời nghiêng dần cho nắng úa hoàng hôn
Vân Hoành
bài thơ rướm máu
sáng, theo thơ bỏ đi chơi
chiều quay về, nén đau lời mực non
có những lúc thơ dường như rướm máu
trào từ hồn lên ngòi bút, lên tay
có những lúc thơ rụng buồn như tóc
những lần ngồi nghe u uất bủa vây
tiếng ngoại quốc nói rành hơn tiếng Việt
diễn tả mình bằng: this... that... me... you...
rồi một hôm ngó lại mình dị biệt
một tên hề diễu dở khóc hu hu
hai mươi bốn tuổi, đã nửa đời xa xứ
sống cuộc đời như một thứ lăng quăng
lội giữa hai giòng văn hóa băn khoăn
hóa con muỗi sống nhờ vào vật chất
rời đất nước, nghĩ, cũng buồn tũi thật
chưa một lần nhìn thấy trọn quê hương
nhưng vẫn còn biết hãnh diện, biết thương
bởi mỗi lúc nhìn màu da mình, biết đẹp
Ngày mỗi lớn, đời thêm ngày mỗi hẹp
tự hỏi lòng đã thấm mệt hay chưa
với dật dờ, với cuộc sống đẩy đưa
rồi thảng thốt nghe lòng lên tiếng: Dạ!...
tiếng mưa rơi trên đất khách
mười hai năm
nghe hoài sao vẫn lạ
phố xá, tên đường, gọi mải không quen
rồi nơi góc phòng bó gối nhiều phen
tên mình bỗng rất thèm nghe ai gọi
hai mươi bốn tuổi, đời một vài bất toại
chưa được quay về với cội nguồn xưa
chiếc võng đời ru cuộc sống đong đưa
trong bóng tối, tay vói hoài ánh sáng
ngày sinh nhật, nghe lòng mình lên án
nợ áo cơm đòi, mỗi tháng chờ lương
biết bao giờ mới trả nợ quê hương
ném cơm áo, lên đường, thôi ẩn náu
hai mươi bốn tuổi, thơ làm, như rướm máu
trào từ hồn lên ngòi bút, lên tay
hai mươi bốn tuổi, đây, bài thơ rướm máu
nần thắt tim mình
trong uất nghẹn
chiều nay
npn
(1987)
Phần I: Gối đầu lên chữ nghĩa
Hoàng Khởi Phong phỏng vấn nhà văn Mai Thảo
Căn phòng rộng chừng mười mét vuông. Một giường nhỏ, một bàn viết, một thế giới, một chăn, một gối... Nói tóm lại đồ vật trong căn phòng này có đơn vị là một, không hai. Ngoại trừ sách thì chất từ sàn gác lên tới trần nhà. Hàng ngàn quyển sách và báo. Sách nằm trong các thùng giấy, các kệ, các hộc. Sách vương vãi khắp nơi, trên giường, gậm bàn. Xó xỉnh nào cũng đầy sách. Trên tường là vài bức hình. Một bức hình chụp đã khá lâu, dễ chừng cũng ba bốn chục năm qua đi giữa người và ảnh. Tôi nhận ra ngay hai nhân vật trong bức hình này: Gia chủ Và một người bạn thân nhất của ông. Người bạn vong niên hơn ông đúng một giáp. Người bạn ông đã có thời dậy học và là thầy bất đắc dĩ với kẻ đang viết những dòng chữ này. Bất đắc dĩ bởi vì nghề chính của ông phải là dậy học mà là làm thơ. Ðiều đáng tiếc là ở một hoi tên là Việt Nam không có nghề nào mang tên là thi sĩ. Gia chủ có tên là Nguyễn Ðăng Quý, người bạn vong niên chụp chung với ông trong tấm hình có tên là Vũ Hoàng Chương.
Cái tên Nguyễn Ðăng Quý hầu như chỉ được dùng để làm giấy tờ, trên thẻ kiểm tra khi còn ở trong nước, hay trên thẻ xanh kể từ khi lưu lạc xứ người. Tên Nguyễn Ðăng Quý hiện nay chỉ còn dùng duy nhất trên các quyển check book. Kỳ dư không một ai gọi ông bằng cái tên cha sinh mẹ đẻ này. Bởi vì người ta gọi ông bằng cái tên khác do ông tự chọn cho mình khi hành nghề "nhà văn". Tên do ông tự chọn là Mai Thảo. Tấm hình chụp chung khi cả hai người còn trẻ, còn cả một con đường thật dài để đi. Con đường còn đó nhưng một trong hai người đã nằm xuống. Thấm thoát mà Vũ Hoàng Chương đã nằm xuống hơn mười lăm năm. Phần ông tuy còn sống, còn ăn và còn thở nhưng mà là một cuộc sống càng ngày càng lạ lẫm, càng thu hẹp. Năm nay ông gần bẩy chục. Có sá kể gì một hai năm giữa sáu tám và bẩy mươi. Cái tuổi thất thập chớp mắt mà đã tới. Ông vẫn là một kẻ ăn ở các hàng cơm, đi ra khỏi nhà thì ngồi xích lô. Nơi đây không có xích lô thì ngồi xe buýt, xe hoả hay máy bay để đi xa, gần thăm bằng hữu. Ông vẫn là kẻ hơi lành lạnh với người lạ mặt, nhưng ân cần với những người thân. Thân đây không có nghĩa là máu mủ ruột rà.
Tôi nhớ cách đây vài năm, khoảng năm năm về trước tôi không mấy có thiện cảm với Mai Thảo. Tính hơi lành lạnh của ông cộng với tính không thích bắt quàng làm họ với những người sang của tôi, làm cho nhiều năm dài tôi trông thấy ông như trông thấy một người nào đó trong siêu thị. Mai Thảo thì đâu có lý gì tới chuyện đó, phần tôi cũng ít thì giờ tìm hiểu những người mà tôi nghĩ là chỉ có tiếng không mà thôi. Cho tới một ngày sau một bữa tiệc sinh nhật ở nhà một người cả hai chúng tôi cùng quen, tôi được sắp ngồi bên cạnh ông. Chẳng lẽ cả hai đều không nói một lời. Ðó là lần đầu tiên trong đời tôi thật sự nói chuyện với Mai Thảo. Trong bữa tiệc Mai Thảo ăn rất ít, ông uống khá nhiều.
Khi đã ngà ngà Mai Thảo nói về thơ. Tất nhiên không phải là thơ của ông. Tôi bị Mai Thảo chinh phục ngay trong lần đầu nói chuyện đầu tiên giữa hai người. Tôi chưa thấy ai ứng khẩu về thơ hay hơn ông. Ông nói về thơ của Quang Dũng, Thâm Tâm, Hồ Dzếnh, Trần Huyền Trân... Hình như ông thuộc không sót một bài thơ tiền chiến nào, miễn là những nhà thơ đó chỉ cần có một bài thơ hay. Không hiểu làm thế nào ông chứa được nhiều thơ của người khác trong khi lượng rượu đã bảo hòa trong người ông. Những lúc đó ông là một Mai Thảo khác, không hề có một chút lành lạnh nào. Trái lại giọng ông sang sảng, nồng nhiệt tựa như chính ông là tác giả đang đọc cho bằng hữu nghe những sáng tác mới nhất của ông. Không bao giờ Mai Thảo đọc thơ xuôi mà thôi. Bao giờ ông cũng giải thích, nói tới những giai thoại vì đâu bài thơ ông sắp đọc được hoàn thành. Những lúc đó nhiều khi ông độc thoại. Ðôi lúc tôi tưởng chừng ông không ms`ng tới những ai có mặt. Ông miên man nói về thơ, ông đọc những bài thơ tuyệt hay của nhiều thi sĩ đã không còn trong cõi đời này nữa. Mai Thảo có giọng đọc thơ trầm ấm, không hùng tráng nhưng rất truyền cảm. Khi ông đọc những bài thơ buồn, người đa cảm chỉ nghe ông đọc cách một bức vách có thể khóc được.
Trước khi đứng dậy để đi làm ca ba tôi nói với Mai Thảo một câu: "Giả dụ những người cầm bút đều là anh em một nhà, thì tôi là một đứa em ngỗ ngược, ít nhất là đối với Mai Thảo. Kể từ nay tôi thôi không còn là đứa em ngỗ ngược nữa."
Kể từ đó đến nay năm năm đã qua, tôi giữ được những lời đã nói, tuy vậy tôi vẫn đứng hơi xa Mai Thảo. Trước kia tôi hay tránh Mai Thảo, bây giờ tôi không tìm tới ông nhưng cũng không đến nỗi lánh mặt mỗi khi tình cờ gặp gỡ trong các nhà người quen, trong các tiệm ăn, trong các bàn nhậu. Có lần Mai Thảo và tôi gặp nhau trong một quán nhậu. Khi tiệc tan mọi người đùn cho tôi việc đưa Mai Thảo về nhà. Mai sau này tôi mới biết những người quen đi uống rượu với ông ai cũng sốt sắng đi đón, nhưng ngại đưa về. Tôi nhớ như in lần đầu tiên đưa ông về sau một cữ rượu lớn. Lúc đó đã hơn một giờ đêm. Tôi đưa Mai Thảo về đến chung cư của ông. Chung cư của những người già bao giờ cũng vắng vẻ yên tĩnh sau mười giờ đêm. Cái bóng của hai chúng tôi vẽ lên trên tường những hình thù buồn bã. Tôi dìu nhẹ ông đi trong cái hành lang của chung cư dài và sâu như một cái hầm. Bước qua cái cổng ngách, vừa đặt chân trên nấc thang đầu tiên, đột nhiên quay phắt người lại ông nói:
- Về nhà giờ này làm cái gì nhỉ ? Nó lạnh như một cái nhà mồ. Hay là mình đi chỗ nào uống tiếp đi. Lấy chai rượu xong đi chỗ khác uống.
Tôi vội can ông:
- Giờ này các quán Việt Nam đóng cửa hết rồi, chỉ còn tiệm Mỹ thôi anh ạ.
Phải lò mò một hồi Mai Thảo mới tra nổi cái chìa khóa vào trong ổ. Ông lầu bầu nói những câu vô nghĩa trong khi mở cánh cửa vào nhà. Trong phòng của Mai Thảo mỗi thứ chỉ có một, tôi lơ láo ngồi dưới sàn. Ông lấy ra chai rượu và hai cái ly, ông không bao giờ ép rượu một ai, uống được bao nhiêu thì tùy ý. Rượu trong nhà Mai Thảo có bao giờ hết được. Bây giờ tôi chợt nhớ ra ở nhà Mai Thảo đồ vật nào cũng chỉ có một, ngoại trừ rượu và sách. "Sách vẫn ngàn pho lẻ một tờ". Và rượu thì vẫn ngàn chung vẫn còn thiếu, cho dù có tri kỷ hay không. Có tri kỷ uống cách khác, không tri kỷ thì uống một mình. Trong khoảng không gian mười mét vuông đó là giang sơn của riêng ông. Nơi ông ở là một bầu không khí trộn lẫn giữa rượu và thơ. Ở mơi đây ông không làm rộn đời sống, tôi cũng mong rằng đời sống cũng không làm rộn ông. Ðêm đó tôi ngồi lại nghe ông nói chuyện thơ, gần sáng ông mệt nhoài, lăn ra ngủ. Tôi lặng lẽ ra về khi trời gần sáng.
2. Gần đây tôi có ý định viết một số bài về các người đi trước tôi một thế hệ. Mới đó mà tôi đã bước vào tuổi năm mươi, những người trước tôi một thế hệ nghĩa là bước vào tuổi bảy mươi bây giờ cũng chẳng còn nhiều.
Phải chi tôi làm việc này sớm hơn nhiều năm thì tôi đã có dịp viết về Vũ Khắc Khoan, vị thầy dạy Sử của tôi trong Ðệ Nhất B1 Chu Văn An niên khóa 19^1, tôi có thể gặp gỡ và viết về Bình Nguyên Lộc, một nhà văn chưa kịp hít luồng khí tự do cho đầy phổi, đã ra người thiên cổ nơi xứ người. Hiện nay những người còn lại tôi có thể nhẩm đếm trên đầu ngón tay. Một Phạm Duy của âm nhạc, một Tạ Tỵ của hội họa, một Võ Phiến của văn, một Mai Thảo...Còn những ai nữa thuộc vào lớp bảy mươi, một Nghiêm Xuân Hồng, một Nguyễn Khắc Khoan, một Như Phong... Ðó là những con người của một thời khác. Thời đó dường như người ta xử với nhau có tình hơn bây giờ.
Thời đó dường như người ta sống với nhau ít giả dối hơn bây giờ, ít ngụy tín hơn bây giờ. Mới có hai mươi năm sau, mới chỉ có một thế hệ mà hình như chúng tôi đang sống trong một bầu không khí khác. Chỉ còn vài năm nữa thế kỷ 20 chấm dứt, cho nên thế hệ chúng tôi sống như những cơn lốc của âm thanh. Thế hệ của Mai Thảo chỉ cách chúng tôi có hai mươi năm. Ông nói về những người đồng thời của ông. Ông nói về cuộc đời của ông, ông nói về các bạn ông. Chỉ lạ một điều là giọng nói hệt như là một người đang kể chuyện cổ tích. Khi nói về quá khứ xa xôi mấy chục năm giọng ông xúc động như lạc đi. Ðôi mắt ông long lanh, mơ màng và thỉnh thoảng rực lên những ánh mắt kỳ lạ. Ông cúi xuống lặng thinh vài phút. Ngửng mặt lên, ông cất giọng sau một cái đằng hắng. Giọng ông trầm ấm. Ông nói về tiểu sử của ông: ... Tôi cùng quê với Tú Xương và Trần Cao Lĩnh. Tôi sinh năm Mão, nhỏ hơn Vũ Hoàng Chương, chẵn tròn một giáp. Nếu bạn có ý định viết một bài về những người thất thập cổ lai hy gí đó thì tôi chưa tới bẩy chục. Hai năm nữa bạn hãy tới, tôi chỉ mong rằng ngày đó tôi còn hiện diện trong căn phòng này, giữa những quyển sách đang đọc dở, những chai rượu đang uống nửa chừng. Trong trường hợp bạn muốn viết một bài về tôi, nhà văn Mai Thảo thì không nhất thiết phải đợi tới bẩy, tám chục mà làm gì. Ðối với tôi điều quan trọng là khi anh "Ở với đời" anh làm gì? Anh chơi với ai? Anh sống như thế nào? Có nhiều người càng sống càng bé lại, "Ông bình vôi" của cụ Phan Khôi chẳng hạn, càng thọ thì ruột càng đặc lại có ích gì.
Thật tình tôi không muốn phát biểu điều gì. Nhưng tôi nể và quý Hoành Khởi Phong, vả lại do sự thông tin không đầy đủ, có nhiều điều tôi không nói mà hiện nay người ta cứ nghĩ là tôi nói. Có nhiều bài báo viết về tôi mà khi đọc xong tôi không nhận ra chính tôim thành thử nhiều khi không nói cũng không phải. Thôi thì nói một lần cho xong, để còn có thì giờ làm việc khác... Chính quán tôi là Bắc Ninh, quê hương của 1uan họ, của những cô gái Nội Duệ, Cầu Lim. Nhưng sang đến đời song thân tôi, ông cụ tôi lập nghiệp phương xa, rồi dời sang Nam Ðịnh. Do đó toàn thể mấy anh em tôi cùng sinh ra và lớn lên ở Nam Ðịnh. Như thế tôi cùng quê với Tú Xương, với Trần Cao Lĩnh. Hồi nhỏ tôi học ở tỉnh lỵ, khi ra học ở Hà nội thì chiến tranh Việt Pháp đang diễn ra dưới nhiều hình thức. Lúc mới ra học ở Hà nội, gọi là đi học nhưng kỳ thực không khí thời chiến tranh đã phủ lên đất nước, thành thử vừa học vừa ngóng. Tôi có vài người bạn thân, tôi còn nhớ tên, hiện họ còn ở Hà nội. Chúng tôi có một giấc mơ mà nói theo cách nói của Ðinh Hùng là giấc mơ "ngoài cửa lớp" chúng tôi trở thành những người bạn văn nghệ. Khi Pháp quân tái chiến Hải phòng thì toàn quốc đi vào một trận chiến dai dẳng. Lệnh tiêu thổ kháng chiến được ban ra. Ở Hà nội bọn thanh niên, sinh viên, học sinh chúng tôi ngày ấy được thúc đẩy bởi lòng yêu nước ngùn ngụt, chúng tôi thành lập những đội quân gọi là "Tự Vệ Thành". Ðội quân đó tuy chẳng ghê gớm gì, song những người thanh niên yêu nước vô ngần đó đã làm đoạn hậu cho cuộc triệt thoái. Toàn bộ quân chính quy rút ra chiến khu Việt Bắc. Khoảng thời gian Tự Vệ Thành chiến đấu với quân Pháp trong cố đô Thăng Long không dài, song có nhiều người trong chúng tôi đến chết cũng không bao giờ quên thời khoảng ngắn ngủi đó. Nó hằn váo trong óc chúng tôi như đường điêu khắc trên những đồ cổ.
Giấc mơ ra khỏi cửa lớp sẽ trở thành những người làm văn nghệ đến với chúng tôi khá sớm. Cùng với hai người bạn là Xuân Thiêm và Trung Nguyên, chúng tôi làm tờ báo đầu tiên của chúng tôi là tờ "Dòng Việt". Tờ báo sống được vỏn vẹn bốn số thì ba anh em chúng tôi cũng phải ra chiến khu. Cũng phải nói thêm khi đó chúng tôi không hề có một chút nhỏ kinh nghiệm làm báo nào. Năm năm ở ngoài đó tôi là một người hoạt động trong lãnh vực văn nghệ. Giản dị gọi là văn công. Thời đó tôi là một thanh niên tràn trề sức sống. Tôi làm nhiệm vụ đươc. giao phó một cách cẩn trọng, bởi tôi biết đánh Tây không phải chỉ trong một sớm một chiều. Chữ trường kỳ kháng chiến ở cửa miệng mọi người. Tất cả mọi người đều biết trước mặt có một trận chiến dài. Một trận chiến mà dân tộc không thể thua. Ðó là trận chiến dành quyến tự trị cho giống nòi. Tôi không chú tâm đến chính trị, song những người chính trị viên lại chú tâm tới tôi. Thời gian cuối thập niên 40, nếu anh chỉ thích làm văn nghệ như tôi thì không có những bận tâm lớn, nhưng nếu anh là người có chút máu chính trị chảy trong huyết quản thí sẽ có khá nhiều rắc rối. Hồi đó Quốc với Cộng còn đâu lưng vào nhau cùng chống quân xâm lăng. Phe Cộng còn náu mình khiêm tốn dưới cái vỏ Việt Minh, phe Quốc thôi thì Duy Dân, Ðại Việt, cùng hàng hàng lớp lớp những người yêu nước thuần túy, không ở trong một đảng phái nào như tôi. Như tôi đã nói, tôi không chú tâm tới chính trị, không hẳn là chính trị buông tha tôi. Anh chính trị viên trong đoàn của tôi cho tôi biết là tôi có đủ điều kiện để vào Ðảng. Chúng tôi đang hoạt động tuyên truyền trong những vùng sát với vùng quân Pháp chiếm đóng, những ai được tuyển chọn phải về Việc Bắc làm lễ kết nạp, tuyên thệ. Phần tôi có thể gia nhập Ðảng ngay tại chỗ công tác. Nghĩa là tôi có giá dưới con mắt anh chính trị viên. Anh ta nói với tôi à vào Ðảng sẽ được đãi ngộ đủ điều, những cái xe đạp tốt nhất, những loại thuốc quý nhất. Gần như là muốn gì được nấy. Tôi nghĩ lại trong thời gian đó kháng chiến dần dần lộ hình tích Cộng sản, những buổi phê và tự phê hằng đêm, những buổi học tập chính trị. Sách vở của Lenin, Karl Marx, Mao Trạch Ðông đầy dẫy khắp cơ quan. Người nào người nấy bí bí mật mật. Tôi là người văn nghệ, thần trí bay trên vòm trời xanh trên kia như một con đại bàng. Ðâu có thể là đà như ngọn cỏ. Tôi nói với anh chính trị viên định kết nạp tôi là cho tôi vài ngày suy nghĩ. Chuyện tuyên thệ gia nhập Ðảng không thể là một quyết định vội vã được. Ðó là một chuyện quan trọng nhất cho một đời người. Trong ba đêm liền tôi ngồi soi mình bên một dòng sông, lặng nhìn con nước chảy, lắng nghe tiếng lòng mình. Ðối với nhiều người gia nhập Ðảng là một ân sủng lớn. Song tôi là một người văn nghê. Công tâm mà nói, việc vào Ðảng làm tăng giá trị tinh thần của chính tôi. Tôi nhấn mạnh chữ tinh thần này, bởi vì có đáng gì dăm ba món đồ vật của một đồng, công một nén đó. Nếu tuyên thệ từ nay tôi là người chân liền, không phải chân rời. Từ nay sau lưng tôi là cả một lực lượng đang bành trướng. Mặt khác những buổi học tập chính trị, những buổi phê và tự phê, những buổi truy nhau đến đổ mồ hôi trán, những ánh mắt dò xét nghi kỵ. Kháng chiến càng ngày càng để lộ bản chất đấu tranh giai cấp. Thế mà ông cụ tôi giàu có tiếng ở Nam Ðịnh, gia đình tôi theo kiểu định nghĩa của cộng sản thì hiển nhiên là thành phần bóc lột dân lành, sống trên thặng dư kinh tế và lao động của người. Tôi hiểu tôi là ai, tôi muốn gì? Tôi cũng biết tính tôi không phải là một người phản bội một khi đã tuyên thệ. Suốt ba ngày liền tôi dõi mắt qua bên kia sông, cái vùng "dịch tạm chiếm" hiện giờ không biết ra sao. Có điều chỗ này không phải là chỗ của tôi. Tôi nói với người chính trị viên có lòng ưu ái tôi là tôi muốn về nhà. Anh ta nhìn tôi và nói:
- Như vậy là anh xóa hết không còn gì. Công lao mấy năm của anh bù cho tội này cũng vừa đủ. Thế là tay trắng, sạch sành sanh.
Thưở đó những người chính trị viên chưa ghê rợn như sau này, vì guồng máy mới hoạt động chưa lâu, các bánh xe chưa trơn mỡ. Ví thử những năm 50, mà nói như thế e rằng không có chỗ mà chôn. Thành thử tôi còn có mạng mà về thành. Năm đó là năm 1951. Lúc quay lưng lại mà đi đau lắm, khóc được. Tôi có cảm giác như là người bị tình phụ.
Năm năm đi kháng chiến, tôi dõi mắt qua bên kia sông, nơi mà trong thơ tiền chiến các thi sĩ lớn thời đó gọi là "vùng địch đóng". Giờ đây ở trong thành tôi dõi mắt ngược lại, nơi những người bạn cũ của tôi đang thở bầu không khí của chiến tranh. Nơi tôi ở cái gì cũng có vẻ tạm bợ. Tôi là một người làm văn nghệ, sớm nhìn thấy cái giả và thực trong mọi sinh hoạt nơi tôi đang ở. Chính vì vậy mà tôi bỏ về thành. Hai năm ở Hà nội tôi nhìn thấy trước có một đêm nào đó tôI phải giã từ. Không khí của những năm 51, 52, 53 là không khí bùi ngùi của việc chia ly. Tôi là nhà văn nên tôi cảm nhận được điều này. Bây giờ ngồi đây tôi nghiệm lại là cái không khí chia ly đó bàng bạc khắp ngọn cỏ khóm cây.
Từ năm 1951 tới năm 1954 tôi làm một vài việc với gia đình. Những việc có tính cách sinh kế. Cũng chỉ là những chuyến đi buôn bán ấm ớ, qua lại hai bờ của một dòng sông. Lén lút đi lại giữa hai vùng đất "tự do" và "vùng địch đóng". Ðó là cái thời một nhạc sĩ nào đó đã viết trong một bản nhạc: "... Bên đây là phía tự do, máu người dân Việt còn cần cho luống cầy. Bên kia là phía sầu u, có người dân Việt gục đầu bên quân thù..." Những chuyến đi buôn này cho tôi có cảm giác tôi đang làm một cái gì đó, một công việc nào đó hơn là những thúc bách của sinh kế.
Năm 1954, hiệp định Geneve chia đôi đất nước được ký kết do sự sắp xếp của các đại cường. Tôi nấn ná mãi cho tới những ngày sau cùng mới di cư. Vào Nam vào đầu năm 1955. Tôi cảm nhận rõ ràng ra đi là không có ngày về. Trong vùng đất mới ở miền Nam tôi may mắn gặp gỡ vài người có lòng yêu văn chương, chữ nghĩa. Ðó là các anh Doãn Quốc Sỹ, Thanh Tâm Tuyền, Nguyễn Sĩ Tế. Cả ba đều là người Bắc di cư như tôi, nhưng tôi không hề biết khi còn ở Hà nội. Năm 1955 tôi hoàn thành tập truyện đầu tay của một đời văn nghiệp Mai Thảo. Ðó là tác phẩm "Ðêm giã từ Hà nội". Cũng trong năm này, cùng với mấy người bạn vừa kể, chúng tôi cho ra đời tạp chí "Sáng Tạo". Trước sau cả hai bộ Sáng Tạo cũ và mới gồm 5 số báo. Công tâm mà nói đó là tạp chí thuần túy văn chương đầu tiên của miền Nam. Nó thổi một luồng gió mới vào sinh hoạt chữ nghĩa của miền Nam. Khi tạp chí Sáng Tạo đình bản, tôi trông coi tờ Nghệ Thuật một thời gian trước khi lo lắng cho tờ Văn.
Năm 1975 ập tới tôi kẹt lại ở Việt Nam. Tôi trốn lánh suốt ba năm liền, năm 1978 tôi thành công trong một chuyến vượt biên. Thoạt kỳ thủy tôi tới Seatle, nơi đó tôi có vài người bạn cũ đang làm mộ tờ báo cho người Việt tị nạn. Tôi làm tờ Ðất Mới cùng với Vũ Ðức Vinh, Thanh Nam, Túy Hồng. Khi tờ Ðất Mới đình bản, tôi về định cư tại vùng này và làm lại tờ Văn ở hải ngoại. Thấm thoát mà tờ Văn hải ngoại đã góp mặt với chữ nghĩa 14 năm qua. Có một điều tôi muốn nói về tạp chí Văn. Tờ Văn và tôi là hai thực thể không thể chia cắt. Tôi nghĩ rằng trong một tương lai không xa tôi sẽ cho đình bản tờ Văn. Hiện nay tình trạng sức khỏe của tôi còn cho phép. Khi nào nó không cho phép tôi sẽ biết. Tôi hiểu những biến đổi bên trong lục phủ, ngũ tạng của tôi. Rất nhiều bằng hữu của tôi không muốn tờ Văn bị đình bản, họ có thể lèo lái cho nó sống. Nhưng đó là một tờ báo khác, chỉ có cái vỏ là Văn thôi, còn cái ruột có thể là một tờ nào đó. Tôi không thể cho tờ Văn mang hình ảnh của một con ốc mượn hồn.
Năm 1956 khi tạp chí "Sáng Tạo" xuất hiện ở miền Nam, nó hệt như những cây lúa nhú lên trong một khoảnh đất phì nhiêu không người khai phá. Mỗi số báo là một bước đi tới. Những người chủ trương hăm hở tiến lên, không nhìn lại những con đường đã cũ. Thời đó ở miền Nam chỉ có những tờ báo, năm thì mười họa mới có một quyển sách ra đời. Ngôi "chợ văn chương" hết sức tiêu điều, tịch mịch. Sáng Tạo đem một luồng gió mới đến cho văn học miền Nam nói riêng. Nói chung thì là cả hai miền, bởi vì ở miền Bắc lúc đó là lúc những ngưòi cầm bút nhìn nhau đôi khi còn tệ hơn là cầm thú trong vụ án "Nhân Vân Giai Phẩm". Có không ít nhà văn, nhà thơ, họa sĩ, nhạc sĩ chết chỉ~ vì muốn làm một người chân thật, một người mà Phùng Quán đã viết:
Yêu ai cứ bảo rằng yêu
Ghét ai cứ bảo rằng ghét
Dù ai cầm dao dọa giết
Cũng không nói ghét thành yêu
Dù ai ngon ngọt nuông chìu
Cũng không nói yêu thành ghét
Bút giấy tôi ai cướp giật đi
Tôi sẽ dùng dao
Khắc văn trên đá.
Ðứng trên phương diện chữ nghĩa thì những câu thơ này không hay, nhưng nó lớn bao trùm cả thời đại đó. Ảnh hưởng của Nhân Văn Giai Phẩm cho tới ngày nay, gần bốn chục năm qua đi mà cẫn chưa hoàn toàn tan biến. May mắn hơn những người cầm bút ở miền Bắc, những ngôi sao vừa lóe lên trên vòm trời văn chương của miền Nam trong giai đoạn nàym, những Mai Thảo, Doãn Quốc Sỹ, Thanh Tâm Tuyền, Tô Thùy Yên... như những con ngựa phi nước đại trên những đồi cỏ mênh mông, những khu rừng bát ngát. Nếu "Tự Lực Văn Ðoàn" là một hiện tượng của văn học Việt Nam trong thập niên 30, 40 thì hai mươi năm sau, Sáng Tạo là một hiện tượng khác. Nó làm mới văn chương. Nếu coi văn học như những đợt sóng của một giòng sông trường giang cuồn cuộn, thì Tự Lực là một con sóng lớn và đi trước, Sáng Tạo là một con sóng nhỏ hơn, đi liền ngay sau đó. Tự Lực là một khoảng đất mới vỡ, Sáng Tạo là hoa và trái đầu mùa.
Khởi Phong
STAR WARS: MẶT TỐI CỦA MỘT BỘ PHIM HAY
Bắt đầu ngày 31 tháng 1, bộ phim "Star Wars" sẽ trở lại màn ảnh sau khi đã được ra mắt khán giả cách đây 20 năm. Có lẽ không ai không biết bộ phim có nhiều tình tiết giống như truyện kiếm hiệp này với những nhân vật như Darth Vader, Obi-Wan-Kenobi, Luke Skywalker, công chúa Leia , Han Solo. Tuy nhiên có nhiều bàn cãi về bộ phim nàỵ Một câu hỏi được đặt ra là "Làm thế nào mà một bộ phim nhiều người yêu thích lại là nguyên nhân cho những gì chúng ta ghét về phim ảnh ngày này?"
Phải chăng "Star Wars" là bộ phim đã hủy hoại Hollywood? Nhiều người trong kỹ nghệ phim ảnh sẽ đồng ý về điểm này. Theo Steven Bach, nguyên trưởng ban sản xuất của United Artists, sự thành công của vở nhạc kịch không gian này của Geroge Lucas là một thảm họa ghê gớm nhất cho nền thương mại làm phim. Phim của Lucas đã bắt đầu tạo nên một phản ứng dây chuyền về kinh tếmà điều này đã giết mất nỗi ham muốn làm phim mạo hiểm của Hollywood.
Những chuyện vô lý còn đi xa hơn. Vào năm 1997, bộ phim 10 triệu này - lúc đó không ai ở Fox muốn ủng hộ bởi vì nó quá "khác biệt - thể hiện sự nổi lọan với Lucas muốn đạp đổ tất cầ Lucas/Luke đã thắng, nhưng kết quả đã tạo nên một đế quốc bi nghiêm cấm còn hơn cái vượt trước nó, một kỹ nghệ sao băng (Death Star) không còn có thể tha thứ cho những cái nhìn lạ lẫm.
Cùng với bộ phim "Jaws", phim "Star Wars" đã khóa chặt Hollywood trong một một tâm trạng dữ dội có thể bị thổi phồng một cách nguy hiểm và trở thành đơn điệu một cách tẻ nhạt. "Các phim trường thấy họ có thể làm ra nhiều tiền từ một bộ phim, và điều này đã biến chuyển tất cả," Lawrence Kasdan, người phụ viết hai bộ phim "The Empire Strikes Back" và "Return of the Jedi", giải thích. "Họ đã làm việc tích cực từng giây từng phút." Bộ phim riêng tư , nhỏ bé có lời vừa phải nay đã có thể mở rộng.
Cái ý nghĩ một bộ phim lẻ có thể thu gần được 200 triệu đô la - có thể hơn khi làm quảng cáo - đã làm cho các phim trường trở nên quyến rũ đối với các tập doàn đa quốc gia đã bòn vét Hollywood hơn hai thập kỷ qua." Kasdan phàn nàn: "Ðó là khởi đầu cho mọi rắc rối. Chất lượng của phim đã tuột dốc liên tục." Bây giờ là ban tiếp thị, không phải là các nhà làm phim đã quyết định nội dung của những bộ phim. Phim "Star Wars" đãthay đổi những loại phim nào được thành hình (triều đại của phim popcorn), phim làm cho ai (khán giả trẻ) và ngay đến tại sao phim được làm (để bán đồ chơi, những hộp thức ăn trưa, những album ca nhạc).
Không chỉ có việc thương mại là thay đổi mà cả thẩm mỹ của Hollywood cũng bị "Star Wars" làm cho thay đổi. Những gì Lucas khai mạc là sự thành công của động lực trên nội dung, hành động trên âm mưu, những đơn giản của sách họat họa trên sự phức tạp của đời thường và những hậu quả đặc biệt trên tất cầ Lucas đã lấy nhịp sống từ những biến hóa trong cơ thể thanh xuân, và bây giờ đã không thể quay ngược đồng hồ trong cơ thể lại. Những chấn động của chất adrenalin đã tới nhanh hơn, bằng cuốn phim "The Rock", trong đó những lưu ý về nhân vật và sự mạch lạc đã bị hy sinh trên bàn thờ tốc độ. Không một lời cám ơn Lucas, những bộ phim và những đại lý video-game đã bắt đầu sát nhập vào nhau.
"Star Wars" đã tuyên bố chấm dứt một trong những kỷ nguyên phong phú và kích thích nhất trong việc làm phim ở Hollywood, khi Copola, Altman, Scorsese và Mazursky thực hiện công việc tiên phong của họ, không có phim nào nhắm vào trẻ con. Ðã có cái tinh thần và kiểu mới trong phim ảnh Mỹ, một quyết tâm suy nghĩ lại và lật đổ những công thức tự sự đã lỗi thời.
Mặt khác, phim "Star Wars" , với trận chiến thần thoại giữa cái Thiện và cái Ác , đã nhìn lại mỗi bộ phim nổi tiếng đã lâu. Từ những phim cao bồi miền Tây, những phim chiến tranh cho tới những tập phim Flash Gordon và ngay đến phim "Triumph of the Will," Lucas đã phá vỡ lịch sử Hollywood bằng cách sản xuất những gì được gọi là bản anh hùng ca hậu tân thời đầu tiên. Nhưng đây là hậu tân thời mà không có sự mỉa mai, được phác họa để gợi lại sự mong muốn kinh nghiệm xem phim vô tội hồi nhồ Nó đánh dấu một cú chuyển văn hóa căn bản khiến tiên đóan được chính sách nhớ nhà của Ronald Reagan và mang lại nỗi chuyên chế của đọan kết có hậụ Và kể từ đó, Hollywood đã tái diễn lịch sử của chính nó, bị bẫy trong một cái vòng luẩn quẩn của những hình ảnh tự phản hồị
Một Hollywood suy đồi của phim "Independence Day," "Twister" và "Mission: Impossible" là một bảo tàng viện kỹ thuật cao cấp về sự nhớ nhà trong đó tất cả các phim giống như là tái bản. Có diều kì lạ là đám khán giả được nhắm tới lại là giới choai choai, là những người có trí nhớ ngắn ngủn giống như là những nhịp cầu chú ý của họ. Tất cả những điều này không phải là những gì mà Lucas có trong trí khi ông làm phim. Ông ta chỉ muốn cho chúng ta một cuộc du hành vui vẻ một cách vô tội và chúng ta nên cám ơn ông về điều đô Nó chỉ giống như là chuyến đi đã lăn trên đường đời, và không ai có vẻ biết cách làm sao mà rút ra.
Nguyễn Tiến Dũng
(Lược dịch từ báo Newsweek Jan 20, 1997 - "The Dark Side of a Hit" by David Ansen with Ray Sawhill và Yahling Chang)
Nàng
Thế rồi cuối cùng gã cũng đã gặp nàng, người tình trong mộng của gã. Gã chả phải mỏi mắt đi tìm đâu cho xa, nàng đã xuất hiện nơi đây, ngay trong buổi tiệc mừng đầy tháng đứa con của thằng bạn.
Gã đang ở lứa tuổi chưa gọi là già mà cũng chẳng còn trẻ nữa; cái này người ta gọi là lứa tuổi sồn sồn. Càng ngày gã càng cảm thấy khó tìm được đối tượng ưng ý, tuổi đời càng chồng chất bao nhiêu thì cơ hội tìm thấy người trong mộng càng giảm đi bấy nhiêu. Thật ra thì gã có kén chọn gì cho kham. Gã chỉ mong mỏi một người tình bình thường với những tiêu chuẩn bình thường: với công ăn việc làm vững chắc đủ nuôi gã trường hợp gã bị thất nghiệp, với khả năng bình thường trong việc bếp núc hầu có thể nấu cho gã những món nhậu để thỉnh thoảng lai rai với bạn bè, và cuối cùng là với một nhan sắc bình thường cỡ các thí sinh dự thi hoa hậu áo dài Long Beach.
Chỉ vì tự đặt ra 3 tiêu chuẩn trên mà cho đến ngày hôm nay gã vẫn chưa tìm thấy người trong mộng. Gã dần dần nhận ra cái thực tế phũ phàng, là những nàng có đầy đủ 3 tiêu chuẩn trên chắc có lẽ nằm mãi trong mộng, không bao giờ xuất hiện, mà nếu có, chắc không đến phiên gã. Từ đó gã xét lại, thấy cần phải gạt bớt 2 tiêu chuẩn. Về tiền bạc, gã thấy không phải là yếu tố quan trọng, vì tiền bạc không thể mua lại hạnh phúc, và trời sinh voi sinh cỏ, gã thất nghiệp nàng không nuôi được thì cùng lắm đi xin tiền trợ cấp sống qua ngày, vả lại ở bên Mỹ này chưa có ai bị chết vì đói. Một túp lều tranh hai quả tim vàng dù sao cũng tình hơn là một căn nhà lầu hai quả tim sắt! Tiêu chuẩn thứ hai là việc bếp núc, cũng không quan trọng, vì có khối nàng về nhà chồng mới tập nấu nướng, xong đâu cũng vào đấy. Tiêu chuẩn cuối cùng, nhan sắc, nhất định là phải cô Ai mà không muốn có một người vợ đẹp để hãnh diện với bạn bẹ Hơn nữa, gã thừa biết mình là một thằng đàn ông háo sắc, lấy vợ xấu về gã sợ gã đâm chán rồi lem nhem mèo mỡ thì hạnh phúc vợ chồng sẽ tiêu tan. Do đó, để tránh mọi hậu họa, người tình của gã phải thật đẹp, nhìn thấy nàng là gã phải choáng váng, tinh tú quay cuồng trong đầu, như bị sét đánh vậy.
Và hôm đó, một ngày trời nắng chang chang, gã đã nghe sấm chớp ngang tai; một tiếng sét ái tình. Gã đã nhìn nàng trân trân, đến nỗi thằng bạn chủ nhà phải ngạc nhiên:
- Nhìn gì mà nhìn dữ vậy cha nội? Thôi uống đi!
Gã vuốt tóc chữa thẹn, đỡ chai bia từ tay tên bạn. Gã đổi đề tài nhanh chóng, chỉ vào ấu nhi đang nằm trong vòng tay gia chủ và nói:
- Con bé xinh thật! Giống hai vợ chồng mày y đúc!
Cả người nói và người nghe đều biết rõ đó là câu khen nịnh lấy lệ, vì đứa nhỏ mới có một tháng tuổi, mặt mũi chưa rõ ràng, đâu biết giống ai. Có giống thì giống con nít mà thôi. Tên bạn ẵm con đi vòng vòng chào quan khách. Gã lại có cơ hội tiếp tục ngắm nhìn người đẹp. Nàng đã đi ra ngoài vườn, tay tựa lên ban-công...
Trước mắt gã là một trang mỹ nhân tuyệt thế. Khuôn mặt có nét hao hao chiêu đãi viên hàng không Quỳnh Mai, hoa hậu năm 1995 ở Tokyo, giải y phục cổ truyền, có điều nàng đẹp hơn một chút. Nàng để tóc dài xõa ngang vai. Những sợi tóc mai bay lất phất trong gió, vuốt nhẹ lên trên khuôn mặt kiều diễm. Khuôn mặt liêu trai mang nặng nét u uẩn đó mới chính là khuôn mặt mà gã yêu thích. Còn thân hình thì vẹn toàn, từ trên xuống dưới đầy đủ, không thiếu và cũng không dư. Nàng đang vận một bộ đầm bó, khoe rõ những đường cong hấp dẫn. Nói chung, nhìn nàng là thằng đàn ông bình thường nào cũng muốn vô tù đếm lịch!
Mọi người trong nhà đang chè chén vui say, không ai để ý đến nàng. Có lẽ tại vì nàng là người lạ trong bữa tiệc hôm nay. Gã đã hỏi lòng vòng vài người bạn, ai cũng nói làchưa gặp nàng bao gi Hỏi tên bạn chủ nhà thì hắn nói chắc là bạn của vợ hắn. Hỏi vợ hắn thì ả nói chắc là bạn của chồng. Không biết đâu mà lần. Gã đoán có lẽ nàng là bạn của một trong những quan khách có mặt ở đây. Nếu bạn của nàng là phái nữ thì gã sẽ không ngạc nhiên tại sao nàng bị bỏ rơi, lạc lõng giữa đám đông như vậy. Còn như nếu bạn của nàng là đàn ông, thì tên này chắc thuộc loại đại ngu. Cái ngu thứ nhất là hắn đã dẫn người đẹp vào đây cho thiên hạ tán. Cái ngu thứ hai là đã lỡ dẫn nàng vào đây mà không đi kè kè theo mà canh giữ.
Ðây là cơ hội cho gã đến làm quen với nàng. Gã hơi do dự vài giây. Gã chỉ sợ nàng đang cần yên lặng một mình, sợ sự hiện diện của gã sẽ làm cho nàng bực mình. Gã sợ "dục tốc bất đạt". Nhưng chả nhẻ đứng ở đây mà chờ mãi. Gã đã chờ mười mấy năm rồi! Gã quyết định tiến tới, có thử mới biết thành công hay thất bại.
Gã rón rén mở cánh cửa kiếng dẫn ra ngoài bao-lơn, khẽ ho nhẹ lên một tiếng ra hiệu. Nàng quay lại, nhìn gã, và mĩm cười. Nụ cười thật tươi, khoe hai hàm răng trắng và đều. Nụ cười làm cho gã cảm thấy người lâng lâng nhẹ như đang say. Gã nhìn lại chai bia tên bạn đưa cho ban nãy, uống chưa hết một nửa. Nụ cười đó đã làm cho gã ngây ngất, hồn tiêu phách tán. Bao nhiêu lời hay ý đẹp được sắp sẵn trong đầu tự dưng biến đi đâu mất. Gã ấp úng:
- Hôm nay trời tốt quá. mùa đông mà mát mẻ như mùa thu vậy...
Nàng nhìn gã, không nói gì, chỉ cười mĩm. Hai cánh tay che chéo trước ngực, bàn tay xoa xoa hai cánh vai trần. Chỉ một cử chỉ đơn giản đó thôi mà gã cũng thấy sao mà dễ thương lạ. Gã nhìn kỹ vào đôi mắt to, đen láy, và nói:
- Tôi nom cô rất quen. Hình như đã gặp rồi.
Nàng nhún vai, nhếch mép cười. Gã nhủ thầm chắc thế nào nàng cũng nghĩ là cái trò tán gái này cũ rích rồi, chắc nàng tự hỏi gã đã áp dụng cái trò này với biết bao nhiêu cô gái rồi.
Ðúng vậy! Gã đã từng nói như thế với những nàng gã chỉ gặp lần đầu tiên. Nhưng hôm nay thì khác, gã thấy ở nàng dường như có nét gì quen quen. Gã cố moi trí nhớ, hình ảnh của những kiều nữ đi qua đời qua bất chợt hiện về như một cuốn phim. Cuối cùng gã cũng chịu thua, không giống ai hết.
Gã nhìn kỹ một lần nữa. Gã dám quả quyết khuôn mặt này nom rất quen. Gã buột miệng:
- Tôi chắc chắn là tụi mình có biết nhau từ trước. Xin lỗi cô, tôi không thể nhớ ra được, nhờ cô nhắc lại dùm cho.
Nàng vẫn chưa thèm há miệng, hai mắt nhìn gã trân trân. Gã tiếp tục:
- Tôi tên là Thái, làm cho hãng Raytheon. Cô có quen ai tên đó.
Ðến lúc này nàng mới chịu cất giọng oanh vàng... khẻ. Một giọng nói khàn và đục vang lên:
- ÐM! Tao là Thế đây, mày không nhận ra tao thiệt sao, hả Thái?
Bùi Thanh Liêm
tháng 1, 1997