vhnt, số 298
20 May 1997
Trong số này:
thư vhnt.................................................................PCL
T h ơ:
1 - Ngày tháng em mưa mù.........................Nguyễn Bình Thường
2 - Dấu xưa cánh én............................................Hoài Yuk
3 - Mông lung.......................................................Cát Nhu
4 - Charles Baudelaire: Hoà âm dạ khúc....................Hưng Ng. dịch
5 - Ðời hồng......................................Nguyễn Ðăng Tuấn
6 - Nhớ mẹ..............................................Nguyễn Bá Dĩnh
7 - Thì thôi..............................................Trần Thái Vân
8 - Dạo khúc...........................................Nguyễn Quang Tấn
9 - Anh ví dụ tình yêu là sợi khói....................Trần Từ Duy
D i ễ n Ð à n V ă n H ọ c:
10 - Nhìn Lại 40 Năm Văn Học Chiến Tranh:
Chiến-Tranh & Văn-Học Việt-Nam Hải Ngoại sau 1975 (phần 1/2)
........................................................Nguyễn Vy-Khanh
T r u y ện N g ắn / S án g T ác:
11 - Tháng năm phượng tím......................................Ý Liên
Nội dung vhnt kỳ này gồm những sáng tác thơ, văn, dịch thuật, và tiểu luận. Xin giới thiệu 2 bài thơ của Nguyễn Quang Tấn và Trần Từ Duy thân được gửi từ VN. Phần diễn đàn văn học, tác giả Nguyễn Vy-Khanh tiếp tục gửi đến bạn đọc với bài biên khảo công phu về chủ đề "Nhìn Lại 40 Năm Văn Học Chiến Tranh", đề tài chiến tranh và văn học hải ngoại giai đoạn sau 1975, sẽ đăng làm nhiều kỳ.
Chúc bạn đọc một ngày an vui.
thân ái,
PCL/vhnt
NGÀY THÁNG EM MƯA MÙA
tôi, đôi tay khơi trời hoang rộng
em, một ngày mang những tên riêng
rối, khi mắt mi em mây làm lạ
đau nghìn sau em định nghiã nhìn nhau; thừa
rồi ấm ức môi tật nguyền trăn trối
đập gương xưa; em bối rối bên lề
một ngày tàn thương trăm dáng nhỏ con con
em thoảng thốt trên từng môi mặt lạ
đời mỗi một thay đôi đời khốn quấn
mưa đau mùa. tay em gội tóc sông sâu
em có những bờ vai mây chưa phủ
tôi cuối đầu sau em mãi chưa qua
Nguyễn Bình Thường
Dấu Xưa Cánh Én
Tiếng chim kêu giữa thinh không
Lòng tôi có lúc mênh mông nhớ nàng
Tình xưa xuống bến sang ngang
Cớ sao lại nhớ mắt nàng như say
Giọt tình nuốt vội đắng cay
Mây bay một cõi trời này mù u
Tôi về giường xưa tường cũ
Gối chăn buồn đã bụi ủ thời gian
Người đi vắng cả không gian
Dáng ai về giữa rượu tàn tình cay
Trùng dương thăm thẳm bờ này
Dang tay em gọi mây bay về trời
Dù em đi cạnh cuộc đời
Ăn năn còn nhớ một thời yêu nhau
Thì thôi đã lỡ bể dâu
Buồn tôi một thưở quên lâu bao giờ
Hoài Yuk
MÔNG LUNG
Trăng đầy như mâm cỗ
Trăng khuyết tựa móng tay
Trái tim nào đủ chỗ
Em "tạm trú" đêm nay?
Tháng năm trời mưa bay
Ðậu xuống vai em gầy
Ðôi bàn tay run rẩy
Ai sưởi ấm em đây?
Trăng trước đầy là khuyết
Trăng sau khuyết lại đầy
Trăng muôn đời là nguyệt
Người muôn thuở như mây
Thời gian chừng vô tận
Theo năm tháng đợi chờ
Làm sao nên duyên phận
Với bóng hình trong mơ
Ðời rồi cũng như thơ
Ai học được chữ ngờ
Sau một buổi ban sơ
Duyên bỗng hóa tình cờ
Cát Nhu
HARMONIE DU SOIR
Voici venir les temps où vibrant sur sa tige
Chaque fleur s'évapore ainsi qúun encensoir;
Les sons et les parfums tournent dans l'air du soir;
Valse mélancolique et langoureux vertige!
Chaque fleur s'évapore ainsi qúun encensoir;
Le violon frémit comme un coeur qúon afflige;
Valse mélancolique et langoureux vertige!
Le ciel est triste et beau comme un grand reposoir.
Le violon frémit comme un coeur qúon afflige;
Un coeur tendre, qui hait le néant vaste et noir!
Le ciel est triste et beau comme un grand reposoir.
Le soleil s'est noyé dans son sang qui se fige...
Un coeur tendre, qui hait le néant vaste et noir!
Du passé lumineux recueille tout vestige!
Le soleil s'est noyé dans son sang qui se fige...
Ton souvenir en moi luit comme un ostensoir!
Charles Baudelaire
(Fleurs du mal, 1857)
HOÀ ÂM DẠ KHÚC
Này là lúc toả ngời hoa run rẩy
Trên cành cây ngan ngát tựa trầm hương;
Hơi đêm mang âm nồng thoát quay cuồng;
Ðiệu luân vũ chập chờn và say đắm!
Trên cành cây ngan ngát tựa trầm hương;
Ðàn ai rung như cõi lòng tan vỡ;
Ðiệu luân vũ chập chờn và say đắm!
Dưới trời buồn đẹp tựa chốn trăm năm.
Đàn ai rung như cõi lòng tan vỡ;
Tim yếu mềm khinh vô vật tối tăm!
Dưới trời buồn đẹp tựa chốn trăm năm.
Nghe đông đặc mặt trời chìm trong máu...
Tim yếu mềm khinh vô vật tối tăm!
Quá khứ ngời giăng đón lấy dư âm!
Nghe đông đặc mặt trời chìm trong máu...
Nỗi nhớ người lóng lánh ánh ngọc bôi!
(Pour mes tendres soirées)
Hưng Ng.
5/97
Ðời Hồng
Sống theo mạch đất hồng trần
Soải mây tiếng hạc ân cần vọng vang
Sáo trúc thánh thót lan tràn
Chiều không hư ảo hoàng lan nở rồi
Ðóa mầu lụa lẫn tình tôi
Trao người chút nắng mùa bồi hồi say
Nguyễn Ðăng Tuấn
Nhớ mẹ
khuya nào tôi cũng ra hè ngóng
một ánh sao xa mãi tận trời
rồi ngỡ rằng màu xanh huyền hoặc
là từ đôi mắt của mẹ tôi
mẹ tôi tuổi hạc cao vời vợi
mắt đã mờ theo những nhớ thương
bao năm cách biệt đời trôi nổi
tôi vẫn mong những chuyện hoang đường
vẫn mong tóc mẹ còn thơm ngát
như núi sông ruộng lúa Tuy Hoà
vẫn mong mắt mẹ còn trong mát
như nước thu về giữa sông Ba
mẹ ơi, vẫn biết là hoang tưởng
vẫn biết đời: còn, mất, hợp, chia
mai này mẹ khuất sau ngàn núi
nhớ mẹ, con nhìn theo ánh sao khuya!
Nguyễn Bá Dĩnh
Thì Thôi
Từ đồng hoang em về
mặt còn hôi mùi bùn
mắt lập loè
Từ rừng sâu em về
thơm thơm mùi đất mới
tóc rối bù như rơm
Từ biển xanh em về
rít mặn làn da rất mỏng
tay gầy run run
Em là đêm
nơi tội lỗi ảo mờ không biên giới
tôi là em
nơi biên giới ngăn bờ thánh thiện
Thì thôi!
trần thái vân
Dạo Khúc
Niềm đau khi đến bên người
hao hao như một niềm vui
bàn tay vẫy gọi chào mời
tâm tư vụng về trao gởi
Tình nhân chung bước đường dài
biết đâu đường chia muôn lối
niềm đau khi đến bên người
hao hao như một niềm vui
La Ngà 97
Nguyễn Quang Tấn
gởi PCL
Anh Ví Dụ Tình Yêu Là Sợi Khói
Mai em đi tin thật bất ngờ
Chưa hò hẹn lấy gì làm kỷ niệm
Một góc quán có anh ngồi yên lặng
Có đủ làm em nhớ anh không?
Tình yêu là sợi khói bềnh bồng
Anh ví dụ tình yêu là sợi khói
Anh lo sợ khi mình lên tiếng nói
Âm thanh thành ngọn gió thổi tan đi
Mai em đi không kỷ vật để cầm
Sợi khói mỏng lời anh là gió thổi
Trời đất xúi đôi môi anh muốn nói
Chỉ ngại rằng sợi khói quá mong mang
Thôi thì cầm theo ánh mắt của anh
Mai mốt ở quê người làm kỷ niệm
Anh ngồi lại nghe nặng nề hơi thở
Mãi hỏi thầm sợi khói đã tan chưa
Trần Từ Duy
(gửi từ Saigon, VN)
Nhìn Lại 40 Năm Văn Học Chiến Tranh Văn Học Chiến Tranh Sau 1975
30-4-1975 được coi là mốc lịch sử phân chia văn học Việt Nam Cộng sản cũng như Cộng hòa. Ðối với "đồng minh" Hoa Kỳ, chiến tranh đã chấm dứt. Nhưng chiến tranh sẽ vẫn tiếp tục đày đọa con người, vẫn có những kẻ buông súng phải trả giá trong những địa ngục trần gian có mỹ từ "trại học tập", sẽ còn chia rẽ nhiều người Việt dù cùng chiến tuyến.
Chiến-Tranh & Văn-Học Việt-Nam Hải Ngoại:
* GIAI-ÐOẠN 1975-1980:
Sau ngày 30-4-1975, một cộng đồng người Việt hải ngoại được hình thành ở ngoài dãi đất hình chữ S và trãi dài khắp năm châu. Hoạt động văn học đã bắt đầu ngay từ những trại tị nạn ở đảo Guam và nơi những vùng "quê hương thứ hai". Một nền văn học không cộng sản tiếp nối nền văn học miền Nam cộng hòa, ở hải ngoại. Trước 1975, hoạt động chính trị và báo chí thân cộng mạnh thế nào thì sau 1 975 lại trở thành thiểu số, một lật ngược thế cờ một cách... tự nhiên. Các cơ quan truyền thông trước thân cộng sản đa số cũng nối tiếp nhau chống đối chế độ bên nhà hoặc đình bản: Hành Trì nh, Ðất Việt, Người Việt, Diễn Ðàn Người Việt ở Canada, Ðoàn Kết ở Pháp, Nước Việt ở Thụy Sĩ, Ðất Nước ở Ðức, Người Việt lưu vong trước trung lập hay thiên tả thì nay đa phần trở thành "chống cộng". Sau những hoảng hốt xa xứ lúc đầu, một nền văn học lưu vong khởi dựng từ những bàn tay trắng nhưng đã có sẵn những tấn thảm kịch riêng chung, những bi thảm hậu quả cu ?a chiến tranh. Những thăng trầm, đổi đởi. Rồi những cố gắng hội nhập, tìm sống và xây dựng cho thế hệ tương lai. Người thiểu số trên xứ lạ, đất tạm dung, tiếng nói, phong tục, cuộc sống mới với những đảo lộn văn hóa, những ly dị, con cái tự do hơn, người lớn tuổi cũng cô đơn hơnchung, đây là một văn học lưu vong đầy hoài niệm nhưng tự do và nhân bản dù lúc nào cũng có những lực lươ.ng tự tại hoặc ngoại nhập xử dụng bạo lực để ức hiếp những tiếng nói tự do đó!
Các báo chí Hồn Việt (số 1, 11-1977) Ðất Mới, Văn Học Nghệ Thuật (4-1978), Nhân Chứng, Việt Chiến, Trắng Ðen, Người Việt, Việt Nam Hải Ngoại, Quê Mẹ, Dân Quyền là cái nôi xuất hiện những nhà văn mới, chống Cộng như Giang Hữu Tuyên, Vũ Kiện, Bắc Phong,... sau thêm Nguyễn Ngọc Ngạn, Võ Kỳ Ðiền, Nguyễn Văn Ba, Nguyễn Lương, Hồ Trường An, Tưởng Năng Tiến, Võ Hoàng, vv bên cạnh những nhà văn di tản đã từng hoạt động trước 1975 ở quê nhà. Những Lê Tất Ðiều, Võ Phiến, Thanh Nam, vv đã có những tác phẩm về cuộc đời mới và về cuộc chiến vừa "kết thúc". Các đề tài chính là đời sống lưu đ ày, hoài niệm, đối kháng, chiến tranh, vv với hai khuynh hướng một bên tục lụy, hoài niệm, một bên cáo trạng, phân biệt bạn thù..
Cao Tần xuất hiện lần đầu trên tờ Bút Lửa năm 1977, sau xuất bản trong Thơ Cao Tần (1985). Những hoài niệm ngày xưa, người cũ và những phẩn uất bi hùng về cuộc chiến:
Trong ví ta này chứng chỉ tại ngũ
Mất nước rồi còn hiệu lực hơi lâu
Chiều lưu lạc chợt thương tờ giấy cũ
Tái tê cười: Giờ gia hạn nơi đâu?
Mười tám tuổi thành công dân nước Việt
Tên chụp hình làm ta xấu như ma
Thằng khốn nạn làm sao mà nó biết
Ta sẽ thành dân mất nước tan nhà
Hai mươi tuổi ta đi làm chiến sĩ
Bước giày đinh lạng quạng một đời trai
Vừa đánh giặc vừa lừng khừng triết lý
Nhưng thằng này yêu nước chẳng thua ai...
Hỡi thằng chiến binh một đời dũng cảm
Mày lang thang đất lạ đến bao giờ
Ôi trong ví mỗi người dân mất nước
Còn một oan hồn mặt mũi ngu ngơ
Ôi trong trí mỗi anh hùng thuở trước
Còn dậy trời lên những buổi tung cờ"
(Cảm khái, 1977)
Sàn gác trọ những tâm hồn bão nổi
Những hào hùng uất hận gối lên nhau
Kẻ thức tỉnh ngu ngơ nhìn nắng mới
Ta làm gì cho hết nửa đời sau?...
Thêm một lần thứ sáu trắng đêm
Ðể hồn về một Sàigòn đang sống
Giờ đường đã đóng
Xin chia nhau ngày khốn khổ cùng em..."
(Chỗ Dấu Kho Tàng)
Lê Tất Ðiều với tập bút ký Ngưng Bắn Ngày Thứ 492 (1978), là nỗi phẩn uất trước những tàn bạo của chiến tranh, những cái chết phi lý: những nạn nhân là cả một gia đình gồm người mẹ đang mang thai và hai đứa con bị pháo kích chết trong khi ngủ. Những chi tiết bi đát: "Chú em báo tin nói đúng. Xác em tôi nguyên vẹn. Phải cám ơn chút lòng trắc ẩn cuối cùng của định mệnh hay cám ơn trái hỏa tiễn đã tha, không làm thêm công việc cắt xén thảm khốc". Ông viết chung với Võ Phiến tùy bút Ly Hương (1977) cuộc đời mới Kéo Cày Trên Ðất Mỹ.
Võ Phiến xuất bản Thư Gửi Bạn (1976), Ðất Nước Quê Hương, Lại Thư Gửi Bạn (1979) viết về đời sống lưu vong, không gian xa lạ. Truyện dài Nguyên Vẹn (1978) tả cuộc đời biến đổi từ trong nước ra nước ngoài, những tâm tình nhớ quê nhà, những người bạn mới cũ. Ðặc biệt truyện Chiếc Chìa Khóa (Tùy Bút 2) tả lại tâm tình hoảng hốt và hối hận với cha già và người nhà ở lại của một người ly hương.
Thanh Nam với tập Ðất Khách (1983) là nỗi lòng lưu xứ với những đổi thay quá triệt để do đó đau thương nhiều:
Chấp nhận hai đời trong một kiếp
Ðành cho dông bão phũ phàng đưa
Canh bạc chưa chơi mà hết vốn
Cờ còn nước đánh phải đành thua
Ðầu thai lần nữa trên trần thế
Kéo nốt trăm năm kiếp sống nhờ
Ðổi ngược họ tên cha mẹ đặt
Tập làm con trẻ nói ngu ngơ
Muốn rơi nước mắt khi tàn mộng
Nghĩ đắt vô cùng giá tự do
Vùi sâu dĩ vãng vào tro bụi
Thân phận không bằng đứa mãng phu
(Thơ Xuân Ðất Khách)
Người sống kiếp lưu đày sẽ héo tàn như xác thân người lính vừa thua trận: "... Giống như người lính vừa thua trận Nằm giữa sa trường nát gió mưa Nhắm mắt cố quên đời chiến sĩ Làm thân cây cỏ gục ven bờ"
Nhất Tuấn thì tự vấn:
Bỏ đơn vị, gia đình
Thoát thân bố chạy trước
Tên Trung tá đào binh
Cắm đầu giông khỏi nước
Làm thân cây bật gốc
Trong kiếp đời lưu vong
Tan hàng trong tủi nhục
Sống đây mà như không..."
(Mò Kim Ðáy Biển)
Minh Ðức Hoài Trinh là một trong những nhà văn vận động lập lại Văn Bút Việt Nam hải ngoại. Bà viết nhiều tác phẩm về một quê hương đã mất: Chiếm Lại Quê Hương (kịch thơ), Giòng Mưa Trích Lịch, Bà i Thơ Cho Quê Hương, Bên Ni Bên Tê, vv.
** GIAI-ÐOẠN 1981-1987:
Phải đợi đến những năm đầu của thập niên 1980, văn học ở ngoài nước khởi sắc ra, nhưng là một khởi sắc buồn thảm. Cộng đồng nhà văn Việt Nam tị nạn ngày một đông đảo hơn. Ðặc biệt các vị rời nước sau này, khi còn ở trong nước, họ đã có kinh nghiệm với cộng sản, đã là nạn nhân, đã nhìn thấy trò đời. Ðã vậy họ bị cấm viết, bị cầm tù vì hoặc với "tư cách" là văn nghệ sĩ hoặc công chức, đi lính cho chế độ Cộng hòa. Nay vượt biển đi chui hoặc đoàn tụ gia đình, tha hương, họ bắt đầu viết lại và bộ phận văn học chiến tranh do người Việt hải ngoại do đó sung tích, đa dạng hơn nữa. Các nhà văn của giai đoạn này mạnh thêm tư cách tị nạn chính trị. Nhưng viết về chiến tranh, đa phần là cay đắng, buồn tức, tức người lẫn ta. Những kinh qua đắng cay của trại cải tạo, của đời sống tối tăm sau 1975. Và nhất là ý chí chống cộng sản độc tài, những trì trệ không giải phóng được đất nước khỏi nghèo đói và chậm tiến.
Giai đoạn hai có Văn (7-1982), Văn Học Nghệ Thuật (bộ mới, 5-1985 sau đổi thành Văn Học), Làng Văn (1984). Thêm những nhà văn thơ thuyền nhân, có những nhà văn viết vì phẫn nộ như Nhật Tiến: "Tôi vẫn hằng quan niệm rằng thiên chức của người cầm bút là phản ảnh được môi trường xã hội mà họ đang sống, và đấu tranh cho những nguyện vọng tha thiết nhất của con người trong xã hội ấy được thể hiện. Môi trường xã hội hiện nay của người cầm bút là tình cảnh lưu vong mà họ đang sống, là anh em, bạn bè, đồng bào còn đang rên xiết ở quê nhà và những đồng bào tị nạn đang lây lất ở các trại tạm trú..." (34)
Cùng thời với Nhật Tiến có Nguyễn Ngọc Ngạn, Mai Thảo, Nguyễn Mộng Giác, vv. Sự kiện thuyền nhân (boat people) đã thật sự đánh thức phần nào lương tâm nhân loại trước đó đã đạo đức giả xem người Việt miền Nam như những kẻ thua trận không đặc sắc. Hơn thế nữa, những trò tuyên truyền của thế giới cộng sản và thiên tả chỉ có giá trị giai đoạn, khi hỏa mù chiến tranh lắng từ từ, con người ta mới nhận ra giả chân, những tự hối trong giới văn hóa Âu Mỹ như Jean-Paul Sartre, Olivier Tod\d, vv. Và tập thơ Tiếng Vọng Từ Ðáy Vực của Nguyễn Chí Thiện được xuất bản năm 1980 như một tiếng sét khác đ ánh động lương tâm con người và đánh tan những ảo tưởng về một thiên đàng cộng sản. Ông từ ngục tối nghe tin miền Nam rơi vào tay quỷ:
Vì ấu trĩ, thờ ơ, u tối
Vì muốn an thân, vì tiếc máu xương
Cả nước đã quay về một mối
-Một mối hận thù, một mối đau thương!
Hạnh phúc, niềm mơ, nhân phẩm, luân thường
Ðảng tới là tan nát cả!
Lịch sử sang trang, phũ phàng, tai họa
Nào đâu am ít có hồi ký. Sau 1975, hồi ký, bút ký là thể loại chiếm một phần quan trọng từ 1980 đến 1997. Ðây là nhân chứng của tấn bi kịch chung trong đó có cuốn có giá trị văn chương đặc biệt. Trần Huỳnh Châu là người đầu tiên xuất bản hồi ký cải tạo với Những Năm Cải Tạo Ở Bắc Việt (1981) kể lại chuyện tù đày, cải tạo của một công chức hành chánh của chế độ cộng hòa. Nhưng nhà văn d dánh mốc cho giai đoạn này là Hà Thúc Sinh với Ðại Học Máu (1985) - hơn 820 trang cáo trạng đanh thép chống chế độ lao tù với mỹ từ học tập cải tạo. Trong lời mở đầu, tác giả cho biết đây là "bản phúc trình của người lính Việt Nam cộng hòa bị bỏ rơi, bị ở tù cộng sản, rồi thoát được ra ngoài, ngồi viết lại để kính gửi tới những ai còn thương yêu và còn quan tâm đến nước Việt Nam và con người Việt Nam còn ở lại" (Tựa). Chuyện người lính tên Vĩnh nhập cuộc chiến, thua những kẻ không đáng thắng, anh bị khổ nhục nhưng vẫn tự tin và bất khuất. Sau đó ông xuất bản truyện dài Hai Chị Em Lan và Trực vượt biển, trôi giạt vào một hòn đảo hoang nhưng kết thúc tuyệt vọng vì hai chị em chỉ mong giữ được một ngọn khói với hy vọng được cứu mà cũng không được: người em đi tìm củi đã không trở lại ! Sau sững sốt của Ðại Học Máu là hồi ký của những sĩ quan tâm lý chiến như Phạm Quang Khai với Trại Cải Tạo, Cai Tù Việt cộng, Tạ Tỵ với Ðáy Ðịa Ngục (198 ) trần gian nơi các trại cải tạo từ Nam ra Bắc cũng như Thép Ðen của Ðặng Chí Bình.
Lê Văn Phúc viết Tôi Làm Tôi Mất Nước (1984) để tự trách và phúng thích những kẻ có trách nhiệm mà không hành xử cái trách nhiệm của mình; nạn nhân thủ phạm là mỗi người ! Thấy ai cũng viết sách đô ? lỗi cho người khác, ông kể tội mình đã làm những việc góp phần làm mất nước. Cao Xuân Huy với Tháng Ba Gãy Súng (1986) chuyện mất nước với kinh qua của chính tác giả khi Huế rơi vào tay cộng sản Hà Nội. Anh trung úy Thủy Quân Lục Chiến không có ý làm người hùng, đi lính vì phải đi, như mọi người; đi lính vì tuổi trẻ và chống cộng vì mọi người chống cộng. Nhưng đánh giặc tận tình và sống vì d anh dự, hết mình với đồng đội.
Người có quyền hành mà không có trách nhiệm nào có khác gì kẻ phản bội. Chúng ta thua không phải vì kẻ địch mạnh mà vì trong hàng ngũ chúng ta có quá nhiều kẻ phản bội và hèn nhát." Ông viết vì "lòng thù hận sự hèn nhát và vô trách nhiệm của cấp chỉ huy", "một đại tá Lữ đoàn trưởng và trung tá lữ đoàn phó bỏ lữ đoàn gồm bốn tiểu đoàn tác chiến và các đơn vị phụ thuộc tổng cộng vào khoản g trên dưới bốn ngàn người trong cơn quẫn bách để chạy lấy thân..." lên chiếc tàu cuối cùng, để đám tàn binh bị cộng sản rỉa và bắt giữ sau đó. "Ngày 26 tháng 3 là ngày cả một Lữ đoàn TQLC bị khoảng một đại đội du kích Việt cộng bắt sống. Chuyện không bao giờ tin được đã xảy ra" Những chuyện thí lính, chiến đấu với súng không đạn, bằng mồm. Những dã man, thú tính; tình chiến hữu bị thử thách khi tàu hết chỗ. Những cảnh tự xử bi hùng:
Bây giờ họ không tự tử từng người, từng cá nhân mà họ tự tử tập thể. Không rủ, không hè đi nữa họ cũng không thể nhận ra nhau trước khi cùng chết với nhau một lúc. Dòng người chúng tôi đang chạy, một người tách ra ngồi lại trên cát, một người khác cũng tách giòng người ra ngồi chung, người thứ ba, người thứ tư, người thứ năm nhập bọn, họ ngồi tụm với nhau thành một vòng tròn nhỏ, một quả lựu đạn nổ bung ở giữa. Giòng người chúng tôi tiếp tục chạy, lại một người tách ra ngồi trên cát, lại người thứ hai, người thứ ba, người thứ tư,... nhập bọn, lại tụm với nhau thành một vòng tròn nhỏ, lại một quả lựu đạn nổ bung ở giữa. ... Tôi không thể nhớ để mà đếm nổi là có bao nhiêu quả lựu đạn đã nổ giữa những vòng tròn người như vậy. Nhiều, thật nhiều quả lựu đạn đã nổ..."
Những cử chỉ anh hùng dù trong cơn mạt vận: "... - Bọn này ngoan cố, không hàng, chúng ông bắn bỏ mẹ. Nhiều tiếng nói trong chúng tôi vang lên. - Bị bắt là tù binh, giơ tay hàng tụi nó coi mình là hàng binh. Không giơ tay! Nhất loạt chúng tôi không ai giơ tay, chỉ nối đuôi nhau thành một hàng dọc đi tới. Ðang đi một hàng dọc như vậy, một người tách ra khỏi hàng, chạy ào ra ôm cứng một tên Việt cộng. Tiếng lựu đạn nổ, cả hai ngã vật ra chết. Một người khác lại chạy ào ra ôm cứng một tên Việt cộng khác, lại một tiếng lựu đạn nổ, lại cả hai ngã bật ra chết..." Việt cộng sợ chết sẽ bắt tất cả cởi hết quần áo. Lại một đấu trí bi hùng khác !
Nguyễn Ðức Lập trong Cuộc Chiến Tàn Chưa ? (1987) vẽ lên cái cuộc chiến sau 1975 tiếp tục trong lòng người, trong xã hội "lục tỉnh" với những nhiễu nhương do những người chủ mới gây ra. Người dân thư ờng của miền Nam dù muốn dù không vẫn bị đứng về phía thua trận, bị tàn tệ đã đành, mà những người từng chiến đấu bên cạnh kẻ chiến thắng, những bà mẹ có con hy sinh trong bưng biền cho chiến tranh "thần thánh" đó cũng bị đối xử táng tận lương tâm như thường. Người chiến thắng hưởng thụ như Sáu Vịnh đã thú với đồng chí quá... sạch sau mấy tháng không gặp "Sáu Vịnh đã thay đổi một trời một vực. Bộ mặt ốm đói, đen mét như đất sình của lão đã biến đâu mất. Thay vào là một khuôn mặt phì nộn, hồng hào. Lão bận một bộ quần áo may bằng một loại vải ngoại quốc đắt tiền":
ÐM thương anh chừng nào, tui càng giận tụi nó chừng nấy. Anh hổng thấy đó sao? Từ ngày đất nước hoàn toàn được giải phóng, thằng nào cũng vơ vét hết. Vì quyền lợi, thằng này lo tìm cách hạ gục thằng kia. Thằng thì giành nhà, thằng thì giành đất. Ðâu có được mấy người giữ được tinh thần "cần, kiệm, liêm chính" như anh. Không mất phẩm chất thì cũng bị hũ hóa cả lũ. Mà rồi tốt như anh thì được cái gì. Anh bị tụi nó đá như đá banh... trời ơi, ba mươi mấy, bốn mươi mấy tuổi đảng mà để cho một thằng con nít sai lên, sai xuống... (...) Nói ra anh đừng buồn, tui mà hổng tham nhũng, móc ngoặc, tiền đâu mà lo bịnh cho anh, tiền đâu mà lo đám cưới cho thằng Hai?"
(Thực Tế Phủ Phàng)
Nhưng Nguyễn Mộng Giác là nhà văn đầu tiên gây tranh luận chính trị (quốc-cộng) nhiều hơn là văn học về tác phẩm khi ông bắt đầu xuất bản bộ tiểu thuyết Mùa Biển Ðộng ( 5 tập, 1984-89, 1816 trang) vi ết về 17 năm chiến tranh vừa xong. Cuốn đầu của MBÐ vừa xuất bản đã gây tranh luận ngay trong cộng đồng người Việt tị nạn ở hải ngoại. Tác giả MBÐ đã viết lên những sự thực tư duy của một người trí thức đã có dịp nhìn thấy, đã phải chịu đựng, cái nhìn tổng quan và lịch sử. Trường thiên kể lại 17 năm chiến tranh (1963-1981), tranh chấp chính trị, những lãnh tụ quân cờ mang họa cho dân tộc: cả hai phía quốc-cộng đều làm chiến tranh ủy nhiệm thay vì tự quyết tự chủ vì quyền lợi đất nước.. Một bên nhân danh chiến tranh "thần thánh" chống Mỹ để biện hộ cho những tội ác Tết Mậu Thân 196 8 ở Huế:
Phải rồi! Người ta giết người an nhiên, dễ dàng còn hơn dẫm lên một ngọn cỏ, vì người ta được niềm tin che chở. (...) Kẻ đầu tiên khải thị một niềm tin gao giờ cũng chính người đồng thời mie ^.t thị như một kẻ điên khùng làm rối loạn trật tự (...) Rồi đến cái thời kẻ đó trở thành một bí nhiệm đủ sức xoa dịu những vết thương. Người điên và kẻ tử tội trở thành thần linh. Cho tới lúc những tên buôn thần bán thánh tìm được cơ hội tốt để bày tỏ món hàng giả hiệu đông như kiến giữa số ít những á thánh chân chính. Ðủ loại sấm ký ra đời, và từ đây kẻ giết người không giấ u bàn tay hoen máu đi mà kiêu hãnh chùi bàn tay máu ấy lên ngực áo mình như một thứ huân chương. Cái thời đó mình đang sống đây. Những tên sát nhân tân thời đó, mình đang gần gũi. Họ giết chừng ấy người một cách thông minh, không hại sức. Xong việc thì an nhiên hút thuốc. Ngủ một giấc ngon lành, ăn một bữa cơm nóng, mọi sự coi như vẫn bình thường. Kinh khủng quá ! (tr, 723- 724)
Ðêm nào toán công tác "thanh lọc" của Ngô cũng làm việc tới khuya, công việc lại thường căng thẳng như trò mèo vờn chuột. Ngô phải ngồi đó chứng kiến cảnh Thuấn dùng mưu mẹo bắt bẻ, khi dọa dẫm trắn g trợn (...) Nhìn cảnh một cậu thanh niên non choẹt nạt nộ những người đáng tuổi cha chú mình, rồi nhìn phản ứng bạc nhược hãi hùng của các nạn nhân, Ngô chua chát nhận ra sự tàn bạo của lịch sử, sự mo ng manh của ý chí, và dù không dám nói ra, chàng ác cảm, thù ghét tất cả cái khung triết lý đồ sộ biện minh cho bấy nhiêu sự hỗn láo, đanh ác" (tr. 654).
Nhiều nhân vật trong truyện xông xáo kiếm tìm hạnh phúc nhưng tất cả đều rơi vào ảo ảnh, vô vọng. Kẻ theo Cộng như Tường trở thành công cụ "sẽ chết dần mòn vì cô đơn" (tr. 1818), như Mười Chí cuối cùng cũng phải vượt biển - "hồi trước nó hăm hở vì nghĩ mình là người hùng. Bây giờ thấy đàn áp bất công mà không dám hở môi, nó tự thấy mình hèn. Dù ở đây hay trốn đi, hèn vẫn là hèn. Tâm trạn g chung của tụi tranh đấu hồi trước đều như vậy" (tr. 1816). Kẻ đi lính quốc gia như Ngữ. Có những cái chết anh hùng như đại úy Thường chống cộng chết vì đạn Việt cộng. Một cuộc chiến buồn thảm, không tương lai vì hai phía đều lệ thuộc người ngoài, thiếu lý tưởng khách quan, thiếu yếu tố dân tộc. Sau "cách mạng" và chạy đua theo quyền lực là tỉnh mộng. Sau các biến động là những hối tiếc, là những tính toán thực tế hơn: vào Sài Gòn, Quy Nhơn hoặc vượt biển. Cuối truyện, tác giả như thiên về đấu tranh trong nước: trung tá Thành trốn ngục và ở lại, cũng như mu ốn hướng thông điệp cho thế hệ tương lai: hai trẻ nhỏ, bé Bình ở lại, bé Thuận ra hải ngoại. Tâm sự của Ngữ kẻ phải ra đi vì không còn chổ đứng trong xã hội mới: "Không có cuộc ra đi nào là giải thoát cả. Ra đi là đứt ruột, là cái cây bị bật gốc ra khỏi lòng đất. Người ta chỉ bỏ nước ra đi vì chẳng còn cách nào khác. Ở đây họ không được quyền sống. Họ k hông có ngày mai. Họ sống trên quê hương mà bẽ bàng lơ láo như sống tha hương..." (tr. 1829). Ở đây tác giả như nhắc nhở đấu tranh nếu còn hãy vì dân tộc trên hết mới tránh được thảm kịch đã qua. T ác giả viết bộ trường thiên vào lúc tâm hồn có những xúc động xâu xa: mất nước, vượt biển, xa gia đình, hải ngoại chống cộng cực đoan mạnh. Nếu MBÐ được viết vào giữa thập niên 90, tác giả sẽ vẫn viết với những tha thiết và phê phán chân thành đó nhưng có thể đánh động tâm hồn người đọc, cảm hóa con người ở cả hai phía hơn, do đó sẽ thuyết phục sắc bén hơn vì can đảm tinh thần tác gi ả không thiếu. Sự thực bao giờ cũng khó nói, những người đã lựa chọn nói cái khó có Nguyễn Khắc Ngữ (Những Ngày Cuối Cùng Của Việt Nam Cộng Hòa, 1979), Cao Xuân Huy, Hoàng Khởi Phong, Trần Hoài Thư, Dương Thu Hương, Tiêu Dao Bảo Cự, Bảo Ninh...
Một số truyện khác của Nguyễn Mộng Giác như hai tập Ngựa Nản Chân Bon (1984), Xuôi Dòng (1987) đề cập đến những mảnh đời trong và sau cuộc chiến với những bế tắc, trái ngang của những nhà trí thức, sĩ quan ngụy và cả người bên kia chiến tuyến. Rồi cuộc đời mới ở xứ người cũng không hạnh phúc gì !
Nhật Tiến là nhà văn thứ nhì gây phãn ứng chính trị khi ông xuất bản Mồ Hôi Của Ðá (1988) và đăng báo truyện Gặp Gỡ Cuối Năm: người anh đại tá Việt cộng đòi thăm em đang bị cải tạo, người em khô ng chịu tiếp. Trong Mồ Hôi Của Ðá, qua chuyện của những người ở trong nước như Nguyệt, Toàn, Hoàng, ông Năm Tỏa... ông đề nghị đối thoại và tìm hiểu trong tinh thần nhân bản và dân tộc, để xây dự ng lại quê hương. Ông nói đến con người, dân tộc, muốn không phân biệt nữa. Cuộc chiến mới ông muốn đề ra là cuộc chiến giữa nhân bản và phi nhân, giữa lẽ phải và sai quấy và giữa dân tộc và phi dân tộc. Tập Tiếng Kèn (1982) là bức tranh sống động về cuộc đổi đời của miền Nam. Những đối xử dã man, không nhân tính với đồng loại. Ðến Một Thời Ðang Qua (1985) gồm hai phần quê người số ng hối hả máy móc với những va chạm văn hóa, những người mẹ già lạc lõng ngay trong gia đình mình, trong khi quê nhà giữa bao thảm kịch, sĩ quan bộ đội hủ hóa, tình cờ vẫn có người thủ trưởng công an biết nói cám ơn. Trong tập truyện này, Nhật Tiến đi bước đầu trong việc tìm hiểu và viết về con người ở miền Bắc và những người ở miền Nam sau 1975 như những con người "ruột thịt". Văn ông hiền l ành nhưng ông đã nói đến những khúc mắc của con người cùng là nạn nhân của chiến tranh, ông luôn khẳng định sự thất bại của cộng sản muốn tiêu diệt nhân tính nơi con người. Trong tập Cánh Cửa (1987 ), ông đi xa hơn, cho Trường, một người tù cải tạo thuyết phục, cải tạo lại tên cộng sản công an có trách nhiệm cải tạo chàng. Không chống Cộng như trước bằng chống cộng, nhưng bằng ý thức mới của ti `nh thế mới của dân tộc.
Duyên Anh là nhà văn thứ ba gây tranh luận, nhưng trong trường hợp ông, nghi vấn hãy còn cho tới khi ông qua đời (6-2-1997), trước đó ông bị đả thương thành tật nguyền. Khi ra ngoài nước, ông viết nhiều v ề chiến tranh: Một Người Nga Ở Sài Gòn (1986) kể chuyện một người Nga muốn trả nợ cho nuớc mình, đế quốc Liên Sô; Sỏi Ðá Ngậm Ngùi (1985) viết về những người đàn bà trong tù cộng sản; Bầy Sư Tử Lãng Mạn (1986) về 28 người tuổi trẻ sau 1975, trong hầm đá trại Ðầm Ðùn. Cuốn Ðồi Fanta có dư luận coi là có tinh thần "thỏa hiệp" (!) và hai cuốn hồi ký Nhìn Lại Những Bến Bờ và Sài Gòn Ngày Dà i Nhất có thể chuốc thêm oán. Ông có tập Thơ Tù (1984) và Em Tôi Sài Gòn Và Paris (1989), có những bài thơ căm hận:
Sài Gòn khăn sô
Mùa Xuân tím tái
Lưỡi lê đàng ngoài thù hận đàng trong
Chim hạc hồng tiếp tục trốn mùa Ðông
Chả thấy Hoàng Diệu nào tuẫn tiết
Anh chỉ thấy bọn tướng hèn khốn kiếp
Lột xé chiến bào, phi tang tích huân chương
Ðứa tham sinh rời lủi quê hương
Ðứa úy tử gục đầu chịu trói...
(1979, Thơ Tù 3)
Võ Kỳ Ðiền với tập Kẻ Ðưa Ðường (1986) muốn nói lên tiếng nói chống độc tài, ngu xuẩn (Lời tựa). Phần lớn là những chuyện sau 1975 qua các nhân vật quê mùa nhưng tinh thần chống áp bức lộ rõ nhu + bác Năm hớt tóc, ông Bảy thợ rèn, chú Bảy Cò, qua các cán bộ từ rừng ra từ Bắc vào tiếp thu trường học, cơ sở, "tiếp thu" cả con chó của Ty giáo dục, chuyện trả thù cán bộ, "sửa lưng" cán bộ quá th uộc tuyên truyền - những bức tranh bi hài về con người, xã hội. Chuyện một anh học trò cũ vô bưng nay trở về tiếp thu ngôi trường cũ, sau bị một cán bộ từ Bắc có tuổi đảng vào thay thế. Ông thầy an ủi: Ðừng mong làm hoa hướng dương, suốt ngày ngước mắt nhìn mặt trời hoài mỏi cổ lắm. Cũng đừng thèm làm đá xanh cứ phải lót đường cho người ta đi. Em phải nhớ một điều, vì lý tưởng cao cả, chúng ta có thể chấp nhận hy sinh thân xác để bón lúa, chớ đừng bao giờ dùng nó làm phân để bón cho thứ cỏ dại sinh sôi nẩy nở..." (Ðá Hoa Cương). Sau ông có truyện dài Pulau Bidong, Miền Ðất Lạ (1992) tả cuộc ra đi đầy bất trắc và lưu đày của những người bình thường không thể sống chung với cộng sản.
Hai người lính cộng hòa khi vượt thoát khỏi Việt Nam vẫn tiếp tục chống Cộng bằng chính máu xương mình là Tưởng Năng Tiến và Võ Hoàng. Hai ông đã xuất bản chung hai tập truyện Ðất Lạ, Măng Ðầu Mùa (1982) và làm chung tờ Nhân Văn. Tưởng Năng Tiến có những truyện viết về người cải tạo như "những cái lon ghi-gô". Võ Hoàng Trong Lòng Cách Mạng (1983), Góc Bể Chân Trời (1983). Cùng khuynh hướng có nhà thơ Bắc Phong với tập Chính Ca (1986) và nhà văn Trùng Dương qua những sáng tác trên tờ Kháng Chiến.
Xuân Vũ tiếp tục lột trần sự thật về những tên đồ tể chiến tranh, trong giới văn nghệ và lãnh đạo, những cảnh chiến trường, thí người, từ đường mòn HCM vô Nam, những chặng đường oan nghiệt mà mỗi tấc đã phũ xương trắng nhuộm máu tươi của hàng triệu thanh thiếu niên trong số có những người vì lý tưởng mà bị oan khiên, những tranh chấp tư tưởng, giai cấp, những kỳ thị, trong bộ hồi ký D Dường Ði Không Ðến (xuất bản ở ngoài nước tập 2 đến 5, từ 1989). Ngoài ra ông còn là tác giả Con Người Vốn Quý Nhất (1989), Ðỏ và Vàng (1990),v.v...
Nguyễn Tấn Hưng viết rất nhiều về một miền Nam trong cuộc chiến với những cuộc tình tuổi trẻ, những lối sống "vườn" và thủ đô. Những xáo trộn, chiến tranh, đi lính, những chuyến về phép bay bướm. Một Thuở Làm "Trùm", Một Chuyến Ra Khơi là chuyện đời lính. Một Trời Một Biển (1993) chuyện sinh viên sĩ quan hải quân ở Nha Trang, những chuyện tình và phiêu lưu tình cảm.
Nguyễn Bá Trạc với Ngọn Cỏ Bồng (1986) rồi Chuyện Của Một Người Di Cư Nhức Ðầu Vừa Phải (1993) muốn vượt những thành kiến chính trị trong những nhận xét, lo toan của tác giả về dân tộc và tập thể người Việt ở hải ngoại.
Nguyễn Ngọc Ngạn xuất bản The Will of Heaven (1982), Truyện Ngắn NNN (1982), Biển Vẫn Ðợi Chờ (1984), Nước Ðục, Chính Khách, vv, Màu Cỏ Úa (1986) vẻ lại xã hội cộng sản miền Bắc thời đầu chiến tranh: xã Xu ân Thành, công giáo, có cô gái tên Hợp con gia đình có "nợ máu với nhân dân", có Quảng, anh cán bộ tàn bạo xen cản tình yêu Hợp với Thụ. Quảng hiếp Hợp. Nhưng trong một xã hội bưng bít và chính trị hoá như miền Bắc, nạn nhân Hợp bị người yêu Thụ nghi ngờ, trong khi Quảng cán bộ hủ hóa vẫn được Thụ coi là đại diện chân chính và là hình ảnh của "bác", người "yêu nước" chân chính. Trên Lối Mòn Hậu C hiến (1990) kể chuyện người cộng sản hăng say "chiến thắng" rơi vào sa lầy của những tham vọng mới ở Ðông dương. Ông chống cộng và có tài tiểu thuyết hóa cũng như châm biếm khiến đọc ông không thể lầm với những nhà văn trong nước như Chu Văn, Nguyễn Khắc Trường về cùng một đề tài và không gian chung. Nước Ðục và Chính Khách là chuyện dài người Việt hải ngoại. Một cộng đồng có những kẻ ăn không ngồi rồi giành nhau chức hão, những chuyện chụp mũ, chim vợ bạn,... một xã hội bị nhiễm độc bởi cuộc chiến vừa qua và cái độc ăn ra đến hải ngoại.
Về hậu quả của chiến tranh tức đời sống lưu vong, những khắc khoải người đi người ở lại và những hoài niệm quê xưa, trong các tác phẩm của Nguyễn Văn Sâm (Câu Hò Vân Tiên, 1984, Ngày Tháng Bồng Bề nh, 1987), -Hồ Trường An (Tạp Chủng, v.v...), Hồ Ðình Nghiêm, Phạm Quốc Bảo (Cõi Mộng Du, 2 tập, 1984-85, Gọi Bình Minh 1989, Dâu Bể 1989), Phan Thị Trọng Tuyến (Mùa Hè Ở Một Nơi Khác), Nguyễn Thị Hoàng Bắc (Long Lanh hạt Bụi), Nguyễn Thị Thanh Bình (Ở Ðời Sống Này, Cuối Ðêm Dài,1993), Trần Diệu Hằng (Vũ Ðiệu Của Loài Công), Nguyễn Xuân Quang (Những Mảnh Ðời Tị Nạn), v.v.
Về thơ, Du Tử Lê lo xa:
Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển
đời lưu vong không cả một nấm mồ
vùi đất lạ thịt xương e khó rã
hồn không đi sao trở lại quê nhà
Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển
Nước ngược dòng sẽ đẩy xác tôi đi
bên kia biển là quê hương tôi đó
rặng tre xưa muôn tuổi vẫn xanh rì..."
(Khi Tôi Chết Hãy Ðem Tôi Ra Biển)
vì người thua trận tâm sự nào vui:
Ðạn bom ngốn mất đời trai trẻ
cải tạo khơi khơi năm mười niên
ra tù mất vợ, con quay mặt
cười gượng ra điều ta vẫn... ngon
Nhìn nhau chợt thấy ra sông núi
có chút gì nghe rất thốn đau
hẹn bay về chết trong tay mẹ
tổ quốc nghìn năm bỏ được sao ?
(1991, Nhìn Nhau Chợt Thấy Ra Sông Núi)
Luân Hoán có những bài làm khi còn ở trong nước trong tập Hơi Thở Việt Nam (xuất bản ở hải ngoại 1986) kể chuyện thân thế và học tập:
ông bà tôi đã chết
cha mẹ đã làm ma
tôi chừ cũng đã chết
tất cả đều Quốc gia
rồi thì tôi đi lính
đuổi giặc chạy dài dài
tiếc rằng chưa giết hết
lũ khát máu độc tài
rồi thì cách mạng bắt
một hai bảo tôi khai
tôi khai hoài khai mãi
tôi khai mãi khai hoài
lý lịch tôi từ đó
đâm ra thành truyện dài
mai sau in thành sách
may ra thành thiên tài
xin cảm ơn cách mạng
tôi nguyện cầm bút hoài...
Thái Tú Hạp, tác giả Chim Quyên Lạc Ðàn (1982) và Miền Yêu Dấu Phương Ðông (1987): Trên dốc đèo đá dựng bà mẹ già thăm nuôi qua trại tù im vắng đứa con mẹ về đâu? Trên những cánh rừng sâu người vợ hiền qua trại nắng chiều đọng bờ lau ngậm ngùi như chiếc lá Trên hàng sắn mộ xanh xác người tù rã mục mắt em bé long lanh nuốt hờn căm sôi sục... Tiếng lau buồn thiên thu bên mồ hoang hiu hắt cõi hư vô về đâu? người tù binh tự sát.. (Người Tù Binh Dũng Liệt)
Nguyễn Tất Nhiên nhà thơ tình yêu nay trong hoàn cảnh chung có những bài viết về thân phận tù cải tạo:
Ta lê lết qua từng giờ nhừ tử
ngày bức hơi, đêm tra tấn tinh thần
bốn thước vuông ngọ nguậy hai mươi thằng
bị đe bẹp, dĩ nhiên, con thú đẹt!
Bạn tù ơi vô tình bây ác nghiệt
cơm thăm nuôi ta liếc trộm chực thầm
bây ăn rơi ăn rớt, dửng dưng
lại nói dóc: bo bo ngon hơn gạo!
Ta nhẫn nhục qua từng giờ tàn bạo
chứng kiến thân nhân, cha mẹ trần truồng
chứng kiến nạn nhân sợ chết cuống cuồng
trước họng súng lạnh lùng, tùy tiện!...
(Ðiều Muốn Khuyên Nhau)
còn tiếp...
Nguyễn Vy-Khanh
THÁNG NĂM PHƯỢNG TÍM
Tháng 5 chầm chậm đến như chút nắng và chút gió dịu dàng của mùa xuân của California. Ai bảo California ồn ào và đầy khói xe riêng Dao vẫn có một khoảng trời rất trong và nhẹ với những chiếc hoa mong manh màu tím nhạt mà Dao thường gọi là "phượng tím" trên quãng đường gần nhà Dao và trong sân trường Pasadena Community College. Màu hoa mong manh như những bâng khuâng tưởng chừng rồi sẽ tan nhanh theo gió và nắng khi mùa hè đi qua nhưng màu tím man mác của một mùa hạ trong, một thời sách vở vẫn lẫn quất đâu đó trong lòng Dao khi thời gian mười năm thoáng qua như một giấc mơ.
Dao ngày đó là cô học trò mới còn rụt rè bước vào ngôi trường đầu tiên ở Hoa Kỳ để làm quen với lối giảng bài chớp nhoáng của mấy vị giáo sư cũng như thức ăn Hamburger, Purito, Taco lạ hoắc với khẩu vị của Daọ Hôm đầu tiên lấy một lớp về điện toán, Dao đã chóang váng mặt mày vì một lô bài tập với những từ chuyên môn khó khăn cứng ngắc như bánh mì bỏ quên trong tủ lạnh lâu ngày. Có người khuyên Dao nên tìm một thầy kèm để làm quen với môn học mà Dao có ý định chọn làm nghề tương lai của mình. Ôi cái lớp FORTRAN cổ lổ sĩ này biết tìm ai bây giờ. Cúc, nhỏ bạn Dao vừa mới làm quen ở cafeteria khi Cúc biết Dao vừa từ Việt Nam đến cứ khuyên Dao vào văn phòng EOP của trường (*) mà tìm thế nào cũng có lắm người đang cần học trò để đủ tiền mua sách vở cho mùa tới. Là học trò chắc ai cũng nghèo như Dao cả, vừa là giúp mình vừa giúp người nên Dao dù ngần ngại cũng bước vào văn phòng EOP. Người thư ký bảo Dao chờ đợi vì chưa có thầy kèm nào chịu ghi danh cho môn học Fortran này cầ May mắn không phải chờ đợi lâu, chỉ độ một tuần sau Dao đã được gọi vào để nhận thầy kèm. Ngày ra mắt ông thầy kèm, Dao ăn mặc chỉnh tề hơn mọi ngày, váy xanh ca rô màu thanh thiên và aó lụa trắng thay vì chiếc quần jean xanh bạc màu, áo thun đơn sơ và đôi giày tennis cũ kỹ. Nhìn Dao giống như các học sinh mặc đồng phục Cúc phải bật cười "làm cái gì mà trịnh trọng thế". Tính Dao bao giờ cũng vậy, ngăn nắp, lễ phép, đàng hoàng. Một chữ cũng thầy, nửa chữ cũng thầy huống hồ cả một khoá học dài trước mặt. Dao bước vào khu học tập, ông thầy đang bận rộn giúp các học sinh đến hỏi bài bên trong chưa thấy xuất hiện. Dao càng hồi hộp ngồi ở hàng ghế chờ đợi thôi nhìn mông lung ra ngoài hàng phượng tím phía bên kia khung cửa kính. Mãi một lúc lâu một người thanh niên dáng gầy gầy, quần jean và áo thun như những học sinh khác với cặp mắt kiếng trắng còn lấm tấm bụi phấn bước ra ngoài nhìn quanh quất. Người thanh niên mà Dao đoán là ông thầy kèm nhìn thấy Dao ngồi khép nép một góc, như biết Dao là cô học tròn đến trình diện ngày hôm nay, tươi ngay nét mặt còn đượm vẻ mệt mỏi có lẽ vì thức khuya học bài:
"Xin lỗi đã phiền cô chờ lâu. Cô là Tiểu Dao? Tôi là Quân. Tôi nghe Cúc nhắc về Dao hoài".
Lạ thật, ông thầy hình như đã biết Dao từ lâu lắm. Dao ngồi ngay ngắn lễ phép trả lời từng câu hỏi của ông thầy:
"Tại sao cô chọn ngành computer science."
"Dạ. có người bạn dạy Dao chơi game nên Dao thích."
"Ðơn giản vậy à! cô có biết là nghành này khó khăn lắm không, đòi hỏi giỏi toán nữa đấy."
"Dạ! Dao học xong lớp toán 12 ở Việt Nam rồi."
"Cô có lấy test về toán chưa?"
"Dạ, rồi ạ."
"Bao nhiêu điểm?"
Một chút ngượng ngập, Dao biết là mình đang đỏ mặt:
"Dạ, 20/40..."
"Trời đất !!!như vậy thì làm sao học được."
"Dạ, tại vì Dao chưa quen với mấy từ vựng nên làm chậm đó thôi chứ Dao giải được 21 câu mà chỉ sai một câu."
"Vậy thì... trường xếp cho cô học lớp toán nào."
"Dạ algebra 1."
Ông thầy thở ra:
"Ít nhất là calculus, toán giải tích đó cô ạ, rồi còn nhiều các lớp toán cao hơn như linear algebra, matrices, transitional mathematical notations, probabilities, vật lý và có cả các lớp điện nữa. v.v..."
Ông thầy ngừng lại một chút dường như nghỉ mệt rồi tiếp tục:
"Chăm lắm đấy, cô còn muốn theo đuổi không..."
Một thoáng im lặng, có lẽ vì chưa nhìn thấy được "viễn ảnh đen tối" khi làm học trò ngành Computer Science như ông thầy đã phát họa, Dao bặm môi cương quyết gật đầu:
"Dạ!"
"Thôi tuỳ cô, bây giờ tôi sẽ dạy cho cô mỗi tuần một giờ vào thứ bảy nhê Nếu cần thì tôi sẽ xin thêm giờ dạy cho cô. Bữa nay chỉ học phần giới thiệu sơ lược."
Dao vui vẻ mỉm cười khi nghĩ đến mấy bài tập hóc buá đang chờ đợi. Ông thầy vẽ trên bảng cái khung của computer với CPU, ALU, mấy cái memory box và registers bên trong. Dao mở mắt to, nghe thật chăm chú, ghi chép cẩn thận, ông thầy sợ Dao không hiểu cứ tô đi tô lại hoài cái khung của computer, Dao cũng tô đi tô lại đậm nét trên trang vở, trong trí nhớ. Ðêm đến, giấc mơ của Dao đầy những data bus và registers. Vài tuần trôi qua Dao vẫn vất vả với những bài tập xem ra những lời giảng của ông thầy kèm chẳng giúp được bao nhiêu nên trong giờ học hay trong văn phòng của ông giáo sư Mỹ Dao cứ hỏi đủ loại câu hỏi lắm khi ngớ ngẫn đến độ ông giáo sư và các bạn học cũng quen cả tên lẫn mặt. Ông thầy kèm còn giúp cho Dao có thêm can đảm hỏi những câu hỏi mà dường như các bạn khác đều am hiểu bằng một câu nói của một danh nhân nào đó "Không có câu hỏi nào là ngu ngốc" cả.
Mùa hè sắp đến khi khoá học mùa xuân trôi nhanh như làn mây ngoài cửa sổ. Dao mỗi thứ bảy vẫn đến trường gặp ông thầy kèm như thường lệ mặc dù daọ về sau ông hay nói những chuyện không dính dáng gì đến FORTRAN. Thỉnh thoảng Dao lại bắt gặp những tờ giấy ngắn ngủi viết bằng tiếng Anh với nét chữ ngang bướng của ông thầy bỏ quên trong quyển sách Boolean Algebra cũ kỹ mà Dao thường đọc trong thư viện. Dao hiểu một cách đại khái: "Những quyển sách trong thư viện này dẫu thinh lặng nhưng vẫn có muôn vàn âm vang. Những đam mê thầm lặng nào rồi cũng lên tiếng để cỏ cây rung động. Bạn đã có bao giờ lao đầu một đam mê nào chưa? Thật kỳ lạ, bạn có cảm thấy một nỗi đau hay hụt hẫng nào đó nếu khi nhìn thấy nỗi đam mê của bạn chỉ là một viên sỏi nhỏ chìm vào một đại dương bao la, mất hút, không có lấy một gợn sóng".
Dao ngày đó bận rộn với bài thi với sách vở nên cho rằng đó là sự nhạy cảm của ông thầy kèm khi đọc một đoạn văn tuyệt vời nào đó nên quên bẳng đi chẳng hỏi han ông thầy về đại dương vô tình ấy. Hoặc có khi ông thầy còn khó hiểu hơn:
"Này Dao, nếu có một vòng tròn trò chơi mà Dao vẽ ra, một người đã bước một chân vào ngập ngừng, Dao nên bảo người đó phải làm sao?"
Dao vẫn đơn giản như bao giờ:
"Dao sẽ không vẽ nhưng vòng tròn như vậy mà nếu có thì người đó cứ coi như không có và cứ bước hẳn ra là xong chuyện."
Ông thầy bỗng hình như giận dỗi, bỏ đi, nhưng Dao chẳng hiểu vì đâu. Buổi chiều ông thầy lại đến gặp Dao ở thư viện:
"Dao ạ, tôi... không thể dạy Dao tuần tới nữa..."
"Anh bận sao? Như vậy cũng được. Sắp thi rồi nên Dao cũng bận lắm."
Mùa học sắp kết thúc, buổi học thứ bảy cuối cùng với ông thầy kèm cũng trôi qua khi Dao quyết định ở nhà thu dọn căn phòng bề bộn của mình và giúp mẹ chăm sóc các cây cảnh. Một tiếng chuông điện thoại reo vang, giọng ông thầy ở đầu dây nghe như xa vắng:
"Tôi nói chơi mà Dao không đến học thật sao?"
"Dao bận qúa mà cũng sắp hết niên khoá rồi không muốn làm phiền anh..."
"Dao cứ lên đi."
"Dao lười quá"
"Dao không lên tôi sẽ...khóc..."
Dao lúng túng nên bật cười khe khẽ:
"Anh nói chơi hòai, Dao đang bận một chút."
"Dao không đến tôi vẫn cứ đợi đấy."
Dao lại cười:
"Như vậy là Dao không có tội."
Tiếng máy điện thoại vang lên ngắn ngủi khô lạnh. Một lát tiếng chuông lại reo vang. Giọng Cúc bên kianghe chừng lo lắng:
"Nè Dao, làm cái gì mà anh Quân buồn quá vậy?"
Dao còn đang ngơ ngác, Cúc lại ngọt ngào:
"Ảnh đang đợi Dao, lên đi, không thì ảnh khóc thật. Ảnh đang bắt đền Cúc đây."
Dao bật cười khi nghĩ rằng Cúc chỉ giỏi phá.
Khóa học mùa hè bắt đầu, Dao trở lại trường, nắng sân trường ngan ngát một màu phượng tím. Cúc gặp Dao ở bãi cỏ thoai thoải nơi Dao vẫn thường ngồi mỗi buổi chiều khi sân trường vắng hoe và những hoa phượng tim tím lắt lay rơi trong gió nhẹ. Câu đầu tiên Cúc bảo Dao:
"Anh Quân đã không còn dạy ở đây nữa. Dao biết chưa? "
Dao lắc đầu.
"Anh ấy bảo một phần cũng vì Dao đấy."
"????"
"Còn nhớ không? Lần đầu tiên Dao xuất hiện ở cafeteria, anh ấy cứ bảo Cúc làm quen Dao. Anh ấy nghe Cúc bảo Dao muốn tìm thầy kèm nên ảnh đã trở thành tutor của Dao. Mà Dao ctỉnh bơ. Anh ấy bảo Dao đã bị computer... hóa mất rồi".
Rồi Cúc cười khúc khích, xoay người vô tư cúi nhặt những cánh phượng tim tím rơi tan tác trên sân cỏ. Những chiếc hoa tím trên cao vẫn còn đang lià cành, như hờn dỗi, như rưng rưng trước mắt Dao, một màu rất nhẹ như giải băng Dao vẫn choàng lên tóc, trời rất trong và những làn mây trắng vẫn bềnh bồng. Dao như đang trôi trên một giòng sông mơ hồ, viên sỏi rong rêu nào đó đang trở mình làm lòng sông âm vang sóng.
Từ đó dù mưa nhiều hay nắng ít, trong Dao con sóng mãi cứ ngân nga dịu dàng khi California bắt đầu man mác với những con đường tháng năm phượng tím.
Ý Liên
(*) EOP = Educational Opportunity Program