vhnt, số 267
30 January 1997
Trong số này:
Thư vhnt..................................................................BBT
T h ơ :
1 - Lưng Chừng ................................................... Lam Vien
2 - Niệm Khúc .........................................................ThyK
3 - Con Cóc .........................................................Ian Bùi
4 - Cha Ðàng Ngoài - Mẹ Ðàng Trong .........................Xuân Diệu
5 - Làm Sao Ôm Tất Cả ........................................Chinh Ðinh
6 - Nằm Ðây ...................................................Bắc Phong
7 - Chùm Thơ ..............................................Trần Mặc Tâm
D i ễ n Ð à n V ă n H ọ c :
8 - Gối Ðầu Lên Chữ Nghĩa (Phần II).............Hoàng Khải Phong
T i n T ứ c / Ð i ể m P h i m / Ð i ể m S á c h :
9 - Giải American Music Award .........................Nguyễn Tiến Dũng
T r u y ện N g ắn / S án g T ác :
10 - Thiên Nga .......................................... Hoàng Huỳnh Lan
Các bạn đọc vhnt thân mến,
Tháng Giêng có 31 ngày, và ngày cuối tháng, tôi đã nói rằng tôi yêu em.
Tôi đã viết cho em nhiều vần thơ tuyệt diễm, ngữ từ quấn quít dệt thành thảm hạnh phúc chân thành âu yếm. Ðặt tên là bài thơ Tình yêu. Tôi đã vẽ cho em một hoạ phẩm hài hòa thanh tú, sóng lòng tôi dâng trải lên tranh vỗ về cánh buồm khát vọng ngàn khơi. Tôi đã gói gém tất cả cho em, tay bút run run, hồn thơ lảo đảo, dâng em như những nhân chứng tình yêu.
Một sáng mùa Xuân. Bình mình rực rỡ trên khu vườn, những bóng cây tự tình dưới sao đêm qua, giờ xanh chồi lá. Cũng vẫn một mình, mộng đêm qua là mộng đêm qua. Thoáng mây qua mặt hồ.
Em là hình bóng của chính tôi, ảo tưởng của thiên thần hay quỷ dữ. Nếu tôi đã nói rằng "tôi yêu em", là tôi yêu ảo tưởng phù du trong vần thơ tuyệt diễm, trong nét họa thanh thanh... Thôi đành nói thật lòng:
Em hãy cho ta yêu
Cuối cùng, dù sẽ hết
Cuối cùng, tình rũ yên
Ðốm lửa lần nức rạn.
Em hãy cho ta say
Một ngày rồi cũng chết
Trí nhớ dần tiêu hao
Mộng mơ nào trang trải.
(Ðinh Chinh)
Ý thơ giờ là nụ cười bật lên trong suốt như thủy tinh, nét tranh giờ là nắng và gió - hình như từ dạo đó, trên những con đường xanh tham cỏ, trên những con đường góc gai sỏi dốc qua bước chân trần không che bọc của tôi, với nụ cười và ánh mắt thuở ban đầu.
Ngôn từ xưa đã khép,
Mây bay xa cuối ngàn,
Lối mòn chân phiêu lãng,
Hòa tim vào cuộc chơi
(Chutieu)
Thân ái,
Sung Nguyen / vhnt
Đính Chính
Các bạn đọc vhnt thân mến,
Trong vhnt số 266, phần điểm phim Star Wars, xin các bạn sửa lại đoạn viết sau:
Những chuyện vô lý còn đi xa hơn. Vào năm 1997...
thành:
Những chuyện vô lý còn đi xa hơn. Vào năm 1977...
Thành thật xin lỗi các bạn.
BBT/vhnt
Lưng Chừng
đêm đêm
tiếng mẹ ru êm
đưa vào giấc mộng
vòng tay
nhẹ nhàng ầu ơ
gieo giữa hồn con
lang thang
dòng đời cưu mang
cheo leo núi rừng
gặp nhau
trao nhau - rời nhau
giấc mộng lưng chừng
ầu ơ
ấm lòng mẹ ơi
tiếng ru thuở nào
âm vang
dồn dập gọi mời
tràn ngập màn đêm
dừng chân
dòng đời thênh thang
ngơ ngác lưng chừng
xa nhau
nữa hoang nữa tàn
lưng chừng mộng mơ
bt
Niệm Khúc
ngày nào độ. mai kia mốt nọ
hôm nay về từ dĩ vãng mù khơi
nhớ dùm nhau những mảnh đời vụn vỡ
yêu thương xưa. những đoạn tơ rời
soi gương mờ tìm mắt môi bối rối
tay ngập ngừng đàn lại khúc tri âm
dây nào đứt cho nhịp đàn đã lỗi
phím nào câm cho nước mắt âm thầm
vết thương cũ khi trở mùa nhức nhối
dù mộ bia đã nhạt dấu rêu phai
thì đừng lạ sao lòng cứ hỏi
ai xui nên duyên chẳng được lâu dài
có phải trời xanh muôn phần khắc nghiệt
nên tương phùng đã nẩy hạt chia ly
hay tại chúng mình yêu nhau không biết
để vô tình... năm tháng trôi đi
hoa chỉ nở một lần đưa hương dưới nguyệt
mộng chỉ một lần ươm trái mơ ngon
hoa úa, mộng phai, mơ tàn, nguyệt khuyết
ôi cánh chim chiều lẻ bóng hoàng hôn
ngày nào độ. như vào kiếp khác
có nhớ nhau xin nhớ cả lòng đau
trong đêm tàn ngẩn ngơ tiếng vạc
tưởng về nhau hay vọng mối u sầu?
ThyK.
Con Cóc
Con cóc đỏ
ngồi vệ đường
anh đi ngang ngó
anh thương
con đường thì nhỏ
cóc nằm thì im
lối đi thì hẹp
hai bên mương.
'89
ianb
NHỮNG BÀI THƠ HAY - Thơ Xuân Diệu
(Nguyễn Xuân Thưởng sưu tầm)
Cha Ðàng Ngoài, Mẹ Ðàng Trong
Cha Ðàng Ngoài, Mẹ ở Ðàng Trong
Ông Ðồ Nghệ đeo khăn gói đỏ
Vượt đèo Ngang kiếm nơi cần chữ
Cha Ðàng Ngoài, Mẹ ở Ðàng Trong
Hai phía đèo Ngang, một mối tơ hồng
Quê cha Hà Tĩnh đất hẹp khô ran
Ðói bao thuở cơm chia phần từng bát
Quê mẹ gió nồm thổi lên tươi mát
Bình Ðịnh lúa xanh ôm bóng tháp Chàm
Cha Ðàng Ngoài, Mẹ ở Ðàng Trong
Ông đồ nho lấy cô làm nước mắm
Làng xóm cười giọng ông đồ trọ trẹ
Nhưng quý ông đồ văn vẻ giỏi giang
Bà ngoại nói tôi trọng người chữ nghĩa
Dám gả cho cách tỉnh xa làng
Tiếng Ðàng Trong tiếng Ðàng Ngoài quấn quít
Vào giữa mái tranh, giường, chõng, cột nhà
"Rứa, mô, chừ" cha hỏi điều muốn biết
Ngạc nhiên "gì", mẹ thốt, "úi chu cha"
Con trong võng ấm lạnh kêu kẽo kẹt
Ru tuổi thơ theo hai điệu bổng trầm
Mẹ thánh thót qua nhớ thương em bậu
Cha hát dặm bài phụ tử tình thâm
Cha Ðàng Ngoài, Mẹ ở Ðàng Trong
Muốn ăn nhút thì về quê với bố
Muốn ăn quít ăn hồng thì theo cha mày mà ra ngoài đó
Muốn uống nước dừa ăn xoài chín đỏ
Muốn ăn bánh tét bánh tổ thì theo tao ở mãi trong này
Ðội ơn thầy, đội ơn má sinh con
Cảm ơn thầy vượt đèo Ngang bất kể
Cảm ơn má biết yêu người xứ Nghệ
Nên máu con chung hoà cả hai miền.
Xuân Diệu
Ghi chú: Bài thơ này được chép từ băng ngâm thơ Nguyễn Bính & Xuân Diệu (NXB Âm Nhạc, Hà Nội), phần tác giả ghi là Xuân Diệu , không ghi năm. Có bạn cho biết đây là một trong những bài thơ sau này của Xuân Diệu, nhưng không rõ khoảng thời gian sáng tác. Khi nghe Minh Phúc ngâm bằng giọng Hà Tĩnh gốc, nhận ra bài này tứ thơ khác xa với những thơ Xuân Diệu trước đây. NXT
Làm Sao Ôm Tất Cả
Em hãy cho ta hôn
Ít nhiều , ta sẽ nhớ
Khoả thân nào, thẹn thùng
Nốt ruồi nào, mắc cạn .
Em hãy cho ta yêu
Cuối cùng, dù sẽ hết
Cuối cùng, tình rũ yên
Ðốm lửa lần nức rạn.
Em hãy cho ta say
Một ngày rồi cũng chết
Trí nhớ dần tiêu hao
Mộng mơ nào trang trải.
Ôi! tiếc hoài một đời
Em chẳng thể cho ta
Làm sao ôm tất cả
Những môi hôn úa đầy.
Chinh
1/23/97
Nằm Ðây
Nằm đây mở mắt nhìn trăng
Nghe con sông vẫn thường hằng nước trôi
Về đâu nốt nửa cuộc đời
Nghĩ ta tù tội buồn thôi cứ trào
Ðêm nay nhớ một đêm nào
Thấy em áo trắng chiêm bao bay về
Ta khai, nức nở em nghe
Dù sao cũng vẫn chọn quê hương này
Nhớ em da diết bàn tay
Nhớ môi mắt cũ, nhớ ngày mất nhau
Ta giờ ruột muối, gan bào
Nhìn trăng bỗng thấy trăng màu máu tươi
Nghe tin em vượt biển rồi
Con chim hạc ấy về nơi dặm ngàn
Chỉ mong em sẽ bình an
Khi lòng ta cũng đành tan tác buồn
Bắc Phong
trích tập thơ Chính Ca
song ngoại
một mai, khi đã xa rồi
còn ai ngồi, đứng, bồi hồi nhớ ai
thì đành sợi tóc chẻ hai
tình xin là ánh trăng cài, ngoài song
dạ tình ca
ừ, thì tình sẽ là mưa
đường khuya ướt bước chân đưa nhau về
đèn đêm ta hắt lên lề
bóng soi, lầy gót em về, ngùi đưa
nửa đêm
giữa muôn tinh tú, giữa trời
ai đem trăng lịm vào thời gian, rơi
nửa đêm, trăng rụng sau đồi
nửa đêm, có bóng tôi ngồi với tôi
tiếng thương
thương em - khóc đứng, khóc ngồi
khóc đôi tay đói, khóc đồi cỏ hoang
thương em, khóc một càng soan
mùa hoa trắng rụng, thềm loang dạ từ
nay. mai. và đến bao chừ
thương em... chỉ một tiếng Ừ !... mà thôi
chỗ nằm gọi tên
gần thì như tay chân
xa thì như nắng ráo
cần nhau như cơm áo
nhọn như dáo gươm đâm
tình thì một thoáng xa xăm
thương thì... chỉ một chỗ nằm gọi tên
Trần Mặc Tâm
Phần II: Gối đầu lên chữ nghĩa
Hoàng Khởi Phong phỏng vấn nhà văn Mai Thảo
Những hoa và trái này dẫu luôn phủ nhận ảnh hưởng của Tự Lực, vẫn không thể chối cãi là đã khởi đi từ một vị trí mới, do công khai phá nửa chừng của những người mang tên là Tự Lực. Khi tạp chíVăn Học (hải ngoại) nêu vấn đền văn học hải ngoại có phải là vấn đền văn học miền Nam nối dài hay không? Mai Thảo cho biết: Ông không thích chữ "Nối dài". Ông thích chữ "Tiếp Tục". Mai Thảo cũng đồng ý cách hình dung văn học như một dòng sông, nhưng ông không thích cái hạn hẹp của chiều ngang với từng đợt sóng tuần tự tiến vào bờ. Ông cho rằng dòng sông văn học của chúng ta có thượng nguồn từ thời tự chủ Lý, Trần. Càng xuôi ra biển nhân loại, dòng trường giang càng lớn. Có lúc dòng trường giang này chuyên chở lịch sử. Cũng có lúc nó lọt thỏm vào trong lịch sử. Hiện nay dòng lịch sử nghẽn lại, dòng văn học trong nước cũng tạm thời ngưng chảy. Do lẽ đó chúng ta, những kẻ đã may mằn hay không may mằn thoát ra được nước ngoài, chúng ta tiếp tục những công việc chúng ta đã bở dở ở trong nước. Ðối với Mai Thảo, ông nhìn văn học hải ngoại một cách giản dị: Khi chúng ta không được làm văn học ở trong nước, mà chúng ta đang sinh sống ở hải ngoại, đang viết văn làm thơ ở bên ngoài tổ quốc thì có nghĩa là chúng ta đang làm văn học ở hải ngoại. Mai Thảo nhìn văn học như thế, do đó ông không đặt vấn đề nên hay không nên 'tiếp tục'. Ðó là việc đương nhiên phải như thế. Ông cũng tiếc cho như"ng khối lượng nước đang cố làm đầy cho dòng văn học ở nơi đây. Theo ông những người viết mới thật đúng lá những người khởi hành một chuyến đi xa xôi dịu vợi mà không có một chút hành lý nào trên người. Ông cho là những anh em trẻ tuổi, mới nhập vào dòng văn chương hải ngoại chịu nhiềi thiệt thòi hơn những anh em đa" khởi nghiệp từ trong nước. Mai Thảo tự nhận là ông đứng ở trong hạ nguồn của dòng trường giang này, ít nhất ông cũng có được vài điểm tựa, một vài bến nghỉ chân trong suốt cuộc hành trình. Với những anh em khởi nghiệp ở hải ngoại này thì dòng sông đã mất dấu trên mặt đất, nó chảy ngầm trong lòng dân tộc, chảy ngầm trong lòng đất mẹ cách nơi đây cả một đại dương. Mai Thảo cho biết: "Những ngưỡi hiện nay khởi đi từ California, Virginia, Paris, Sydney... là những người khởi đi tự chính mình. Nó có tính chất mồ côi bởi vì chúng ta đã bị cắt rời ra khỏi tổ quốc, ra khỏi tiền thân của chúng ta. Họ đã khởi hành trên một sự trơ trọi không thể nói được. Khi chúng ta còn ở quê nhà, chúng ta có cả một hệ thống giáo dục tiểu, trung, và đại học. Con em chúng ta học văn học sử suốt những năm miệt mài trên ghế nhà trường. Ở nơi đây chúng ta không thể dạy dỗ con em chúng ta những điều chúng ta muốn. Hiện nay ở đây chúng ta làm gì có cả một thế hệ sinh viên yêu mến một nhà văn hay một nhà thơ nào. Các trường ốc chỉ dạy cho sinh viên những kiến thức khoa học kỹ thuật, những nghề nghiệp thực dụng để nuôi thân mà thôi. Ở đây cộng đồng chúng ta không có được một thư viện sách Việt, một trong những điều tối ư cần thiết cho một nền văn học sinh động, hay những giải thưởng văn chương đúng nghĩa. Cũng có vài cơ sở, vài tờ báo thiết lập văn chương. Song dường như những cái giải đo; không nói lên được một điều gì. Tuy nhiên điều quan trọng với Mai Thảo là chúng ta đã có một nền văn chương hải ngoại bằng bất cứ giá nào. Ðó quả là một điều đáng kể. Nếu như trong hai mươi năm qua, những người làm văn nghệ ở miền Nam thoát được ra hải ngoại, không viết văn làm thơ lại thì có nghĩa Cộng Sản đã thành công trong việt một mình một chợ, mặc dù trong cái chợ chữ nghĩa của Cộng Sản thì người bán với người mua là một. Cái chợ đó nó kỳ lạ lằm, nó có từng mùa. Mùa chiến thằng thì trong toàn bộ sách vở của những người viết miền Bằc (Mai Thảo không dùng chữ văn công) chỉ nói đến chiến thằng. Chiến thằng đủ hình, đủ kiểu, dưới mọi hình thức. Thôi thì văn, thơ, nhạc, kịch om xòm cả lên. Toàn thị là chiến thằng, kể cả như"ng chiến thằng không thể có với những đầu óc bình thường không bệnh hoạn. Sang đến mùa đổi mới thì quần chúng lại khổ với những cái nhìn đổi mới thiếu chất sáng tạo. Thật là cảnh muôn người như một. Có một dạo tờ Văn học, số 49 phát hành tháng Hai 1990 gióng lên tiếng nói đầu tiên về "Văn chương Phản Kháng" ở trong nước. Thế là ở hải ngoại này nổi lên một trận bút chiến tới bây giờ vẫn không ngã ngũ. Theo Mai Thảo, việc tranh luận giữa các anh em ở hải ngoại này có một điều đáng tiếc là đã gây nhiều bất hòa, thậm chí có nhiều anh em không nhìn mặt nhau nữa. Tranh cãi, bút chiến là nhữn yếu tố căn bản cho sự tiến bộ. Nhưng tranh cãi , bút chiến, lý luận không có nghĩa là mạ lỵ, bôi bẩn, chụp mũ... Mai Thảo có cái nhìn cực kỳ khe khằt với văn học trong nước. Ông cho rằng ngoài Bằc trước 75 và trong nước sau 75. 'những người cầm bút của xã hội chủ nghĩa' (không kể những nhà văn miền Nam còn kẹt lại) có sản xuất một số tác phẩm. Song một nền văn học không thể chỉ dựa vào một số sách có mặt là đương nhiên có một dòng văn học. Theo Mai Thảo, một dòng văn học nhân bản và khai phóng phải hội đủ vài yếu tố: - Trước tiên là những người viết đích thực, có nghĩa là viết không theo một chỉ thị nào, không rập theo một khuôn mẫu nào. Viết vì những thôi thúc, đòi hỏi của chính nhà văn, nhà thơ chứ không phải vì nhu cầu của chế độ - Kế đến là một bầu không khí tươi mát cho người viết cũng như kẻ đọc. Cái mà Tây Phương gọi là Tự Do Dân Chủ. Hiện nay ở trong nước, người viết cũng như người đọc luôn có một tên "chính ủy" núp sau lưng - Sau cùng độ giả (quần chúng) phải có một đời sống tương đối ổn định. Một đời sống không chỉ lo cái ăn, hộ khẩu, đảng, đòan, lý lịch, bí danh... Ðúng vậy, một đời sống không cần dư giả nhưng khi người ta mua một quyển sách, người ta không thèm thuồng một tô phở, một cữ rượu, một manh quần, một tấm áo. Do cách nhìn đó, với Mai Thảo ở trong nước hiện nay có rất ít nhà văn, nhà thơ. Ông công nhận là có, song đó là những con số có thể đếm được trên đầu ngón tay. Những nhà văn hiếm hoi này nương vào những khe hở của lãnh đạo, cống hiến cho người đọc một số tác phẩm đúng nghĩa. Ông nói về những nhà văn thành danh của Xã Hội Chủ Nghĩa với một giọng hơi khôi hài: "Khi miền Bằc chiến thằng, những người viết ngoài đó mới có dịp nhìn thật kỹ những đồng nghiệp trong Nam. Chúng ta bay lượn như những cánh đại bàng, chúng ta có muôn hồng, nghìn tía. Chúng ta có thể xấu, có thể đẹp, nhưng dứt khoát chúng ta không có mặc đồng phục". Xã Hội Cộng Sản có biệt tài về thiêu hủy. Họ san thành bình địa những ngôi nhà mà không chú trọng tới những con người trú ngụ trong ngôi nhà đó. Họ san phẳng những ngôi mộ trong các nghĩa trang và cũng không lý gì tới những bộ xương. Người sống sờ sờ còn chả ăn thua huống hồ người chết. Hãy kiểm lại những Phan Khôi, Văn Cao, Nguyễn Tuân, Hoàng Cầm, Trần Dần, Quang Dũng, Phùng Quán, Hữu Loan, Nguyễn Hữu Ðang, Ðào Duy Anh, Nguyễn Mạnh Tường, Trần Ðức Thảo, Vũ Ngọc Phan, Hoài Thanh, Nguyên Hồng, Xuân Diệụ Huy Cận, Chế Lan Viên, Tố Hữu, Nguyễn Bính, Tô Hoài, Hồ Dzếnh... và hàng trăm tên tuổi thành danh khác. Những người vừa kể đã có gì, làm gì thời tiền chiến và kháng chiến. Kế đó họ có gì, làm gì sau khi về tới thủ đô Hà nội từ 54 cho tới 75. Và từ đó tới nay cũng gần hai mươi năm qua đi sự nghiệp những danh tính nói trên đã đóng góp những gì cho nền văn học trong nước? Năm 1954 khi xẩy ra vụ án "Nhân Văn Giai Phẩm", và những năm gần đây khi chế độ đó đối với giới văn nghệ nay trói, mai cởi. Chúng ta, những người làm vĂn học ở trong Nam hồi đó và ở hải ngoại bây giờ lúc nào cũng dõng dạc lên tiếng bênh vực cho những người cầm bút không may mằn. Mặc dù sự lên tiếng của chúng ta như là đánh vài bị bông, nhưng chúng ta biểu lộ tinh thần "Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ". Mà nào chỉ phải có một con ngựa mà thôi, ít ra cũng chín phần mười cái tầu ngựa ngoài đó. Năm 1975 nổ ra, nhũng người làm văn nghệ miền Nam được yên thân đâu khoảng một năm đầu. Thiệt ra họ cũng chả tử tế gì, họ còn bận tung một mẻ lưới lớn, bằt giữ những cựu sĩ quan của miền Nam. Họ sợ bứt mây động rừng, nên kiên nhẫn chờ một năm sau mới tung một mẻ lưới khác đối với các văn nghệ sĩ của miền Nam. Ngày mồng 4 tháng Ba năm 1976, Hoàng Chinh người cầm đầu ngành công an văn hóa ở ngoài Bằc tung ra một danh sách cho thuộc cấp thi hành: Một danh sách bằt giữ đích danh hơn bốn chục người cầm bút của miền Nam. Ðặc biệt là nhà văn nhà báo gốc Bằc kỳ di cư. Họ bằt trong thanh thiên bạch nhật, chả có gì phải dấu giếm. Họ cũng tin rằng các nhà văn của miền Nam không có một con đường nào thoát thân, nên thong thả đến gõ cửa từng nhà. Mai Thảo may mằn không có nhà trong lúc Công An đến bao vây nơi cư trú của ông. Nhờ được thông báo kịp thời, MAi Thảo bằt đầu một cuộc sống trốn tránh. Những cây bút tên tuổi nhất còn kẹt lại trong nước hầu như không một ai tránh khỏi. Bao nhiêu người đã nằm xuống do cách nhìn sai lạc, độc ác của những tên cán bộ quản giáo. Vũ Hoàng Chương khi được tha về hai ngày sau hấp hối trên giường bệnh. Ông trả lời câu hỏi của bà vợ là: "Họ đâu cần đánh đập gì, họ chỉ cần bỏ đói thôi." Hồ Hữu Tường thì một buổi sáng người nhà mở cửa, thấy xác ông lạnh cúm tựa cột đèn gần nhà. Thật là sống khôn thác thiêng, đã chết mà còn biết đường tìm về nhà. Nguyễn Mạnh Côn trong những ngày cuối cùng bụng rỗng vì tuyệt thực, đến khi thèm sống phải làm đơn xin ăn. Rút cục, cái đơn mang đến kết quả là biệt giam trong cầu tiêu, mà cũng không được một hạt cơm vào bụng, rút cục vẫn lả đi mà chết với cái bụng lép kẹp. Rồi Dương Hùng Cường... cùng biết bao nhiêu những cái chết âm thầm khác. Nói làm sao cho hết được những khổ đau người miền Nam phải gánh chịu sau mùa quốc nạn đó. Những con người bị đày đọa, hành hạ giống như là cầm thú. Có người bị giam cầm cả chục năm. Những Thanh Tâm Tuyền, Doãn Quốc Sỹ, Phan Nhật Nam, To Thùy Yên, Cung Trầm Tưởng... nay bằt mai thả. Không một ai dưới mười năm đày ải. Mai Thảo nêu lên một câu hỏi: Những người như Nguyễn Huy Thiệp, Dương Thu Hương, Trần Mạnh Hảo, Nguyễn Duy, Nhật Tuấn... cùng những nhà văn nhà thơ khác của miền Bằc đâu? Họ giữ thái độ mũ ni che tai. Tuyệt không có một lời, một cử chỉ gọi là có một tấm lòng. Cái chế độ Cộng Sản đó không bao giờ coi những con người như những con người. Nhất là những con người văn nghệ, dại dột chơ văn dỡn(???) chữ thôi thì trăm thứ tội. Họ bằt rồi thả, họ trói rồi cởi đến độ có lần Nguyên Sa chuyện văn cùng Mai Thảo có nói: "Bọn chúng ta có phải là chó là lơn đâu mà cứ nay trói mai cởi." Cái guồng máy đó quan sát chúng ta từ chân tơ cho tới kẽ tóc. Họ rình mò chúng ta. Chúng ta chỉ cần làm sai ý họ, nói sai điều họ nói là đủ rũ tù. Mà trong chế độ đó đi tù thì mười phần chết hết chín. Khi được thả còn sống cũng ngơ ngơ ngác ngác, hồn vía lên mây, cái gì cũng sợ. Riết rồi hèn người đi. Nhiều khi sống mà tệ hơn là đã chết. Do đó Mai Thảo cho là không thể giao lưu văn hóa với trong nước. Giao lưu thì phải hai chiều, làm gì có cuộc giao lưu một ch- iều. Họ luôn luôn muốn phủ nhận chúng ta. Người thì bị giam cầm, trong những cái lồng vĩ đại, nhiều khi mỗi người chỉ được một mét vuông, khi được thả đa" có ai viết lại cho ra hồn. Bởi vì khi họ bằt. họ bằc các nhà văn. Ðến khi họ thả thì chỉ là những cái bóng của con người. Còn sách của chúng ta ư? Sách thì bị cấm toàn bộ. Dạo họ mới vào trong Nam, họ nhìn các tác phẩm của chúng ta dưới những kính hiển vi. Họ bươi móc từng chữ, nhìn ngằm tác phẩm của chúng ta dưới mọi góc độ, mà kỳ lạ thay góc độ nào họ cũng nhìn thấy vi trùng. Làm như thể dưới ngói bút của chúgn ta không thể có những bài vân thuần túy. Họ tuyệt không nhì thất chúng ta. Qua những dụng cụ phóng đại họ chỉ thấy sai sót của chúng ta. Tất nhiên những sai sót này cu"ng do họ định nghĩa. Họ đâu có khác Tần Thủy Hoàng, tịch thu sách và không cho chúng ta sống bằng cách nhốt chúgn ta trong các nhà tù. Thế thì có khác gì hơn hai ngàn năm trước nhà Tần đốt sách thiêu học trò. Mai Thảo không có ý kiến gì về việc bằc một cây cầu giữa trong nước và ngoài nước. Ông nghĩ là công việc các anh em Hợp Lưu và Thông Luận đang làm, sẽ không mang đến sự thông cảm thật sự giữa những người cầm bút trong và ngoài nước. Bởi vì sự chia cách đã quá lâu, và khoảnc cách đã quá xa. Tuy nhiên ông vẫn tôn trọng các cố gằng của tất cả mọi người.
oOo
Khi được hỏi về dòng văn học của chúng ta dường như không có những tác phẩm vĩ đại như Chiến Tranh và Hoà Bình cuả Tolstoi, Mai Thảo cho rằng dòng văn học phaỉ chia xẻ số phần của giống nòa. Giống nòi cuả chúng ta đang lầm than không thể tưởng tượng được, đang traỉ qua những cơn sóng gió lớn nhất trong lịch sử, thì những người cầm bút chia xẻ những lầm than này, do đó văn chương không nhất thiết phải có những tác phẩm lớn, do đó nhà văn Việt Nam chú trọng nhiều tới cái hay, cái đẹp của ngôn từ hơn là chú trọng tới cái lớn lao vĩ đại. Ông cũng không quên nói tới thực tế của những ngươì viết văn của chúng ta. Hình như không một nhà văn đúng nghĩa nào sống được thuần tuý bằng ngoì bút cuả mình (Cũng có một số sống hoàn toàn bằng ngòa bút, nhưng những người này phần lớn không phải là nhà văn thuần tuý, đa phần họ là nhà báo). Khởi kỳ thủy của nền văn chương quốc ngữ cụ Tản Ðà có viết một câu thơ bất hủ: "Văn chương hạ giới rẻ như bèo. Kiếm được đồng lãi thật là khó". Gần chúng ta hơn, Nguyễn Vỹ nói thẳng, chẳng cần rào đón gì: "Nhà văn An Nam khổ như chó". Dường như cho tơí bây giờ hoàn cảnh cuả nhà văn trong và ngoài nước vẫn không có gì cải thiện. Ðúng vậy ở nước ta không có nghề nhà văn. Kiểm điểm lại hầu như moị nhà văn đều có một nghề khác nuôi sống bản thân và gia đình mình. Những nhà văn của chúng ta may mắn ra thì làm bác sĩ, kỹ sư, tiến sĩ, giáo sư. Không may mắn thì đầu đường xó chợ "sinh vô gia cư, tử vô địa táng" cũng không phải là hiếm. Ngày còn ở trong nước bảy, tám phần mười nhà văn cuả chúng ta là nhà binh. Nghĩ cũng tức cười, nhà văn là đủ hà cớ còn thêm vào chữ quân đội, thành ra một thứ goi là "nhà văn quân đội". Quân đội thì có nhiêù nghành nghề do đó mơí có những nhà văn Không Quân, Hải Quân, Nhảy Dù, Thuỷ Quân Lục Chiến, Biệt Ðộng Quân... và nhà văn Cảnh Sát, không phải để giữ trật tự cho những người viết mà chỉ vì ông nhà văn đó có gốc là Cảnh Sát. Làm thế nào chúng ta vẫn chu toàn được bổn phận vơí vợ, và ba, bốn, năm, saú, baỷ... đứa con mà vẫn sáng tác những tác phẩm vĩ đại được? Viết một tác phẩm lớn không phải là một việc dễ dàng gì. Nó đòi hỏi người viết một hùng tâm lớn. Ðó là một công việc dài hơi, năm, mười năm chúi đầu vào bàn viết. Khi viết được chữ Hết cho trang cuối thì đã tới cuối dốc đời. Tóc đã bạc, lưng đã còng, mắt đã mờ và gối đã mỏi. là những ngươì còn viết được chữ hết cho tác phẩm, có nhiều người chưa kịp viết chữ hết này đã viết chữ hết cho chính cuộc đời mình. Trong năm mười năm này còn cơm aó, vợ con, nhà cửa... Trăm ngàn thứ hệ luỵ quấn quýt, quận quịt ở đời. Giữ cho lòng ngay ngắn chỉ để ngồi xuống viết một, hai ngàn trang sách thật không phải là một chuyện dễ dàng và giản dị. Ấy là chưa kể phải viết cho hay, chứ không phải cho đầ trang sách. Một tác phẩm lớn nó dung chứa được xã hội mà tác giả đang sống, nó còn chuyên chở một chút nào đó của tương lai. Một tác phẩm lớn phải phản ảnh được xã hội đương thời, đồng thời mở được một chút nào đó cho xã hội sắp tới. Thế mà bản sắc của chúng ta là một dân tộc không chuộng sự to lớn, vĩ đại. Chúng ta không có những lâu đài, dinh thự nguy nga. So với các quốc gia có lịch sử lập quốc vài ngàn năm, tiền nhân của chúng ta đã để lại cho chúng ta những giá trị tinh thần nhiều hơn là những tích lũy về của cải. Suốt hai thế kỷ nay giống nòi của chúng ta chỉ mãi lo giải quyết những vấn đề trước mắt. Mà những vấn đề đó nào có to lớn gì. Ðó là cơm ăn áo mặc. Ðó là tương lai cho tuổi trẻ, sự an bình cho người già. Suốt hai thế kỷ nay giống noì ta kiệt đi vì chiến tranh. Hết nôị chiến thì laị chống ngoại xâm. Hết chống ngoại xâm thì laị chống giặc nghèo, giặc dốt... Hai thế kỷ nay chúng ta không hề có một thời khoảng thảnh thơi, nhàn nhã. Với một bối cảnh xã hội như thế quả tình là khó cho một nhà văn muốn hoàn thành một tác phẩm lớn. Mai Thảo cũng phát biểu về thơ. Theo ông dân tộc Việt Nam là một dân tộc thi sĩ. Ðiều đặc biệt của thi ca Việt Nam là thơ là của dân gian mà ra, chứ không phải là do những thi sĩ của cung đình. Thơ Ðường của Trung Hoa phát triển từ kẻ sĩ, từ những chốn dinh thự của vua quan và đi xuống với dân gian. Chỉ có Trung Hoa vào đời Ðường, cách chúng ta hơn ngàn năm mơí có những thi sĩ như Lý Bạch, vào quán uống rươụ khoỉ trả tiền vì đã có thẻ tín dụng của nhà vua cấp phát, để chủ quán đến lấy tiền nơi quan đầu tỉnh.
Trong khi đó ngôi sao Bắc Ðẩu của thi ca Việt Nam, thi hào Nguyễn Du nghèo đến độ đã có thời là thợ săn, với tên hiệu là Hồng Sơn Liệp Hộ, lánh nạn binh đao về ở ẩn trong núi gần quê vợ. Thi hào của chúng ta có lần xuống núi được dân làng mời uống rượu, ông rất vui mừng khi ra về, lần vào túi mấy đồng tiền kẽm vợ giao cho lúc trước khi ra khỏi nhà vẫn còn nguyên không sứt mẻ gì. Ca dao của chúng ta, cái nôi của thi ca Việt Nam là một loại văn chương truyền khẩu. Mãi sau này chúng ta mơí san định laị, cóp nhặt lại in thành sách giaó khoa. Thơ của chúng ta bàng bạc khắp mọi nơi. Hang cùng ngõ hẻm nào cũng có những bài hát ru em, những câu hò tình tứ. Ca dao chạm tới hết thảy moị hệ luỵ của đời sống. Ca dao không phải kiêng cữ gì bởi vì không có ai là tác giả, cho nên không ngaị đụng chạm, không sợ bạo quyền. Chính ca dao đã ươm hồn thơ cho những nhà thơ lớn trước và sau thiên tài Nguyễn Du của chúng ta. Nhân nói về thi ca Mai Thảo đề cập tới vài nhà thơ hiện taị. Ông cho Tô Thuỳ Yên là một nhà thơ lớn, Thanh Tâm Tuyền là một nhà thơ mở được một con đường mới cho thi ca Việt Nam, và Bùi Giáng là một nhà thơ không thể noí tới đơn vị "bài". Bởi vì có thể nói thơ Bùi Giáng chỉ có một bài mà thôi, một bài thơ dài bảy, tám, chín, mươi ngàn câu thơ, phải in thành hai, ba, bốn quyển thơ gì đó. Thơ của Buì Giáng đi liền một lèo, đi thẳng một mạch. Nhà thơ quen thói ngược ngạo nên ngắt vụn ra, đặt cho những cái tên nên nó thành những bài thơ. Ông cũng đề cập tới thơ tiền chiến. Những danh tính như Vũ Hoàng Chương, Ðinh Hùng, Quang Dũng, Xuân Diệu, Huy Cận, Hữu Loan, Trần Huyền Trân, Hoàng Cầm, Hồ Dzếnh, Lưu Trọng Lư, Chế Lan Viên, Thâm Tâm... là những nhà thơ lớn của thời tiền chiến và kháng chiến. Ông lấy làm lạ là nền thi ca mới của chúng ta đã lên tới đỉnh cao ngất ngây từ lúc mới khơỉ đầu. Thời gian đãi lọc đã gần nửa thế kỷ qua, những nhà thơ lớn thời đó xem chừng đông hơn những nhà thơ lớn hiện tại. Mai Thảo cho biết, hiện nay ở haỉ ngoại vấn đề cơm áo đối với nhà văn không còn sinh tử như trong nước. Nhưng nhà văn laị có những khó khăn khác. Hiện nay chúng ta trú ngụ taị nhiều quốc gia, trải dài trên năm đại lục. Mỗi một nơi chúng ta đối phó với một khó khăn khác, thế mà chúng ta không có những kinh nghiệm lưu vong như cộng đồng Trung Hoa, Do Thaí. Ðó là hai cộng đồng dân tộc có kinh nghiệm lưu vong hàng ngàn năm. Chúng ta hiện nay chia ra làm hai thành phần dân tộc. Thành phần đaị đa số hiện đang sống chết vơí đất nước nơi quê nhà, và chúng ta là thành phần thiểu số đang sống xa tổ quốc hàng vạn dậm. Ðã thế chúng ta laị không thể nào thu về một mối, đo đó phát sinh những khó khăn trong nội bộ của cộng đồng cũng như những khó khăn đến tự bên ngoài. Mai Thảo cho biết ông có nhận được những lời đề nghị mời ông về sống tại quê nhà. Ngay trong lòng Hà Nội, nơi mà ông đã phải bỏ mà đi trong tuổi thanh xuân. Những lơì đề nghị này dựa vào tình bạn của mấy chục năm cũ, những lá thư rất cảm động này làm cho ông như sống lại những cung thương ngày cũ. Tuy nhiên ông chưa hề trả lời những đề nghị quyến rũ này.
oOo
Mai Thảo cho biết ông là nhà văn chơi với tất cả mọi người, mọi giới. Ông chỉ tránh những người xấu chứ không tránh một người nào chỉ vì họ là người Trung hay người Nam. Ông giao thiệp với các người làm văn nghệ sáng tác cũng như trình diễn. Ông đánh bạn với những người hầu sáng trong các tiệm cơm ông ăn hàng ngày, đến độ đã có những người hầu sáng khi rót rượu cho ông, thường quay mình che không cho chủ tiệm nhìn thấy đang rót rượu cho Mai Thảo, và thường chỉ thôi rót khi ông đã gật đầu ra dấu bảo thôi. Mai Thảo là bạn của những người phu xích lô trong những cuốc xe xa, gần. Nhiều phu xe nhẵn mặt ông đến độ cứ lặng lẽ đạp đi khi ông đang lúi húi móc ví trả tiền. Phải thân cận với họ như thế nào để có thể nhận được những tấm lòng ấm áp như thế. Ðối với các nghệ sĩ trình diễn, ông tham dự các đêm tập tuồng mới của các nghệ sĩ cải lương cho tới khi tàn cuộc thì trời đã gần rạng. Ông lấy đêm làm ngày, mà ngày thì bắt đầu vào qiua' ngọ. Ông cho biết trong gần năm mươi năm nay, mỗi ngày ông móc tuí ra, lấy ví trả tiền bốn lần cho bốn bữa ăn. Ðiểm tâm buổi sáng, cơm trưa, cơm chiều và bữa khuya. Ở trong nước cũng vậy và bây giờ ở ngoại quốc cũng thế, ông đi đi về về nơi trú ngụ của ông, bốn lần một ngày lặng lẽ như một cái bóng. Trước sau ông viết hơn bốn chục quyển truyện. Tôi vẫn thích quyển sách đầu tay của ông là quyển "Ðêm Giã Từ Hà Nội", cái tên của nó đánh trúng tâm tư của cả triệu người Bắc di cư nên vì thế mà độc giả Bắc đón nhận tác phẩm này như một điều tự nhiên. Dường như tâm lý quần chúng thuở chia đôi đất nước, trong cơn hoang mang của lịch sử cũng cảm nhận như vậy, do đó quyển sách đã được tái bản nhiều lần. Ðó là một quyển sách đem về cho ông một số tiền tác quyền lớn. Trên phương diện văn chương chữ nghĩa ông là một người may mắn mà không may mắn. May mắn ở chỗ ông là một trong vài người chỉ sống bằng ngòi bút của mình. Suốt một đời người không làm một điều gì khác hơn là viết. Thế mà không nghèo, thế mà lúc nào cũng phong lưu cơm Tây, rượu chát và tối tối đi phòng trà, đi nhảy đầm. Quanh năm suốt tháng đánh răng vào buổi trưa, lên giường vào lúc gần sáng. Ông kiếm tiền dễ dàng và tiêu cũng dễ dàng. Chính cái bén nhọn trong cách phô diễn chữ nghĩa của ông, khiến ông vừa xuất hiện là ngay lập tức chinh phục được quần chúng. Ông trở thành một nhà văn ăn khách hơn bất cứ một nhà văn nào cùng thời với ông. Có một thời gian ông viết năm cái feuilleton trong một ngày. Chính vì năm cái feuilleton một ngày mà ông trở thành không may mắn trong sự may mắn của chính ông. Nó làm hại cho văn chương. Khi ông đứng trước "tiền đường" của ngôi nhà văn học, ông khoa chân múa tay, hò hét về chữ nghĩa thì tôi là một người lính hai mươi tuổi. Thế giới của Mai Thảo là một thế giới hoàn toàn xa lạ với những người lính như tôi. Nơi ông ở là thành phố, an toàn tương đối so với chỗ của tôi. Chỗ ông lui tới là trà đình, tửu quán, là phòng trà, sàn nhảỵ Trong khi nơi tôi ở, tuy chỉ là một loại lính chuyên môn, nhưng không phải vì vậy mà không giáp mặt với chiến tranh. Tôi phải thú thật một điều là sau tập truyện "Ðêm Giã Từ Hà Nội" của ông, tôi đọc thêm vài tác phẩm khác, những nhân vật ông dựng ra trong các tác phẩm sau này tôi không cảm được, mặc dù những thị dân thành phố thì hết sức ngưỡng mộ. Ðôi khi lẩn thẩn tôi hay tự hỏi những nhân vật của Mai Thảo hình như chỉ có chơi mà không có làm. Trong lúc đất nước thì chiến tranh tơi bời hoa lá, nhân vật của ông sao mà nhởn nhơ, vô trách nhiệm qúa chừng. Tuy nhiên bất cứ ai thích đọc sách đều nhận thấy Mai Thảo có một bút pháp riêng. Cách dùng chữ của ông cầu kỳ và bóng bẩy, câu văn ngắn, gọn. Trong tác phẩm của ông người ta bắt gặp những đoạn văn ngắn đẹp như một bài thơ, những đoạn văn này có thể coi như là những bài thơ xuôi mà ông đặt rải rác vào trong truyện ngắn, truyện daì của ông. Hình như ông dễ dãi trong khi dựng truyện bao nhiêu thì ông gạn lọc chữ nghĩa bấy nhiêu. Do đó truyện của ông khi đăng hàng ngày trên các nhật báo có một sức quyến rũ riêng biệt. Từ khi qua Mỹ, đời sống của ông thu gọn lại bởi nhiều nguyên nhân. Trước tiên tiểu Sài Gòn không phải là Sài Gòn, kế đó tuổi thì mỗi ngày mỗi cao, bạn bè rải rác khắp năm châu bốn biển. Mỗi năm ông đi xa vài chuyến. Khi về thu mình trong căn gác nhỏ. Nơi đó ông hóa thân, nhập ông vào với tờ Văn thành một, chăm chút tờ báo như là chăm con mọn. Tự tay viết địa chỉ các độc gỉa mà không dùng computer, hàng tháng mang báo đi in, hàng tuần mang báo đi gởi. Mỗi chiều đi ăn, mỗi tuần vài cữ nhậu. Hiện nay ông chỉ còn nhậu với một số những người thân cận gần gũi. Vài năm trước đây ông nhậu mỗi buổi chiều. Ai rủ cũng đi, chẳng từ chối một ai, bởi vì đời sống sao mà buồn tẻ. Vài năm trước đây ông nhậu với đủ mọi hạng người. Tại sao không? Bởi vì ông đã tự nhận ông là người giang hồ của năm châu bốn biển. Do đó có những tiếng không lành, có những cảnh không đẹp. Chung quy cũng bởi cuộc sống ông quạnh quẽ quá, mà ngày thì dài lê thê. Tiếng là chăm nom tờ báo như chăm con mọn, nhưng thật tình giờ rảnh không phải là ít. Hơn thế nữa trong cộng đồng thu hẹp của chúng ta, dù muốn hay không ông là một danh sĩ. Có không ít những người cho rằng ngồi cùng bàn với ông là một điều vinh dự, đó là những người có lòng với chữ nghĩa, văn chương. Nhưng có không ít những kẻ khi ngồi chung bàn với ông thì tưởng chừng như đã lột xác, lắc mình một cái đã trở thành... văn nghệ sĩ. Ông vẫn là người có tiếng cao ngạo, nên chỉ thoáng qua một thời gian là ông nhận chân được những cữ nhậu như thế vừa vô bổ, vừa phí thời giờ mà đôi khi còn bực mình. Những năm gần đây ông hay uống ở nhà, vả lại ông uống nhiều hơn ăn thì cần gì phải la cà nơi quán xá. Chính vì những lời đàm tiếu quanh ông, đã làm ông cô quạnh thêm nơi đất trích này.
Năm nay Mai Thảo 68 tuổi, ông làm quen với văn chương chữ nghĩa suốt năm chục năm ròng rẩ Hay khác đi, khi ông bắt đầu thực hiện "giấc mơ ngoài cửa lớp" của ông cùng một thời gian tôi mở mắt chào đời. Thấm thoắt mà chính tôi cũng đã làm quen với chữ nghĩa cũng đã ba chục năm, quen với ông năm năm. Tôi chưa biết một người nào sống cả đời với chữ nghĩa như Mai Thảo. Tôi không biết một người nào yêu văn chương như ông. Yêu suốt từ thuở thanh xuân, cho tới khi đầu bạc gần kề miệng lỗ. Trong suốt năm mươi năm gối đầu lên chữ nghĩa này tôi chưa hề thấy ông sử dụng chữ nghĩa như là một vũ khí đánh người. Thời của chúng ta là thời của bọn đao bút, thế mà tôi thấy ông khi viết sổ tay, nhắc đến tất cả mọi người với lòng ưu ái, cho dù trong những người ông nhắc tới không thiếu gì kẻ đối với ông "Bên ngoài hơn hớt nói cười. Mà trong nham hiểm giết người không dao". Cũng không thiếu gì kẻ cúc cung tận tụy bên ông chỉ vì một dòng chữ ông cho có khác gì một vòng hoa quàng cổ. Mai Thảo qủa thật là một người rộng rãi trên phương diện chữ nghĩa. Chữ nghĩa nào có phải của riêng ông, chữ nghĩa của cuộc đời ông đem trả lại cho đời. Hà cớ gì ông phải chật hẹp? Mai Thảo thành danh là một nhà văn, có nhiều người tâng ông là nhà văn hàng đầu. Xin nhường phần thẩm định này cho các nhà viết phê bình văn học. Phần tôi là một người viết đi sau ông gần hai chục năm. Trong gần năm mươi quyển sách ký tên Mai Thảo tôi thích "Ðêm giã từ Hà Nội", tác phẩm đâù tay của ông, nhưng tôi yêu "Ta thấy hình ta những miếu đền" tập thơ duy nhất của ông. Tôi nghĩ là chính cuộc đời ông là tác phẩm lớn nhất của nhà văn Mai Thảo. Tác phẩm đó viết bằng những trận cười thâu đêm suốt sáng, bằng những cô quạnh, tịch mịch của bảy mươi năm méo mó chắp làm người. Hãy đọc quyển sách "Ðời" này với một tấm lòng mở, bởi vì quyển sách đó sẽ không có chữ với những tấm lòng chật hẹp. Bởi tôi yêu tập thơ của ông, nên xin mượn thơ của chính ông để đút kết bài viết này.
oOo
Phần phụ lục trích thơ Mai Thảo
Ðợi Bạn
Nửa khuya đợi bạn từ xa tới
Cửa mở cầu thang để sáng đèn
Bạn tới lúc nào không biết nữa
Mưa thả đều trên giấc ngủ đen.
Thằng viết mướn
Những trang đời viết còn dang dở
Sẽ có bàn tay ấy viết giùm
Ngón cái sang trang và ngón út
Viết dòng vuốt mắt lúc lâm chung.
Trừ Tịch
Bước một mình qua ngưỡng cửa năm
Nhân gian tịch mịch tiếng mưa thầm
Chợt đâu vẳng tiếng gà lai kiếp
Báo vẫn đêm về ở cõi âm.
Có lúc
Có lúc nghĩ điều này điều nọ
Cảm thấy hồn như một biển đầy
Có khi đếch nghĩ điều chi hết
Hệt kẻ ngu đần cũng rất hay.
Cuối năm
Tận ngữ tìm lung một tĩnh từ
Tưởng còn sót lọt ở phần thư
Ðập tay điếu thuốc tàn không rụng
Ðã lượng đời vơi tới đáy ư?
Tinh tướng
Những ảnh hình thân cũng thoáng qua
Người gần ta nhất cũng muôn xa
Tấm gương trước mặt nhìn trân trối
Tinh vẫn còn đây tướng đã nhòa.
Quá khứ
Ðôi lúc những hồn ma thức giấc
Làm gió mưa bão táp trong lòng
Ngậm ngùi bảo những hồn ma cũ
Huyệt đã chôn rồi lấp đã xong.
Dỗ bệnh
Mỗi lần cơ thể gây thành chuyện
Ta lại cùng cơ thể chuyện trò
Dỗ nó chớ gây thành chuyện lớn
Nó nghĩ sao rồi nó lại cho
Bệnh ở trong người thành bệnh bạn
Bệnh ở lâu dài thành bệnh thân
Gối tay lên bệnh nằm thanh thản
Thành một đôi ta rất đá vàng.
Viết văn trở lại
Viết văn trở lại
Trước một hàng người
Im lặng và hấp hối
Sau kẽm gai cùng thẳm một trại giam
Cộng sản
Hàng người có Nguyễn Sỹ Tế ở đầu
Phan Nhật Nam ở giữa
Và Tô Thùy Yên ở cuối
Viết văn trở lại
Ở Mỹ
Nước Mỹ của những ngày dài nhất
Sự ăn không ngồi rồi khủng khiếp của tâm hồn
Lao động tám tiếng một ngày
Hay nhàn du cũng vậy mà thôi
Ăn không ngồi rồi
Ngồi rồi ăn không
Viết văn trở lại
Mới tháng đầu của mùa đông này mà ở Minnesota
Vũ Khắc Khoan đã té xấp hai lần vì tuyết
Té xấp chỉ là vì té xấp
Chúng ta đứng thẳng thế nào được nữa
Khoan
Ðứng thẳng thế nào
Việt Nam đã sập
Và cái té xấp của mày trên tuyết
Như trên giấy
Một ngòi bút bẻ gẫy
Bạn bè nhắc tri âm cũng nhắc
Viết lại đi vâng thì viết lại
Trọn một ngày chủ nhật ở đại học Cornell
Tôi tới đó
Xuống phần thư đọc lại sách mình
Những trang sách xưa bài viết cũ
Bằng hữu
Những dấu tích một đời
Những ám ảnh siêu hình
Giàn giụa
Lên khỏi phần thư buổi tối mưa bay
Ði dưới mưa một mình
Tuyết sặc sỡ và nắng lạnh buốt
Ủng, lông, da, len, dạ một đống lù lù
Những sớm mai ở Virginia
Trong bếp nhà Ngọc Dũng
Tôi một đống tôi sặc sỡ tôi lù lù
Tôi viết
Ở Huntington Beach có Nghiêm Xuân Hồng
Và ở Los Angeles Võ Phiến
Mấy địa chỉ âm thầm
Sống không thành tiếng động
Những người da đen đứng câu cá suốt đêm
Dưới bãi biển mù sương
Ðất nước khuất
Bầy hải âu cất cánh
Ống khói một con tầu trở về
Hơi thơ Rác. Và bọn gái điếm
Cái máy chữ Nhà Thờ
Ðập nhễ nhại trận cười xác thịt
Ở Houston có Mặc Ðỗ một mắt đã lòa
Vượt bốn ngàn cây số tới thăm nhau
Ði với bạn lên ngôi nhà trên núi
Thằng đã tới thềm thằng ở dưới
Cùng trẻ như rừng cùng già như suối
Ở Seattle có Thanh Nam cuống họng
Ðứt lìa
Chứng ung thư tàn độc
Cây gậy chống trên tay
Cái mũ dạ che cái đầu trọc lốc
Trước dòng lệ Túy Hồng
Cuộc bút đàm lần cuối
Trong ngôi nhà bóng tối
Không bận gì tháng tới
Về đây đưa đám tao
Và ở Sài Gòn vẫn còn Bùi Giáng
Tối tối về chùa đêm làm thơ
Ngày ca múa khóc cười giữa chợ
Kẻ sĩ điên thế kỷ mù rồi
Những Hồ Hữu Tường trăm năm đã xa
Những Vũ Hoàng Chương nghìn ngày đã khuất
Những bạn bè mày chúng nó đã giết
Còn viết được ư, thằng sống sót?
Thơ của Mai Thảo còn nhiều lắm, nếu trích nữa e rằng bài viết này sẽ dài thêm vài chục bài thơ. Dài có, ngắn có. Thất ngôn có, tứ tuyệt có. Tự do có, thơ xuôi có. Trước khi chấm dứt bài viết, trước thềm của tuổi 70, tôi cầu chúc ông, nhà văn Mai Thảo những điều tôi "không" bắt gặp trong thơ ông.
California tháng Chín 1994
Hoàng Khởi Phong
TIN NHANH VĂN NGHỆ: GIẢI AMERICAN MUSIC AWARDS
Bốn tháng sau khi bị bắn gục tại Las Vegas, Tupac Shakur đã được giải nghệ sỹ nhạc rap được ưa thích nhất trong lễ trao giải American Music Awards tối thứ hai vừa qua.
Alanis Morisette và Toni Braxton đã được giải đôi trong một đêm khi AMA chào mừng "Năm của Phụ Nữ". Nhưng Mariah Carey dù được đề nghị cho 5 giải đã không mang về được giải nào.
Nữ diễn viên kiêm ca sĩ Brandy đã nhận giải đại diện cho Shakur, người cũng đã đóng trong phim Gridlock'd cùng với Tim Roth. Phim này mới chiếu tại Nam Florida.
Braxton đã đoạt giải giọng nữ soul R&B được yêu mến nhất và album Secrets của nàng là album soul R&B hạng đầu." Ðoạt giải một lần nữa đã làm tôi bực mình, ngạc nhiên, giống như bị phản bộị Không , thực sự tôi rất hạnh phúc," Braxton đã trả lời với nụ cười khi được phỏng vấn đằng sau hậu trường. Bên phía nam là nam ca sĩ Keith Sweat với giải nam ca sĩ nhạc soul R&B hay nhất.
Alanis Morisette đọat giải nữ nghệ sĩ nhạc pop-rock được ưa thích nhất và album Jagged Little Pill của cô đã đánh bại Anthology 1&2 của ban the Beatles để được giải album pop-rock. Jagged Little Pill, phát hành năm 1995, đã thắng giải rock album hay nhất và là album của năm với giải Grammy năm ngoái.
Một lần nữa Garth Brooks đã thắng giải nam ca sĩ nhạc dân ca. Ðây là lần thứ 11 anh được giải từ năm 1991. Shania Twain , được giải năm ngoái, lần này là nữ ca sĩ nhạc dân ca được yêu mến nhất.
Eric Clapton, người chỉ thắng giải AMA có một lần vào năm 1994, năm nay đã đánh bại Bryan Adams và Seal để thắng giải nam nghệ sĩ nhạc rock hay nhất.
Mới trở về từ lễ đăng quang của Clinton, Hootie & The Blowfish được giải ban nhạc pop-rock được yêu thích nhất.
Những người thắng giải American Music Awards được chọn bởi gần 20,000 thính giả . Những người này sẽ chọn dựa theo danh sách ứng viên được đề nghị bởi các tạp chí trong kỹ nghệ âm nhạc.
Dũng Florida
(Source: The Herald Jan 28, 1997)
Thiên Nga
Ðúng ra nàng có một cuộc sống rất bình yên. Buổi sáng nàng thường thức dậy vào lúc bảy giờ ba mươi. Trang điểm, thay quần áo, uống vội ly sữa, rồi lái xe về phía xa lộ, hôm nào cũng gần chín giờ nàng mới đến văn phòng. Ðặt chiếc ví lên bàn, nàng đưa tay nhìn đồng hồ, ngao ngán cho sự trễ nãi của mình. Nàng vẫn thích có thói quen đi làm sớm và về sớm, nhưng nàng lại không thể dậy sớm. Ðã bao lần nàng vặn đồng hồ báo thức lúc sáu giờ để phá vỡ cái thói quen muộn màng kia, nhưng trăm lần như một, khi giọng anh chàng xướng ngôn viên Mỹ vừa nheo nhéo cất lên thì nàng vội vàng với tay vặn ngược cái nút radio về vị trí "off" và tiếp tục ru mình vào giấc ngủ thần tiên. Ðể rồi sáng nào nàng cũng tự nguyền rủa cho cái tật từ từ nhàn hạ của mình. Ai bảo nhàn hạ là sướng, chứ nàng cảm thấy mình phí nhiều thời gian quý báu lúc ban mai lắm. Trên đường đi đến sở, nàng lại không hối hả. Từ nhà đến sở chỉ có một con đường duy nhất băng ngang xa lộ, nhưng xa lộ thì cứ quanh năm kẹt xe. Dù nàng có hối hả đến đâu, nàng cũng chỉ có thể chạy năm miles một giờ trên quãng đường đó. Ðể giết thì giờ, nàng thả hồn theo tiếng nhạc từ chiếc CD, mặc cho chiếc xe trôi đi lặng lờ về phía trước. Có khi nàng nổi hứng làm thơ. "Ðời hiền hòa như một dòng sông. Trôi lang thang theo những nhánh rong..." Nàng bật cười cho câu ví von đó, rồi tỉnh mộng vì có ai vừa bấm còi inh ỏi đằng sau.
Buổi chiều khi nàng về, nắng đã tắt từ lâu. Xa lộ vẫn muôn thuở kẹt xe, nhưng bây giờ dòng xe nối đuôi nhau trong ánh đèn đêm loang loáng, tạo thành hai dòng ngọc châu chạy song song từ hai phía. Nàng nghĩ đến ngày trong sở và không thấy gì đặc biệt. Cái project vẫn còn dở dang, nàng vẫn làm chung với những người nàng đã làm chung từ ngày hôm qua, thậm chí từ tháng trước. Bà xếp vẫn nhìn nàng thân thiện mỗi khi cần và nghiêm khắc mỗi khi công việc chưa xong. Nàng vẫn ôm sách ôm vở đi hỏi tên bạn đồng nghiệp mỗi khi bị bí, không biết giải quyết việc làm ra sao. Vẫn có cuộc họp mỗi ngày vào lúc một giờ trưa để báo cáo tiến triển công việc. Về đến nhà thì đã gần bảy giờ, nàng tắm rửa, hâm đồ ăn nấu sẵn từ mấy hôm trước, ăn qua loa rồi vào phòng đọc bài cho lớp học tối. Nàng rất thích xem phim hoạt họa nhưng buổi tối lại ít khi có loại phim này. Nàng cũng không biết vì sao mình mê phim hoạt họa, dù phim tình cảm cũng nhiều lần làm nàng rơi lệ. Phim action thì quá mạnh bạo so với bản tính mơ mộng của nàng, phim kinh dị thì làm nàng ám ảnh đêm đêm, phim trinh thám thì lại bắt nàng phải chăm chú theo dõi để hiểu rõ tình tiết. Cuối cùng nàng chọn phim hoạt họa là loại phim ưa thích nhất, vì nàng luôn có những nụ cười thoải mái theo từng nét vẽ ngộ nghĩnh dễ thương. Bao giờ những nhân vật ngây thơ vô tội vạ cũng là người thắng cuộc, và kẻ gian tà suốt ngày manh tâm đi hại kẻ yếu cũng hoặc là bị hại hoặc là lọt vào bẫy của chính mình. Nàng sung sướng hả hê khi cuộc sống thắng bại đơn giản qua nét vẽ, cũng như giấc ngủ của nàng luôn êm đềm, ít khi nào có cơn ác mộng xa xôi.
Những lúc rảnh rang, nàng có rất nhiều sở thích khác nhau. Khi thì nàng chơi đàn, nấu ăn, làm những món đồ ngồ ngộ để trang trí nhà cửa, khi thì nàng lang thang trong mall để mua sắm quần áo thời trang. Có khi nàng rủ bạn bè đi coi phim, nghe nhạc. Nàng lai rất thích hoa nên hay lục lọi trong tiệm bán hoa vải đủ thứ bông hoa miền nhiệt đới mà nàng không tài nào tìm ra ở vùng đất lạnh đang cư ngụ. Nàng loay hoay cắm hoa, gắn bông này gỡ bông kia, cho đến khi nàng tạm hài lòng với "kỳ công" của mình thì vài tiếng đồng hồ cũng đã trôi qua. Nàng không chú trọng đến thời gian, vì nàng sung sướng khi làm một điều gì mình thích, làm một cách tự nhiên mà chẳng phải vì ai. Khi nào trời mưa thì nàng đâm ra lãng mạn và bắt đầu làm thơ. Những vần thơ nho nhỏ, có khi chẳng ra đâu vào đâu nhưng làm nàng mơ mộng hẳn lên. Nàng đem thơ đi gửi cho bạn bè, có người khen, người không, nhưng nàng đâu để ý. Nàng chỉ làm thơ cho mình vui và chỉ cho mình mà thôi.
Ấy vậy mà chàng đã làm xáo trộn đời sống bình yên của nàng. Khi không chàng gửi thư bảo nàng cho chàng xin mấy bài thơ. Thì cũng thiếu gì người đã xin nàng thơ. Nhưng cái cách xin của chàng ngồ ngộ, nó không lạnh nhạt máy móc như những người xin bài cho tạp chí mùa xuân, cũng không nịnh hót vồn vã như những người muốn làm quen với nàng. "Tự nhiên muốn đọc thơ Nhã Quỳnh quá, Quỳnh cho tôi xin vài bài được không?..." Dĩ nhiên là nàng đã trả lời lại theo phép lịch sự, rằng nàng chỉ làm thơ cho vui chứ không hề có bài nào đặc biệt để gửi cho ai cả. Rồi thư qua thư lại, chẳng hiểu sao câu chuyện cứ tiếp nối mà không bị đứt đoạn như với những người khác ái mộ nàng. Nàng bắt đầu để ý xem một ngày nàng nhận được bao nhiêu thư của chàng, chàng thường gửi vào lúc nào trong ngày và mất bao lâu để chàng phúc đáp một bài thơ. Số lượng thơ nàng làm đột nhiên tăng lên gấp bội, có thể vì nàng biết có người thật sự đọc thơ nàng hàng ngày, hoặc có thể cuộc gặp gỡ kỳ bí với chàng làm nàng trở nên mơ mộng hơn. Ðêm nàng thao thức làm thơ nhưng ngày nàng lại đi làm rất sớm để đợi chờ bâng quơ một người không hẹn. Nàng cũng cảm thấy là chàng rất vui khi nhận được thư nàng, là nàng đã đem lại cho chàng một nguồn thơ không tình ý. Tuy nhiên nàng lại chưa mơ mộng chuyện tình viển vông gì với chàng, vì nàng biết cả hai đều có những niềm riêng chưa thể nào san sẻ được cho nhau. Nàng cũng biết là mối quan hệ trên làn sóng điện tử vô cùng mơ hồ vô lý, mình nghĩ là đã có cảm tình với người viết hay người gửi thư, nhưng thật ra chỉ là một mình đối diện với cái máy vô tri, và "người" lại chỉ là những dòng chữ, những tín hiệu lúc cười lúc giận. Bản tính mơ mộng nhưng nàng lại không tin vào những cuộc gặp gỡ không nguyên do, giống như mùa thu gió có thổi lá đến bên thềm thì rồi lá cũng tự mình bay đi cùng gió. Chừng nào lá từ cây trong vườn nhà nàng thì nàng mới chắc là lá sẽ ở lại với mình cho đến cuối mùa lá rụng. Thì nàng biết tính mình đa nghi. Nên nàng nhất định chưa chịu cho chàng thật sự len lỏi vào cái khoảng trời riêng êm ả của nàng.
Mấy hôm nay nàng đâm ra chăm tập đàn. Bà giáo người Nga, mỗi tuần đến nhà dạy dương cầm cho nàng một lần, đang tập cho nàng bài "Thiên Nga." Nàng thích bài này lắm vì nó làm nàng liên tưởng đến vũ khúc ballet "Hồ Thiên Nga" của Tchaikovsky. Nhạc mở đầu cũng dịu dàng êm dịu như cảnh hồ đêm đầy trăng. Không gian chìm lắng bình yên chờ đợi nàng thiên nga từ từ xuất hiện. Nhưng chỉ có một nàng thiên nga đơn lẻ, không có bầy thiên nga cùng xao xuyến dưới trăng vàng, và chàng hoàng tử thì không đến để mang cho nàng tình yêu. Chỉ có một mình thiên nga hoang mang giữa trời đêm, rồi vì cảm xúc vầng trăng, muốn hóa mình bay cao vào vũ trụ. Nàng đã suy diễn bài nhạc ra như vậy khi đàn, và cố gắng tập làm sao cho, khi thiên nga bắt đầu cất cánh, tiếng đàn kết thúc phải thật êm đềm và suông sẻ. Nếu không, nàng cho rằng thiên nga sẽ chẳng bao giờ cất cánh được, và như thế, suốt đời vẫn sống quanh quẩn trong cái hồ gương quen thuộc... Từ nhỏ, nàng đã tỏ ra có năng khiếu về âm nhạc lắm. Dù cha nàng rất khó và cấm cản không cho các cô con gái học đàn, năm lên mười ba, nàng đã lén cha đi học guitar cổ điển một mình, bị gián đoạn vì chiến tranh, rồi lại học lóm từ bạn bè để có thể tự đệm đàn cho mình hát. Nàng rất mê tiếng dương cầm, mơ ước được đàn những bài Nocturne của Chopin một lần trong đời. Tuy nhiên chỉ có một nửa ước mơ của nàng được thành sự thật, vì mãi đến hơn mười năm sau nàng mới sắm được cho mình một cây dương cầm và bắt đầu tập tễnh những bài cổ điển đầu tiên. Còn Nocturne của Chopin thì nàng thầm hẹn thêm mười năm nữa, vì bây giờ nàng nhiều việc để làm để nghĩ quá, đâu còn là một cô bé mười ba, chỉ biết mỗi một việc là chăm chỉ tập đàn?...
Nàng đâm ra chăm tập đàn vì nàng không muốn nghĩ đến chàng. Nàng chưa muốn có tình ý gì với chàng, nhưng khi không nàng thấy mình hay chờ đợi. Nàng sợ có thói quen của những người bị hút vào làn sóng điện tử, từng ngày buồn vui theo tiếng ping từ chiếc hộp thư xinh xinh trên màn ảnh máy điện toán. Nàng ghét cái cảm giác chờ đợi, "thuở chờ đợi ôi thời gian rét lắm", nên khi lòng bắt đầu thấy bồn chồn, nàng chạy trốn bằng cách đi tập đàn. Nhưng chiều nay tâm hồn nàng của đi đâu đâu, những ngón tay chạy trên phím đàn bối rối và nhiều vấp váp. Nàng vốn đã có tật hay đàn tự do theo ý mình, nhất là ở những đọan đệm lối arpegggio, nên khi nào nàng bình yên, tiếng đàn nghe rất êm đềm và tràn đầy mơ mộng. Những lúc ấy nàng nghĩ, thiên nga sắp bay xa rồi. Giống như con chim non đã đủ lông đủ cánh sắp rời tổ chim mẹ, thiên nga đang hân hoan giã từ bụi lách bờ lau trước khi hóa thành chim trời biến vào vũ trụ. Gió khẽ reo mừng, hồ nước buồn xo. Mặc dù chính nàng cũng không hiểu làm sao mà thiên nga có thể bay cao, nhưng nàng vẫn cứ mơ mộng cho thiên nga của nàng được bay như thế. Nhưng chiều nay thiên nga không chịu bay. Những ngón tay thon nhỏ của nàng liên tục gõ sai nốt, có khi lại ấn mạnh vào phím đàn như bồn chồn giận dữ, có khi hời hợt thẩn thơ như lơ đãng do dự. Rồi tới đoạn kết, nàng đã vấp váp một cách thảm thê, nốt cuối cùng hoàn toàn ngân sai giọng... Nàng thở dài cúi mình trên phím đàn, ngắm những ngón tay bướng bỉnh của mình rồi tự nhủ: ừ thì thôi, thiên nga sẽ ở lại... Ðể làm quen với tình yêu, chắc cũng chẳng sao...
hoàng quỳnh lan
Jan. 26, 97