vhnt, số 348
26 November 1997
Trong số này:
thư vhnt..............................................................NPN/BBT
T h ơ :
1 - Bụi tro ....................................................Thận Nhiên
2 - Chiều mùa thu ................................................Song Vinh
3 - Ôi đất nước tại sao là tổ quốc ..................Hoàng Bắc
4 - Sau chiêm bao ......................................................Chinh
5 - Quãng lặng ................................................Quang Thành
6 - Trên cao .........................................................Cỏ May
7 - Ðêm Thùy Dương .....................................Trần Thái Vân
8 - Không có gì quan trọng ..................................Phạm Chi Lan
D i ễ n Ð à n V ă n H ọ c :
9 - Chuyện Bên Lề Tuyển Tập 2 của Văn Học Nghệ Thuật ........................Thạc Nhiên
T r u y ện N g ắn / S án g T ác :
10 - Giấc mộng văn sĩ ..................................Ðinh Yên Thảo
11 - Chốn chẳng rời ......................................Trầm Hương
Bạn,
Ðời sống tập cho chúng ta những thói quen, những thường lệ. Ðó, là lẽ tự nhiên.
Khi đối diện với những ngoại lệ, chúng ta dè dặt trước khi chấp nhận. Ðó, cũng là phản ứng tự nhiên. Ngay cả trong sáng tạo.
Ðã tự bao giờ, những bài thơ có vần điệu, có niêm luật đã trở thành quen thuộc. Dù nội dung sâu sắc hay đơn giản, chúng ta chấp nhập nét hài hòa trong tiết tấu âm điệu của chúng.
Những bài thơ bạn đọc trong số VHNT này nằm trong trường hợp thứ hai. Những lối ngắt câu bất thường, những cấu trúc cá biệt. Những gì chúng chuyên chở ngân vang vào chiều sâu của mặc tưởng. Của cảm nhận.
Hình dung ra hình ảnh của thi sĩ. Là một người đứng trên cây cầu bắt ngang một dòng sông rộng.
Thi sĩ của vần điệu rung động với trời cao mây nước, với ánh tà lấp lánh giang ba.
Thi sĩ của cõi thơ tự do nhìn vào lòng sông, chiêm nghiệm xem chất chứa điều gì dưới đáy.
Thảng hoặc, có những thi sĩ lao hồn vào dòng sông ấy. Trụ ý. Trầm tim.
Hạnh phúc, là chúng ta. Khi tao ngộ cùng những tác phẩm thành hình từ những phó thác trọn vẹn của linh hồn, vào ngôn từ, đó.
Gửi bạn đọc vhnt số này, với những sáng tác được gửi đến như những tâm tình được nâng niu và chân thực.
Chúc bạn một mùa lễ Tạ Ơn ấm êm và an lạc.
thân ái,
npn/vhnt
Lời Bụi Tro
lặng lẽ
giọt nước mắt hiếm hoi
giờ sau cùng của đời sống
người nhẹ như vong linh
nghìn trùng chưa đan vào nhau
đã hun hút sâu nỗi đau
giữ bàn tay hằn đường gân xanh
nhìn sâu mắt nhau
và nói tiếng yêu
sao chẳng thể níu vai cho đến tận mai sau
thoáng run gò má nhăn
lời thứ tha vừa kịp nói lên
chiều hắt nắng lên màu gối nhầu
sợi bạc rối sao buộc đời nhau
một cành lan trong ly thủy tinh
cuối hành lang tiếng trẻ khóc oa
tô son mới lên vành môi úa
nghẹn ngào lời thương ca
ôi ngày xuân xưa
sao đành là bụi tro
Thận Nhiên
Renton, WA
Chiều Mùa Thu
Tôi về một buổi chiều mùa thu
Những chiếc lá bỏ cây về cùng đất
Có bầu trời mây ảm đạm
Dường như trên ngọn gió lạnh
vài tiếng gọi
Hay chỉ là hư ảo của hoàng hôn?
Giảng đường bụi giăng đầy
Mốc mêu dăm trang sách mục
Những người ra đi bỏ lại
Mà sao đâu đây còn tiếng nguyện cầu
Tiếng nguyện cầu vang dội trên những hành lang
trống vắng
Ðôi mắt đục nhìn vào màn dêm
Dường như trên ngọn gió lạnh
vài tiếng gọi
Kể lại những câu chuyện ngày qua
Tháng năm vô tình, người đi hờ hững,
cuối trời mây bay...
Rít hơi thuốc thật sâu
Ðốm lửa bập bùng
Ngày mai tôi ra đi
Kỷ niệm của tôi ở chốn này thêm được
một buổi chiều mùa thu
SongVinh
Ôi Ðất Nước Tại Sao Là Tổ Quốc (+)
Ðất của Mẹ sao đói khổ từng đời
tôi lớn lên và đi xa
Có lúc nhớ về
Có lúc quên đi
Một giải đất phì nhiêu mà bao đời
ly tán
Những ngày đi tôi sống thở
Bằng trái tim người Mỹ
Hồn nhiên - Chân thật - Hồ đồ
Yêu đất này như một phần thở của tôi
Thị trường lên tôi cười như trẻ thơ
Thị trường xuống tôi xanh mặt nhớ ngày
lầm lũi
Những đêm về tôi ngủ có lúc nằm mơ
Bằng tâm hồn Việt còn trăn trở
Có giọt nước mắt rơi xuống tình cờ
vô tri - vô giác
Giữa bầu ngực em căng tròn sự sống
Còn xúc động chuyện nhân sinh
Còn ôm giữ những mảnh hồn tôi
tan tác
Ôi đất nước tại sao là Tổ Quốc
Tim tắc nghẹn những lúc nhắc về
Ðất ngàn năm mà vẫn đói từng giờ
Ðói từ thời lập quốc
Ðói từ thời Bắc thuộc
Ðói từ thời Việt Nam
được gọi là xứ xở
Nơi tôi lớn lên và đi xa
Có lúc nhớ về
Có lúc quên đi
Một giải đất phì nhiêu mà bao đời
nheo nhóc
Hoàng Bắc - NY97
(+) không nhớ ý thơ của ai
Sau Chiêm Bao
(của QG)
Sau chiêm bao còn gì
anh và em
và không gian đen
giật thót người
thắp lên heo hắt nến
chút cảm thông cuối ngày vụn vỡ.
Lâm râm khấn nguyện một điều gì
thay vì nói lời thú tội với bóng mình
nghe chút tủi hờn của ngày tháng muộn
khi giây thời gian
kéo đời nghiêng xuống
rửa sạch lòng
cho một kiếp khác
Ðày đọa thêm một lần.
Sau chiêm bao còn gì
một ngày dài
thử sống một ngày không ước vọng
Ðời không dành nhiều ghế trống
ăn nằm không cần thoả hiệp
thở những hơi rũ rượi
trót nghe cùng tiếng lá
anh và em
còn lại
như chỉ để còn lại với nhau
sau chiêm bao chẳng có điều gì đáng nói
chút dịu lãng cuối cùng
chực chờ mất mát.
11/10/97
Chinh
Quãng Lặng
tặng K. T.
Ðêm treo dòng nhạc chơi vơi lấp lánh
ngân nốt trầm đau
lao xao gợn sóng hát ru đôi bờ trầm luân
ai ngồi nghe
bóng hắt tịch liêu đường về khấp khiểng
sầu theo sóng vỡ
dài đêm sánh đen
nhịp đỗi rã rời
quắt quay khoảng lặng
chìm tăm bóng mình...
Ðêm!
lóe mặt sông đường rơi vô định
ai ngã lòng bàn tay
chắt chiu từng giọt đau cô đặc
ngân nốt trầm...
Ðau mãi
Ðường về sau
Ðối Diện
Ðêm
Ðập nát cơn mộng
em và tôi tĩnh động
lạc đường sao rơi
vỡ.
Chợt thấy mắt ta
dại trong huyết dụ
khóe rách giọt xanh
nhờ bàn tay
vẫy.
Quang Thành
Việt Nam
Trên Cao
Trên cao gió cuốn mù
Vụt bay lời chia tay rời rã
Những cặp mắt nhìn ra hai phía
Những bàn tay không siết chặt ngón cội nguồn
Và giọt buồn rơi vãi ở quanh tôi
Trên cao lá xoáy tròn
Rụng hoài như dấu hỏi
Xuống đời tôi muộn phiền
Trên cao và đâu đây
Anh vẫn còn ôm cây đàn cũ kỹ
Nơi em về ngày vui không em
Nơi em về trời xanh không em
Tôi bịt tai chạy trốn
Quá khứ là bóng ma
Ám ảnh
Nơi tôi về không có anh
Làm sao vui một giọng cười
Nơi tôi về không có anh
Thiếu trước hụt sau những nụ đời
Và tôi
Trong vòng tay của niềm vui
Chỉ còn là những giọt buồn rơi vãi
Tháng 11 '97
Cỏ May
Ðêm Thùy Dương
Yên lặng
dòng nhạc trầm
tiếng hát thì thầm
cuộc đời hư không, vời vợi
buồn
Em hát cho tôi
dòng nhạc mặn bờ môi
cay xè ánh mắt
đêm, ôi đêm vằng vặc
màu thân phận ngàn năm
có một chút gì se sắt
trong tim
và ánh đèn lay lất
Không, em hát cho người
tôi vẫn biết
đôi mắt
làn môi
dòng tóc chảy
bềnh bồng theo âm điệu
tôi mơ màng về một chữ
nếu
Khuya
không ngủ
tìm tôi trong giọng em thoang thoảng
lả lơi
bồi hồi
như giấc mộng
đêm đèn màu Cali
hay đêm nồng hương đông Mỹ
tôi vẫn đi trên còn đường bé tí
riêng mình
trong những tưởng tượng xôn xao
và nôn nao
vô nghĩa
Sáng
rã rời đường gân thớ thịt
giọng em còn vang
trong tôi một âm hưởng, và
cảm giác nhẹ nhàng
bâng khuâng
như ngày mới lớn
cảm ơn em
cho đời còn thi vị
cảm ơn...
trần thái vân
Không Có Gì Quan Trọng
1.
đây là chiếc ghế
chỉ là một chiếc ghế
mà
cha tôi đã ngồi đấy
mẹ tôi đã ngồi đấy
bạn tôi đã ngồi đấy
bây giờ ...
ghế ngồi đó
một mình
2.
tưởng tượng
mưa liền một tháng
mưa rửa sạch tất cả
cả những hạt bụi
bám vào thể xác tôi
nặng nề
3.
ai cũng đang mơ một điều không tưởng
và một ngày
người ta sẽ chết với giấc mơ của mình
với một nụ cười ngu ngơ
4.
không có gì là quan trọng
cả chiếc ghế này
cả những hạt bụi này
và những giấc mơ
và những hạt nước mưa
từ trời kia ...
không có gì quan trọng
ngoài một nụ cười ngu ngơ
1992
Phạm Chi Lan
Câu Chuyện Bên Lề Tuyển Tập 2 của Văn Học Nghệ Thuật
Mỗi khi đón nhận hay thưởng thức một tác phẩm nghệ thuật, tôi thường tìm hiểu động lực nào thúc đẩy tác giả hoàn tất tác phẩm của mình. Bởi niềm rung động trong tôi sâu lắng hơn khi tôi biết tại sao Vincent Van Gogh vẽ Starry Night. Bởi niềm cảm nhận trong tôi vời vợi hơn khi tôi biết tại sao Tô Thùy Yên sáng tác Chiều Trên Phá Tam Giang.
Tôi đến với Tuyển Tập 2 của Văn Học Nghệ Thuật (VHNT) cũng thế. Ngoài những nhận xét về hình thức cũng như nội dung của một người thưởng thức, tôi muốn biết tại sao giữa thời buổi nghệ thuật văn chương đang bị lạm phát này, lại có một tác phẩm như thế ra đời. Hơn thế nữa, trong thế giới hỗn tạp của nền văn hóa liên mạng, nơi mà thơ văn nhan nhản những sáng tác làm-nhanh-gửi-nhanh-hơn, lại có sự ra đời, trên mặt giấy, một đúc kết nghệ thuật thật lẻ loi và khan hiếm như vậy.
Ngay từ khi câu hỏi được đặt ra, tôi đã tìm được câu trả lời. Nó không nằm đâu xa, mà ngay trong tâm thức tôi. Câu trả lời xưa như trái đất. Giãn dị. Và hơi phũ phàng. Tôi nghiệm ra rằng trong môi trường sáng tạo nghệ thuật, đa số thuộc thành phần thưởng thức. Một số ít sáng tạo cho một số đông đón nhận. Ở thế giới liên mạng, sự thưởng thức đôi khi đã đi đến tình trạng hưởng thụ. Xem nào, mỗi tuần tôi nhận 1, 2 số VHNT. Tôi ghi tên vào một vài diễn đàn thơ văn để mỗi ngày nhận được vài bài thơ, truyện ngắn của ai đó gửi lên. Thấy hợp thì đọc. Không thích thì tôi loại bỏ. Không có giờ thì tôi cất nó vào hồ sơ lưu trữ điện tử, khi nào hứng (và rảnh) thì lôi chúng ra đọc.
Tôi nhận thức trong sự tiện lợi và nhanh chóng của kỹ thuật liên mạng, tất cả mọi thứ đều được quảng bá hay phổ biến đến mình mà không cần tôi phải nhọc công đi sưu khảo tìm tòi. Đã tự bao giờ, tôi đã không tìm đến tiệm bán sách quen thuộc gần nhà, để thấy hạnh phúc khi tìm được một cuốn sách cũ kỹ nằm khuất trong một góc tủ nào đó. Đã tự bao giờ, tôi không còn đi đến viện bảo tàng để thưởng lãm và nhận thức những tác phẩm hội họa chỉ vì mình thật sự trân trọng các tác phẩm và muốn tìm hiểu thêm về tác giả.
Nghệ thuật sáng tạo vốn là một con đường hai chiều. Người sáng tạo trao đi và người thưởng ngoạn tìm đến. Nhưng trong thế giới liên mạng, sự tìm đến của người thưởng ngoạn thật hiếm hoi. Nó chỉ còn là sự đón nhận và tiêu thụ. Và ở đó, nghệ thuật trắc trở, sáng tạo nhọc nhằn.
Với Tuyển Tập 2 của VHNT, tôi không muốn nói nhiều về nội dung hay hình thức của nó. Điều tôi suy ra là nó được thực hiện bởi những tâm hồn yêu quý và trân trọng nghệ thuật. Bởi nếu không là như thế, chẳng cớ gì mà ai đó lại tốn công lựa chọn bài vở để soạn thành từng số VHNT gửi ra cho tôi đọc hai lần một tuần. Bởi nếu không như thế, chẳng cớ gì ai đó lại ngồi tuyển chọn các sáng tác từ những số VHNT để đúc kết lại thành một tặng phẩm chung, để mong trao đến những người biết nâng niu nó, biết yêu thích nó.
Hóa ra, trong thế giới liên mạng, sáng tạo và nghệ thuật cũng do một số ít tác tạo cho một số đông đón nhận. Và trong số đông đón nhận đó, số người đam mê nghệ thuật đủ để tự tìm đến, để nâng niu, để ghi khắc, lại rất hiếm hoi.
Nghệ thuật vốn mang một nghiệp dĩ cô độc. Sáng tạo tự nó là một hành trình cô độc. Niềm vui của những trái tim cưu mang nghiệp dĩ đơn độc đó là bắt gặp những đón nhận (và ghi nhận) tương xứng từ người thưởng thức. Hạnh phúc của những tâm hồn chọn bước đi vào hành trình cô độc của sáng tạo là biết có người tìm đến để chia sẻ từng thông điệp được phó thác vào mỗi tác phẩm.
Với ngần ấy tâm tình, tôi trải lòng mình ra khi nhận được Tuyển Tập 2 của VHNT trên tay. Rất hạnh phúc, vì mình vừa tìm được một tác phẩm văn chương nghệ thuật đúng nghĩa, vốn hiếm hoi, giữa một chợ trời văn hóa liên mạng vàng thau lẫn lộn này.
Thạc Nhiên
11 - 97
Giấc mộng văn sĩ
Năm chuẩn bị thi lên lớp sáu, ba tôi chẳng khuyên bảo gì nhiều, ông chỉ nói ngắn gọn:
- Nếu con thi đậu, ba thưởng một ngàn.
Một ngàn thời giá lúc bấy giờ bao nhiêu tôi cũng chẳng nhớ nữa. Chỉ biết rằng nó lớn bộn. Có thể ăn bánh mì gà, nguyên cả ổ, cả tuần. Lại dư tiền ăn chè bắp và mua một lô truyện tranh "Hiệp sĩ mù" in lem luốc trên giấy trắng đen. Nói chung là xài mệt nghỉ. Thấy tôi hớn hở, ông tiếp:
- Còn nếu con thi rớt thì ba cho mười ngàn.
Tôi trố mắt. Thi đậu thưởng có một ngàn, mà thi rớt lại cho đến mười ngàn, tưởng ông nói lộn:
- À! Để con làm vốn, nghỉ học mà đi bán vé số - Ông tiếp, cũng nhẹ nhàng như câu nói đầu tiên...
Tất nhiên là tôi chẳng hề muốn đi bán vé số, nên năm đó tôi đậu. Ba tôi mừng lắm, bởi mộng của ông là lớn lên cho tôi học kỹ sư, bác sĩ với người ta, mặc dù tôi lúc nào cũng nằm trong "top ten" dở nhất lớp. Cha mẹ Việt nào chẳng muốn cho con mình lớn lên học kỹ sư, bác sĩ. Tôi cũng biết mấy nghề kia ai cũng thích. Gọi là để giúp đời. Nhưng riêng tôi thì lại khâm phục ông bán kẹo kéo trước cổng trường tôi. Cứ treo một đầu khúc kẹo vào cái móc trên gốc điệp già, đứng cách xa cả hai thước mà tung, kéo khúc kẹo cho đến khi nó dẻo như... kẹo kéo mới thôi. Trông hiên ngang như hiệp sĩ mù tung kiếm.
Nhưng tôi không mơ lớn lên đi bán kẹo kéo mà mơ thành... nhà văn (lúc đó còn nhỏ nên không biết từ "văn sĩ"). Cũng chẳng có lý do gì đặc biệt hết. Chủ yếu là tôi mê đọc truyện tranh nhiều tập như Hiệp sĩ mù, Tiểu lưu manh, Tintin... nên mơ thành nhà văn mà thôi. Riêng tư một chút thì có con nhỏ Bé Tư sát nhà dính líu vào. Nó chỉ có mấy cuốn truyện tranh "Bạch Tuyết" hay "Hoàng tử da lừa" gì đó nhưng chẳng đời nào cho tôi đọc ké. Nó chê chân tôi có ghẻ, đọc chung sợ... bị lây. Thiệt dễ giận. Tôi mà thành nhà văn thì viết truyện tranh cho nó đọc thả giàn luôn.
Giấc mộng văn sĩ của tôi lớn dần theo chiều cao tôi. Nhưng càng lớn tôi càng thấy có nhiều trở ngại, khó khăn để trở thành văn sĩ. Năm cuối bậc trung học, tôi nói chuyện với thằng Tâm chung lớp:
- Mai mốt tao sẽ sống bằng ngòi bút ...
Nó nheo mắt, không đợi tôi dứt lời:
- Biên số đề hả?
Tôi chửi thề:
- Mẹ! Mày phàm phu tục tử, chẳng hiểu gì hết. Ý tao là viết văn, làm văn sĩ biết chưa ...
Nó cười bảo tôi:
- Mày mới phàm phu tục tử. Làm văn sĩ phải lịch sự, ngọt ngào, đâu được chửi thề.
Tôi nghĩ bụng "Bộ làm văn sĩ là đàng hoàng sao? Khối thằng mất nết...". Nhưng về sau, chỗ đông người tôi cũng chẳng hề dám chửi thề, dẫu nhiều lúc bực mình muốn "xổ nho" vài tiếng nhưng cũng giả bộ lịch sự, nói nói cười cười. Làm văn sĩ khó thật. Lưu manh nhưng cứ giả bộ đạo đức, đàng hoàng.
Lại nữa, năm cuối cấp cô giáo dạy văn cho chúng tôi bình giải hai câu đối của Ngô Thời Nhậm, nhân sĩ Tây Sơn với Đặng Trần Thường, quan triều Lê: Ai công hầu, ai khanh tướng, trên trần ai, ai dễ biết ai với Thế Chiến quốc, thế Xuân thu, gặp thời thế, thế thời phải thế.
Tôi hào hứng phân tích, bình giải cái hiên ngang kẻ sĩ lúc sa cơ. Đem cả thơ của Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ vào luận bàn, minh chứng. Thiếu điều đem cả thơ của tôi vào nữa thôi, bbởi lúc đó, thơ tôi toàn những câu đại loại như:
Anh đứng bên đường,
Đợi em tan trường,
Thấp tha thấp thỏm,
Như chó đợi xương..."
chưa có "chí trai" chút nào thì làm sao mà đưa vào.
Ngày phát bài, tôi cũng nhấp nhổm. Chắc mẩm phen này vừa được điểm cao lại vừa được khen sớm có "chí trai". Chụp bài văn viết dày đặc ba tờ giấy đôi từ thằng lớp phó, mặt tôi ỉu xìu như ... con gái lúc bị chê. Bốn điểm. Và lời phê cũng ngắn gọn: "Chữ viết xấu quá". Chẳng ăn nhập gì đến bài luận văn cả. Tôi đâm hoang mang. Không hiểu bài văn mình chỉ đáng bốn điểm hay tại chữ xấu nên bị bốn điểm. Nhưng nhờ vậy, sau này tôi học được rằng đôi khi người ta chú ý, bắt bẻ nhiều điều vụn vặt khi đọc hơn là thật tâm hiểu người viết. Hoặc hào phóng suy diễn cả những điều mà người viết chẳng hề nghĩ đến. Vậy mới bảo làm văn sĩ đâu có dễ.
Lớn lên, tôi vẫn giữ y giấc mộng văn sĩ. Cứ viết ù ù cạc cạc cũng có ngày người ta kêu mình là văn sĩ mà thôi. Làm văn sĩ thì khó chứ trở thành văn sĩ dễ còn hơn làm... nước mắm. Làm nước mắm phải có nghề, có dụng cụ và phải xin giấy phép hành nghề. Đủ cái nhiêu khê. Còn làm văn sĩ đâu cần gì giấy phép hay bằng hành nghề. Nên thiếu gì cha có viết chữ nào đâu mà cũng xưng danh túa bụa, đủ cái nhãn hiệu văn bút nọ kia.
Làm văn sĩ nên dăm lúc được ngồi chầu rìa mấy thi sĩ, văn sĩ "cổ thụ" (thật ra tôi ghét từ "cổ thụ", nó làm tôi hình dung đến chim chóc làm tổ, phóng uế lên đầu ngọn cây, chứ có nghe thanh tao gì đâu). Ngồi nghe mấy ổng giảng giải, tôi mới giật mình. Không phải người khác kêu mình là văn sĩ là mình thành văn sĩ được. Phải đợi mấy ổng công nhận, mình mới thành văn sĩ hay thi sĩ được. Mà mấy ổng thì nào có công nhận ai đâu. Ai cũng dở, cũng không hiểu hết cái thâm thúy tiếng Việt (!?) làm sao viết văn được. Tất nhiên ngoại trừ mấy ổng với nhau. Gọi là ngoại lệ (cái này trong vật lý, người ta gọi là thuyết Tương đối của Einstein).
May mà khi gặp mấy ổng thì tôi cũng đã lỡ có mớ truyện làm vốn rồi, bằng không gặp mấy ổng rồi thì chỉ có nước quăng cây bút cái cạch. Mấy văn sĩ "cổ thụ" bảo rằng "chú viết thế này có mà 'hiếp dâm' tiếng Việt ..." thì còn ma nào dám viết gì nữa (khiếp văn sĩ "cổ thụ" thì bạo mồm bạo miệng đến thế là cùng).
Nhưng điếc đâu sợ súng cối. Sau khi hết gặp mấy ổng rồi thì tôi lại quên ngay những lời vàng ngọc ấy. Có lẽ tại tật đãng trí, dầu tôi chưa phải là thiên tài. Đằng nào tôi cũng phải thực hiện giấc mộng văn sĩ của mình. Phải in sách. In sách để trở thành văn sĩ và làm văn sĩ phải in sách. Không thì người ta cười. Bà Mỹ Miều chủ tiệm cho mướn phim bộ Hồng Kông, ca nhạc còn ra mắt ầm ĩ tới cuốn thơ thứ ba rồi mà, huống hồ tôi đã viết bao năm nay. Biết đâu có xuất phẩm, tên tuổi mình lại bay cao như bong bóng, người ta mua ào ào lấy lại vốn cả lời mấy chốc.
Thằng bạn tôi cố vấn:
- Mày viết truyện và làm thơ đều dở như nhau, nên mày phải in... hai cuốn. Một cuốn truyện và một cuốn thơ.
Cái kiểu nói xóc hông của nó tôi đã quen, nhưng coi bộ không hiểu ý nó lắm.
- Người thích thơ thì... đọc truyện, còn người thích truyện thì mày bán thơ cho họ đọc. Thế nào cũng có người khen hay. Vậy là mày nổi lều bều hơn cả lục bình ...
Thằng bạn quân sư quạt máy của tôi hay xóc hông nhưng thiệt ra tốt bụng. Hai thằng bắt đầu chọn từng bài thơ, mẫu truyện tôi viết bao năm nay cho đủ hai cuốn sách. Rồi thì đánh máy, minh họa, trình bày... Đủ mọi cái cực khổ. Rồi so đo đi tìm từng nhà in, giá mắc giá rẻ, giấy trắng giấy đen. Cuối cùng cũng xong. Bữa cầm trên tay mấy cuốn sách còn thơm mùi giấy từ nhà in gửi về, tôi mừng húm. Giấc mộng văn sĩ của tôi đã thành sự thật. Giấc mộng cả đời người đâu phải ai cũng có cơ hội thực hiện được. Mà mình không thực hiện, lỡ đi đường thằng nào say rượu chạy cọ quẹt, cho mình đi theo diện "đoàn tụ ông bà" sớm thì có mà tiếc không kịp thở. Bởi vậy in được sách, tôi mừng lắm, dẫu phải thiếu nợ tùm lum. Tiếc một điều là thằng bạn quân sư của tôi vừa đi công tác xa đôi ba tháng, không ở nhà mà chia sẻ cái nỗi vui sướng của tôi.
Niềm hân hoan cũng đâu được tuần đầu khi tôi hào phóng ký tặng bạn bè túa búa. Phải tìm cách tiêu thụ chớ. Bạn bè, người quen tôi hào phóng cũng chỉ tặng được vài chục cuốn là nhiều. Cũng chưa chắc chúng đọc. Có thằng lại bỏ trong cốp xe, chung thùng đồ nghề sửa xe thì có mà xót ruột. Cũng có thằng mình gói dán, ký tặng đàng hoàng gửi đi nhưng cũng chẳng nghe tiếng cảm ơn hay báo tin đã nhận được gì cả. Nhưng cũng phải tặng. Thiệt nhiêu khê. Nhìn mấy chục thùng sách chất ngổn ngang trong nhà mà lòng ngao ngán. Qua cơn vui là nỗi lo. Chơi dại bây giờ lấy gì mà trả nợ.
Bữa cha Bảy chủ tiệm phở Đời Tân ghé chơi, thấy sách, chả hỏi:
- Chà, in sách hả? Dữ hè.
Rồi tự nhiên cầm lên một cuốn hỏi ngang phè:
- Có cho hông? Bữa nào phở ế tôi ngồi đọc lai rai cho qua ngày.
Thấy tôi nhìn trân trân, dường như hiểu ý, chả tiếp:
- Vậy chớ sách in ra không cho để làm gì? Nếu ông muốn đem ra chỗ tiệm phở tôi để cho thiên hạ đến ăn phở lấy đọc...
Giận thiệt giận, nhưng tôi vẫn giữ vẻ bình thản (văn sĩ mà lị) - "Sách cứ như là phở tái không bằng" - tôi lầm bầm nhưng cũng xã giao cho qua chuyện:
- Ừ, anh cứ lấy một cuốn coi đi. Còn sách của tôi là bao nhiêu công sức và tiền bạc đổ vào, tôi sẽ bán lai rai lấy lại vốn chớ ...
Gã cười hề hề, cầm cuốn sách đi về, để mình tôi lại nhìn đống sách mà ngao ngán.
Hai tháng sau thằng bạn quân sư của tôi về. Câu đầu tiên nó hào hứng hỏi ngay khi gặp tôi:
- Sao? Bán khá hông mày?
Tôi cười như méo:
- Bán cũng bộn lắm mày. Một cái dàn máy, cái ti-vi, với cây guitar cũng đi tong luôn. Tao phải trả nợ in sách chớ. Đống sách còn y nguyên đó. Tao đang coi còn cái gì đáng giá trong nhà nữa thì bán luôn cho đủ trả nợ. Bán bạo...
Nó nhìn tôi, há hốc mồm. Không nghe tôi lẩm bẩm một mình "Chắc phen này phải đem sách ra để ngoài tiệm phở cha Bảy cho thiên hạ lấy free mà đọc thôi..."
Ôi! Giấc mộng văn sĩ của tôi. Đoạn trường ai có qua cầu mới hay. (Kiều)
Đinh Yên Thảo
CHỐN CHẲNG RỜI
Nàng gọi hắn là bạn nhỏ. Nhỏ vì hắn nhỏ hơn nàng...1 tuổi, học nhỏ hơn nàng ...1 lớp, và chiều cao hắn chỉ... nhỏ bằng nàng. Mà cái gọi là chiều cao của nàng thì theo đúng tiêu chuẩn của ông Duy Lam về đinh nghĩa của một người Việt Nam trung bình, nghĩa là con trai tên Nguyễn Văn X..., cao 1m60, và con gái tên Nguyễn Thị Y., cao 1m50. Có lúc, nàng hồ nghi mình có lẽ đúng là người Việt Nam-trung-bình thứ thiệt.
Lý do là đi ngoài đường, nàng hay bị mấy chàng kè xe bên cạnh, kêu lên... thảng thốt: Có phải cô tên Dung (Lan, Lý, Hồng, Huệ, v.v...), nhà ở ( Ngã ba Ông Tạ, Ngã Năm chợ Ðũi, kế Cầu ông Lãnh...v.v...) Toàn những đia danh ăn uống... chồm hổm nàng đâu có chịu. Dĩ nhiên là nàng phải tức cười (Tánh nàng dễ cười mới chết!). Kèm theo nụ cười, nàng nhiệt tình cải chính liền liền rất lịch sự : Dạ, có lẽ anh lộn người Tôi tên Hương... Thế là mười lần như một, mấy chàng tiếp tục theo nàng đường trường xa, con cá nó ca cải lương. Báo hại nàng chỉ còn cách ngắm nghía đia hình, đột nhiên vọt ga thật nhanh, nhào đại vào con hẻm nào đó bên đường, vòng qua quẹo lại tá lả đi trốn. Không ít lần, nàng cũng bị lạc luôn trong cái mê hồn trận do chính nàng sáng tác! Nàng cứ thắc mắc hoài về dung nhan "người-Việt-Nam-trung- bình "của mình. Một ngày, ấm ức không thấu, nàng đành hỏi ông anh kế tuổi. Anh lăn ra cười, giải thích đó là bài vỡ lòng tán gái của mấy anh chàng... nhà quê. Từ đó, mỗi khi gặp mấy chàng ngây thơ, nàng phải bấm bụng, biểu diễn một khuôn mặt nghiêm và buồn, ra điều con nhà, không nói chuyện cùng người lạ. Phương sách này khá hữu hiệu. Nàng không quen bạn nhỏ kiểu đó. Lớp bạn nhỏ nhập học gây nên một xáo trộn lớn cho ngôi trường chuyên đào tạo những người... nghèọo. Ðó là những người được mệnh danh là họa sĩ. Lớp hắn có 5 cô con gái, cô nào cũng đẹp, trội nhất là Ngọc. Ngọc cao, chân dài, trắng trẻo, chuyên mặc mini jupe, nói giọng Hà Nội. Ða số lớp hắn là dân trưng Tây thi vào nên cái nghệ sĩ tính và tự nhiên tính dưng như đều quá độ. Chẳng thế mà chỉ sau vài tuần lễ khai giảng, trước cửa văn phòng đã oai nghiêm một thông cáo yêu cầu sinh viên nên... đứng đắn, không nên có những hành vi âu yếm lộ liễu nơi công chúng. Cả trường xem xong đều oà ra cười Hắn cũng không có gì khiến nàng phải để ý ngoại trừ chuyện hắn và Võ lúc nào cũng đi hai bên Ngọc như...kèm kem. Một trưa tan học, nàng đang yểu điệu thong thả trên hành lang trường thì có tiếng chân cứ theo nàng sau lưng. Một lúc thì tiếng chân vượt đến bên nàng và giọng Ngọc reo vui: Tri ơi, Hương mà ta cứ tưởng ai. Nãy giờ đi sau, ta cứ nói với nhóc tì và Võ, con nhỏ nào mà dáng trông mi-nhon thế. Té ra là nhà ngươi... Nàng còn đang ngượng chín người vì cách làm quen tự nhiên như đầm của Ngọc thì Ngọc đã quay sang hắn lảnh lót: Ê, nhóc tì, mua dùm cho Ngọc và Hương 2 ổ bánh mì thịt nghé Hắn cười, hỏi nàng rất tỉnh: Hương muốn ăn gì khác nữa không? Uống nước chanh muối nhé! Chao ơi, hắn nói như thể đã thân thiết nàng từ lâu, lại còn không thèm cả gọi nàng bằng chị nữa mặc dù nàng học trên hắn một lớp và còn hơn hắn cả những... một tuổi. Từ đó, nhóm ba người của Ngọc có thêm nàng. Mỗi trưa ở lại trường, cả bọn thường kéo nhau ngồi bên hồ nước- tác phẩm của các sinh viên ban Ðiêu Khắc- đàn hát. Hắn hoặc Võ đàn. Ngọc cất giọng Thái... Chanh cao vút khiến hắn cứ quay mặt đi cười tủm tỉm. Còn nàng thì chỉ dám hát... cài răng lược, nghĩa là thỉnh thoảng thu hết can đảm, hò lên vài câu.
Hắn có tiếng đàn guitar classic không điêu luyện nhưng truyền cảm. Hắn thường hay ngồi một mình, một cõi, thả tiếng đàn lúc lãng đãng, lúc dồn dập vào không gian cô quạnh. Thế giới của hắn dường như thật gần gũi với thế giới cô đơn nơi tâm nàng. Những lúc bắt gặp hắn như thế, nàng hay lặng lẽ đến ngồi cạnh, nghe hắn đàn. Chẳng ai khuấy động làm phiền ai. Lâu ngày, nàng đâm ra mê chơi guitar... Nàng về nhà ôm đàn tự tập từ guitar classic đến đàn đệm cho mình hát. Những nốt nhạc như một cái rừng lúc đầu làm nàng chóng mặt. Nhưng nàng đang mê.
Mê đàn chứ không phải mê người Những đầu ngón tay nàng chai cứng đến không còn cảm giác. Thậm chí cơm khê, khét, sống, đồ ăn cháy thường xuyên cũng chỉ vì đặt xong các thứ lên bếp là nàng phóng lên phòng khách ngồi chơi đàn. Rau muống mua về được nàng xào nấu đủ kiểu không cần phải rửa cho nó nhanh. Thực sự, nàng cũng không biết là phải rửa rau cho đến một ngày mẹ bắt gặp, bà la bải hải, nàng trả lời tỉnh bơ: Con tưởng rau ở dưới nước nên... sạch sẵn! Lần khác, bát canh mồng tơi có mầu đỏ quạch kỳ lạ. Chừng khi múc đến tô cuối, cả nhà mới kinh hãi khám phá một mớ bùi nhùi chùi xoong nằm trơ lại. Mẹ cũng đành lắc đầu, chịu thua cái đam mê của cô con gái tài tử.
Ðêm, khu vườn nhỏ nhà nàng ngát hương đủ mọi loại hoa: hoa Ngâu thơm mát, hoa Dạ lý nồng nàn, hoa Ngọc Lan dịu dàng, hoa Sứ tinh khiết, nàng ngồi trên bậc thềm thân quen, thả giọng hát, buông tiếng đàn gửi đến người tình đêm. Ðêm như tấm chăn nhung êm ái quấn quanh che chở nàng. Ðó là những giờ phút hạnh phúc nhất của nàng, có lẽ, cũng như cõi hạnh phúc nhất của hắn. Những ngày tháng êm ả của nàng chợt dấy lên chút xáo động khi một ngày, Ngọc rất nghiêm trọng cảnh cáo: Nè nhỏ, ta nghi nhóc tì hắn đang trồng cây si nhà ngươi đó. Cẩn thận nghe. Nàng phì cười khi thấy đôi mắt Ngọc tròn xoe... sợ hãi: Cẩn thận cái gì? Ðể Hương đeo cái bảng: Coi chừng "CHỊ" Hương dữ nhé! Ngọc bối rối phân trần: Nhóc tì nó nhỏ nhưng trái tim hắn không có baby đâu. Ánh mắt hắn nhìn Hương đam mê dữ dội làm ta phát sợ! Nàng tiếp tục diễu dở: Ai bảo Ngọc lỡ ngắm hắn làm chỉ Hương không thấy thì chả có gì sợ sất cả . Và nàng cứ thản nhiên dạo chơi trên trái tim hắn. Hè năm đó, 1973, Võ và hắn đột nhiên đến nhà rủ nàng tham gia trại hè của đoàn thanh niên thiện nguyện Tin Lành người Mỹ. Hội Mennonnite Central Commity tổ chức 10 ngày trại tại xã Pleiku Roh, thành phố Pleiku, để giúp đỡ dân làng cải thiện lại đời sống. Họ chỉ tuyển 10 sinh viên thuộc các trường đại học và ngày mai là hạn chót. Trường Mỹ Thuật đã có 3 chàng Ngự Lâm... Láo Thủ, chỉ chờ có nàng là đủ vui. Nàng chẳng ham vui, nhưng làm việc xã hội là điều nàng không bao giờ từ chối. Từ hai năm nay, không Chủ Nhật nào nàng thiếu mặt tại những Quân Y viện, hay những viện mồ côi. Chứng kiến tận mắt những vết tích đau đớn do chiến tranh gây ra, nàng càng thấy những điều mình phải làm, phải sống cho mọi người. Cha Mẹ cũng hiểu tâm nguyện của nàng nên sau những ngần ngại, ông bà chấp thuận cho nàng tham dự. Lần đầu tiên cô dế mèn làm một cuộc phiêu lưu xa tổ ấm bằng máy bay của Air Việt Nam đàng hoàng. Trong máy bay, ngắm những đám mây như bông nõn trôi bên ngoài, nàng vẫn còn ngỡ như giấc mơ, mặc hắn bên cạnh cứ lúng túng hết lật qua laị lật lại bàn tay mình. Nàng càng hồn nhiên vui vẻ thì hắn lại càng bối rối khó hiểu. Ðã nói, nàng cứ vô tình dạo chơi trên trái tim hắn...
Pleiku Roh là một làng nhỏ của người Thượng nằm ở ngoại ô thành phố Pleiku. Ðoàn thiện nguyện Mỹ có 4 người - Martin, Christ, cô Jenny mảnh khảnh, xinh xắn và Nguyệt, thư ký làm việc thường xuyên cho hội. Cả 3 người Mỹ đều nói được tiếng Việt, sõi nhất là Christ. Tại Pleiku, họ có một trụ sở nhỏ với 4 người Mỹ và vài người Thượng biết nói tiếng Việt. Cả nhóm chỉ có Nguyệt và nàng là phụ nữ nên hai cô được giao phần dạy học các em bé Thượng. Gọi dạy học cũng không đúng. Ngôi làng chỉ có duy nhất một trường tiểu học với một giáo viên vừa là hiệu trưởng, vừa là thầy giáo thì 2 tháng trước, Việt Cộng đã về bắn chết ông thầy để dằn mặt dân làng.
Sau biến cố đó, ngôi trường bị bỏ hoang. Người dân cũng không dám cho con đến trường sợ bị trả thù. Nhiệm vụ của Nguyệt và nàng là làm thế nào đưa các em trở lại trường học, sau đó sẽ có giáo viên thay thế. Nguyệt còn đang bận một số chuyện của hội ở Saigon nên hai ngày nữa mới tới. Những nam sinh viên thì giúp hướng dẫn người dân cách xử dụng máy cày, xây dựng nhà cửa, trồng lúa theo lối mới v.v... Ðầu tiên cả bọn được nghe sơ qua về tập tục, cách sinh hoạt của dân làng. Sau đó, là một buổi học cấp tốc về những câu tiếng Thượng xã giao như: Chào ông, bà cô, cậu v.v... Ông bà có mạnh khỏe không... Trời hôm nay nắng đẹp v.v... Ngày hôm sau, nàng theo Krang, một thanh niên Thượng làm việc cho hội tại Pleiku đi làm quen với dân. Trời vừa qua cơn mưa đêm trước nên không khí như được tẩm vào hương của cỏ lá. Nắng vàng dịu với cái lạnh chỉ se da khiến nàng tung tăng chân sáo như thuở còn bé. Krang vào căn nhà đầu tiên . Bữa cơm sáng đang được bầy trên mặt đất với một vòng người ngồi chồm hổm chung quanh. Tất cả mọi cái đầu đều quay nhìn nàng dò hỏi Krang líu lo một hồị Có ai nói câu gì đó, và một tràng cười rộ lên. Krang cũng cười Anh quay sang nàng giải thích, họ nói, cô giáo lấy chồng làng rồi ở lại luôn đi thì họ mới cho con đi học. Nàng ngịch ngợm, kiếm dùm tôi một ông đẹp trai cỡ ông vừa nói đó. Người thanh niên nhẩy lên cười ha hả trong khi những người khác cũng cười ẫm ĩ. Vài tiếng nói lao xao. Mọi người nhích ra, tỏ ý mời nàng cùng ngồi Krang hớn hở, họ muốn mời mình ăn đó. Nàng ái ngại nhìn tô canh rau với một cái muỗng duy nhất cho mọi người cùng húp chung, kỳ dư, những món còn lại như cơm nấu hơi nhão, một món gì đó và một món mắm cũng... gì đó có mùi hơi nặng đều được bốc ăn bằng tay Krang kéo nàng ngồi xuống, chị mà không ăn là coi thường họ đó, không ai cho con đến trường đâu... Trưa cao nguyên nắng vẫn thật nhẹ nhàng, miệng nàng bắt đầu... mỏi vì cứ phải ở vị trí cười hơi nhiều. Bù lại, sau lưng nàng và Krang là một cái đuôi bí mật. Nó cách hai người một quãng xa, càng lúc càng được kéo dài thêm , và khi nàng khám phá ra, bất ngờ quay lại, chúng vụt tan tác, tản nhanh vào các lùm cây hai bên đường. Ðó là những em bé Thượng, học trò tương lai của nàng. Tất cả hầu như đều cởi trần, trai cũng như gái, phơi làn da nâu bóng. Tất cả đều có đôi mắt to đen, rụt rè thật dễ thương. Nàng mỉm cười, giả vờ không để ý đến chúng, tiếp tục bước. Một lát, nàng quay lại, mấy nhóc lại hốt hoảng biến vào những bụi cây như cũ. Nàng nhờ Krang đến rủ các em lại trường chơi. Một lát, anh trở lại vẻ thất vọng, chúng nó nhát quá, chắc phải từ từ. Cho đến 5 giờ chiều, cả nhóm được lệnh tập họp ra về, nàng vẫn chưa đến gần được một em nào.
Ngày hôm sau, nàng nghĩ ra một kế. Mượn cây guitar của hội, nàng vác đàn hùng dũng theo Krang vào làng. Hắn lột cái mũ phớt đang đội đưa cho nàng, giọng giả vờ tử tế, cho Hương mượn để có kế sinh nhai... i... i... Tiếng nhai hắn cố ý kéo dài làm cả nhóm cười ầm. Mặc kệ, nàng tin chỉ có cách này mới dụ dỗ được mấy nhỏ. Cây đàn quả là hình ảnh đầy hấp dẫn với các em. Nàng làm như cả thế giới chỉ có một mình mình. Ði được một quãng, nàng lại kiếm một gốc cây ngồi xuống ngêu ngao hát. Từ từ rồi từ từ, cái vòng tròn quanh nàng khép nhỏ dần lại, nụ cười đã thấy trên khuôn mặt các em. Nàng mừng muốn khóc, nhờ Krang hỏi các em có muốn học hát thì theo nàng đến trường. Thoáng chờ đợi, nàng đứng lên cười, vẫy các em. Vẫn không ai nhúc nhích, nàng bước đi. Ðột nhiên, một, hai, ba, các em cười nói líu lo và rảo bước theo nàng . Vài em đã dám bước song hàng cùng nàng, thỉnh thoảng còn đưa mắt nhìn nàng cười bẽn lẽn. Và chiều đó, khi xe của đoàn đến đón, cả đoàn ngạc nhiên trước một dây con nít rồng rắn hớn hở bên nàng đến tận cửa xe. Hắn lầu bầu, được mùa quá ha.
Nguyệt đã đến cùng chiều đó. Tính Nguyệt thật cởi mở, phóng khoáng nên hợp với nàng ngay. Một buổi họp tổng kết hai ngày làm việc được tổ chức. Do thiếu nhân sự điều hành tổng quát, Nguyệt được chuyển qua bộ phận khác, không cùng nàng lo phần giáo dục như lúc đầu. Christ hỏi ai muốn phụ cùng nàng cho ngôi trường. Hắn giơ tay nhanh nhẹn. Dường như cái dây rắc rối cứ buộc mãi vào nàng...
Trường chỉ là một căn nhà lớn mái tôn, vách lá, nền đất nện. Tất cả học sinh chung nhau một lớp học không kể trình độ. Hầu hết các em đều chưa thông được 24 chữ cái. Nàng bàn với hắn cưa gỗ thành những khối vuông, vẽ chữ và hình lên 6 mặt để các em dễ nhớ. Ðồng thời, để thêm phần hấp dẫn các em, nàng làm 1 bảng tên trường thật lớn, với hình ảnh những em bé Thượng lũn cũn mặc sà-rông hoặc cởi trần, khênh trên vai chữ Pleiku Roh. Dĩ nhiên, nàng trên hắn những... một lớp nên phải vẽ hay hơn hắn và nàng dành phần vẽ, chỉ cho hắn... tô mầu, lại cũng dĩ nhiên, theo ý nàng. Nhất nhất những gì nàng muốn hắn đều nghe theo chỉ để đổi lại một điều: Hương làm ơn đừng gọi tui là bạn nhỏ được không? Bạn là bạn, bày đặt chi mà nhỏ với lớn! Ðã vậy lâu lâu lại còn làm bộ đánh rớt chữ bạn , nhỏ ơi nhỏ... nghe mất thể diện tui quá!
Không lẽ mai mốt Hương quen thằng nào to đùng, Hương gọi nó là gì? Bạn cồ hả? Hắn nói một dây khiến nàng phì cười nhưng vẫn ráng bướng tới cùng: Vậy sao Ngọc kêu nhỏ... í... quên, Duy là nhóc tì, Duy không giỏi phản đối đối. Hắn nhìn thẳng vào mắt nàng, nói từng chữ chậm rãi: Ngọc khác. Hương khác. Ðừng so sánh...
Chiều cuối cùng tại Pleiku Roh, dân làng tổ chức một buổi uống rượu cần tiễn đưa. Mặt trời cao nguyên đỏ rực bắt đầu đi dần xuống sau núi. Ngọn đồi xanh cỏ thơm hương rừng, những tiếng cười nói ấm áp một khoảng trời. Sau vài lời cám ơn của ông già trưởng làng, mỗi người được đưa một ống tre nướng, bên trong là nếp được nấu chín bởi hơi nước của tre và dưới sức nóng trực tiếp của lửa . Vì vậy, nếp có vị ngọt và thơm thật đặc biệt. Chất nếp có công dụng để dằn dạ dầy khỏi cồn cào khi uống rượụ Rượu được chế bằng ngũ cốc, trên được phủ bằng lá tre, đựng trong một cái chum thật lớn. Miệng chum có một khúc gỗ được tiện võng xuống ở giữa. Ðộ sâu của khúc gỗ này có dung tích tương đương với 1 lít, gọi là 1 can. Khi uống, phải dùng 1 ống tre dài để hút nên có tên là rượu cần. Mỗi lần uống là phải hết một can. Khách quý bao giờ cũng được mời uống những can đầu tiên bởi vì cứ sau mỗi can, chủ nhà lại đổ thêm nước...lạnh vào đến miệng chum, nên càng về sau, độ rượu càng nhạt dần. Tiếng cồng nhịp nhàng đủ mọi âm độ bắt đầu trổi lên. Giữa núi rừng, âm thanh thô sơ của loại nhạc khí này khiến thân xác nàng như muốn tan biến hòa cùng trời đất. Sau can rượu đầu của ông già trưởng làng, Christ, Martin và Jenny được mờị Cô Jenny uống xong, vừa cười vừa bước ra giữa tiếng hò la náo nhiệt của dân làng, thì ông già phăng phăng hớn hở đến nắm tay nàng, kéo xềnh xệch đến chum rượu. Nàng hoảng hốt lắc đầu quầy quậy, tỏ ý không biết uống rượu. Trong một giây, đột nhiên bầu không khí ồn ào im bặt. Ông già biến sắc mặt tím đen, hung dữ nói 1 tràng. Krang vội vàng chạy tới Anh giải thích, đối với dân tộc anh, quý lắm họ mới mời uống rượu. Nếu mời mà không uống nghĩa là coi thường chủ nhà, và điều đó đồng nghĩa với kẻ thù. Nàng hoảng hồn, nhoẻn miệng cười thật tươi cùng ông già, gật đầu lia lịa. Ðám đông lại reo hò và ông già khoan khoái trao cho nàng cây cần. Sau màn uống rượu, ông già tặng mỗi người hai cái vòng bằng đồng với lời giải thích, người Thượng gọi cái vòng này là còng. Thanh niên nam nữ đều đeo hai cái và khi nào gặp được người họ yêu, họ sẽ gỡ ra một, đeo cho người kia như dấu hiệu của sự tỏ tình với ước mong sẽ còng đời nhau vĩnh viễn... Nàng cũng như cả nhóm đều thật thú vị với những điều vừa biết, kể cả uống rượu. Vị rượu lúc đầu nhàn nhạt, chua chua, tưởng chẳng có gì... ghê gớm nhưng nó cứ thấm từ từ. Và từ từ, cả người nàng nóng bừng lên trong một cảm giác lâng lâng đầy phấn khích. Nàng nhẩy múa theo đoàn người đánh cồng thật tự nhiên, vui vẻ. Hắn lo lắng hỏi : Hương có mệt lắm không ? Mặt Hương đỏ không thua gì ông mặt trời kia kìa.
Ðêm đó, lửa trại được đốt lên ở khoảng sân rộng trống của hội. Ðêm đen, ánh lửa bập bùng chiếu hồng từng khuôn mặt thân quen, men rượu đầu đời khi chiều hãy còn lâng lâng váng vất, và khi tiếng đàn guitar yêu dấu khởi dậy, nàng như không còn là mình. Nàng hát say sưa những ca khúc của Lê Uyên Phương, đắm mình vào những lời nhạc đầy đam mê của đôi tình nhân nghệ sĩ: Hãy ngồi xuống đây như loài thú hoang yêu nhau ngoài đồng. Quấn quít bên nhau vui chơi cuộc đời cỏ rác hôm nay. Hãy ngồi xuống đây hôn nhau lần này, hãy ngồi xuống đây cho nhau lần này, hãy ngồi xuống đây chia tay lần nàỵ... Nàng bỗng nhớ đến Ðăng, mối tình đầu rụt rè đầy lãng mạn. Mối tình nàng biết sẽ chẳng bao giờ có một đoạn kết. Cũng những bài hát này nàng thường hát cùng Ðăng... Ðăng ơi... Trái tim nàng nghén lại Nàng không còn muốn hát nữa. Có ai đó đến ngồi bên cạnh. Nàng quay sang. Christ nghiêng đầu nhìn nàng. Ánh mắt xanh biếc của Christ long lanh sáng dưới ánh lửa như chiếu sâu đến đáy lòng nàng: Cô hát hay quá Ước gì tôi được nghe cô hát suốt đêm nay... Câu nói của Christ chỉ càng khơi thêm nỗi buồn và cảm giác cô đơn mỗi lúc mỗi tràn ngập tâm hồn. Nàng muốn bỏ đám dông này, đi. Ði đâu, nàng không rõ nhưng phải đi. Và trước đôi mắt ngạc nhiên của Christ, nàng đứng lên, bước xuống phố. Pleiku 1973 là thành phố của lính. Nàng đi qua con phố chính với rất nhiều quán cafe nhạc và những người lính, đa số là bộ binh. Nàng đi như một cái xác lạnh băng, bỏ ngoài tai tiếng làm quen của vài người nào đó đang đi theo. Ðến một lúc thì nàng biết con đường chỉ còn lại một mình mình. Nàng nhìn bóng mình ngả dài thu ngắn theo ngọn đèn đường và thật thèm một bờ vai để gục đầu khóc vùi. Trước mặt nàng là đoạn đường ngắn tối đen, không một bóng đèn. Qua khỏi khúc này là về tới nhà. Bỗng dưng nàng cảm thấy... sợ. Nàng đang chuẩn bị để... chạy thì có ai đó đã đến bên cạnh. Nàng hốt hoảng quay sang và thở ra một hơi dài. Hắn. Hắn hỏi nhẹ nhàng:
-Hương buồn chuyện gì vậy?... Nói chút gì đi Hương!... Hương lạnh lắm sao?
Nàng nhìn lại hai tay vẫn đang khoanh trước ngực và như một phản ứng tự nhiên, nàng xuôi tay xuống. Rất nhanh, bàn tay nàng đã nằm trong tay hắn, và cái còng của hắn đã được đeo vào cổ tay nàng. Giọng hắn đầy bối rối:
-Tặng Hương đó.
Bây giờ thì nàng đã hoàn toàn tỉnh táo. Nàng rút ra chiếc còng, trả lại hắn, dịu dàng:
-Duy lầm rồi...
Ánh mắt hắn nhìn nàng đau đớn. Giọng hắn chùng xuống thật nhỏ:
- Hương đi đi. Ðừng sợ. Lúc nào tôi cũng ở sau Hương...
Nàng ngậm ngùi tiếp tục đoạn đường.
Nàng mở cửa phòng. Tiếng Nguyệt đầy lo lắng:
-Hương có chuyện gì vậy?
Không nghe nàng trả lời, Nguyệt vói tay bật ngọn đèn ngủ. Nàng đứng, gục đầu vào bức tường bất động. Nguyệt vội chạy đến bên bạn:
- Hương có sao không? Khi nẫy Hương bỏ đi, Nguyệt đinh theo Hương mà thấy Duy cũng đứng lên đi sau, Nguyệt nghĩ chắc hai người có hẹn. Chuyện gì vậy Hương?
Bây giờ thì nàng biết nàng đã có một bờ vai để khóc...
Trở về Saigon, nàng lại thở cùng nhịp sống của khu vườn. Êm ả cùng bình yên. Một sáng mưa nhẹ, nhớ đến Nguyệt, nàng đến thăm bạn. Con đường Trần Quý Cáp nhỏ với hai hàng cây cao thơ mộng. Căn phòng trọ của bạn xinh xắn gọn gàng. Chuyện Pleiku nhớ lại, Nguyệt rủ nàng đến thăm hắn, uống một tách cafe, nghe hắn đàn guitar classic. Sao không? Sau đêm đó, hắn buồn thật nhiều. Nàng cố tỉnh, vẫn hồn nhiên đùa giỡn. Thật lòng, nàng vẫn quý hắn, nàng không muốn mất một tình bạn đẹp. Ừ, sao không? Và hai người cùng đến Duy.
Sau tiếng gõ cửa, một cái đầu con nít thò ra. Khi biết hai cô là bạn anh Duy, chú nhỏ la lên:
-Anh hai ơi, có hai cô tới kiếm anh nè...
Tiếng la như một lời gọi đầy hấp dẫn, và lần lượt một bầy con nít suýt soát tuổi nhau, khuôn mặt giống Duy như in, hào hứng ló đầu nhìn vẻ bẽn lẽn. Cánh cửa mở rộng , mẹ hắn xuất hiện. Bà còn thật trẻ, đẹp chất phác, hiền hậu. Bà cũng như bầy trẻ bối rối trước những... 2 người bạn gái của cậu con trai cả, niềm nở mời nàng và Nguyệt vào nhà. Cái phòng khách nhỏ xíu, chỉ duy nhất một cái ghế sofa đã cũ và một bàn trà bằng gỗ. Những vách tường trống trơn ngoại trừ nơi khoảng tường đối diện với chiếc ghế là một bức tranh sơn dầu thật lớn, chiếm gần hết diện tích nhỏ bé của mảnh tường. Bức tranh với những nhát cọ mạnh mẽ như bay trên khung vải hình ảnh người con gái ngồi giữa trời đất, dáng cô đơn, ôm cây guitar, cúi đầu. Mái tóc dài che khuất gần hết khuôn mặt nhưng nàng cũng nhận thấy đúng là mình. Nguyệt huých nhẹ vào nàng, bức tranh đẹp quá! Ngồi mẫu cho Duy vẽ lúc nào vậy. Ðúng lúc đó hắn đi ra. Ðôi mắt hắn sáng ánh cười, hắn cố diễu để che dấu sự ngượng ngập như thường lệ:
- Chị đến thăm em một sớm mưa phải không? Hân hạnh, hân hạnh.....
Ngôi chùa lộng lẫy, uy nghi nằm trên ngọn núi cao. Những bậc tam cấp dốc ngược, tưởng như có thể dẫn đến trời. Nàng cắm cúi, mải miết leo. Ðến bậc thang cuối, nàng ngửng mặt lên. Trước mắt nàng là hắn. Hắn đứng trên hai chân đã bị cắt cụt đến đầu gối. Hắn mỉm cười với ánh mắt ngập tràn đau đớn của đêm Pleiku năm nào:
- Cái giá tôi phải trả để đi tìm em đó. Có đắt lắm không... ông...ng....g......
Tiếng không dội vào rừng núi, lan mãi xa như những nhát búa đập vào màng tang không dứt. Nàng giật mình tỉnh giấc. Nhìn qua chiếc đồng hồ dạ quang mới 3 giờ sáng. Ðã hơn một tháng nay, giấc mơ kỳ lạ cứ trở đi trở lại mấy lần. Mười mấy năm ở xứ người, đời sống bận rộn khiến nàng chẳng bao giờ có thì giờ vẩn vơ cùng quá khứ. Thoảng khi ôm lại cây đàn, chơi lại vài bài nhạc classic còn sót lại trong trí nhớ, nàng có thoáng nghĩ đến Duy, đến tình yêu đằm thắm Duy dành cho nàng. Nhớ với một nụ cười nhẹ, với trân trọng của một tình bạn vẫn còn đẹp trong nàng và trong Duy. Thế thôi. Vậy thì tại sao Duy lại đột nhiên đi về trong một giấc mơ hãi hùng như vậy Trong lòng nàng bao nhiêu câu hỏi mà không có được lời giải đáp thỏa đáng. Nhưng một ngày, tình cờ liên lạc được với người bạn cùng lớp Duy ở San Jose, mọi chuyện bỗng thật rõ ràng. Hải cho biết cách đây độ vài năm, Hải gặp Duy ở Santa Ana Duy đi cùng vợ và 2 con trai. Họ gặp nhau trên đảo tị nạn, yêu nhau và cưới nhau khi hội ngộ lại trên đất Mỹ. Vợ Duy cũng nhỏ nhắn, xinh xắn và họ có vẻ hạnh phúc. Duy hỏi thăm Hải có nghe tin gì về Hương không? Duy vượt biên sau khi biết Hương cùng chồng con đã đi thoát. Hải kết luận, cái thằng... có vợ con rồi mà vẫn còn nằm mơ.
Hương thở ra một hơi dài. Mừng cho Duy đến nơi bình an. Mừng cho Duy đã được hạnh phúc. Và nàng ngậm ngùi tìm được câu trả lời cho cái nghi vấn bao ngày quẩn quanh. Duy, Pleiku Roh, tình yêu cũ v.v..., chẳng qua chỉ là nỗi ám ảnh của một quá khứ, cái quá khứ được tạo nên từ một quê hương không bao giờ mất trong trái tim nàng. Quê Hương. Vâng, quê hương, cái tình yêu lớn nhất, chốn mãi mãi chẳng rời...
Trầm Hương