vhnt, số 347
21 November 1997
Trong số này:
thư vhnt...............................................Huỳnh Ngọc Phước
T h ơ :
1 - Sương nguyệt, tháng 11 .......................................lephan
2 - Những nhà thơ dũng cảm ..........................Trần Minh Hiền
3 - Thăm quê .....................................................Hoài Nam
4 - Cứ mưa rơi ...............................................Tường Vi
5 - Bình thường ..............................................Nguyên Nhi
6 - Cơn gió lạ ...........................................Ngô Minh Hằng
7 - Ðoạn lìa / gửi biển cho em ...........................Quang Thành
8 - Ở đảo / Hồn Việt .......................................Tô Châu
D i ễ n Ð à n V ă n H ọ c :
9 - Nói về Nguyễn Huy Thiệp (trích O-thuoc).......Phạm Thế Ðịnh
T r u y ện N g ắn / S án g T ác :
10 - Gã chăn trâu ......................................Lê Việt Ðiểu
11 - Ðôi bạn .......................................................Ý Nhi
VHNT: Thỉnh thoảng, BBT VHNT mời một thân hữu viết dùm một bức thư ngỏ cho một số vhnt cho mục "thư vhnt". Số này, mời bạn đọc đọc những lời chia sẻ chân thành của Huỳnh NgọcPhước, một thân hữu có lòng và một độc giả có tình.
Bạn thân mến,
Ở đây, khung cửa bên ngoài đã lạnh. Ở đây khung cửa bên trong đã mở. Khung cửa sổ nhỏ như một hé mở để tiếp nhận những rung động của các tế bào nã bộ, chuyển thành ý, chuyển thành lời trước khi bước nào một hành trình muôn ngã. Ở đó, khung cửa của bạn đang mở, như trạm ga cuối cùng cho giòng suy nghĩ ở đây. Quá khứ trùng trùng chúng ta bốn phương tám hướng trên những chiếc nôi đầu đời. Hiện tại mịt mù chúng ta bốn phương tám hướng trên giòng đời di tản. Một phút giây ngắn ngủi chúng ta gặp nhau. Rồi quên. Nhưng cũng đủ. Ðủ để thấy sự kỳ diệu của ràng buộc thơ văn, của văn minh tin học. Ðủ để thấy những tâm tình từ mỗi tác giả được chuyên chở qua từng số VHNT được gửi ra. Vòng tay ôm trọn không đòi hỏi.
Trong một giây phút nào đó, đang sáng tạo hay đang thưởng thức, chúng ta vẫn đến với nhau trong một nhịp cầu vô hình. Như những gì đã viết xuống. Như những gì đang đọc lên. Từ một căn phòng ấm cúng bên ngoài là nắng. Từ một văn phòng sau giờ làm việc bên ngoài là tuyết. Từ lá vàng đang rơi. Từ mầm xanh đang trổ. Bên ni bên nớ. Bên này bên kia. Chúng ta đang là một.
Cửa đã mở. Ở đây là bạn. Ở kia là những tâm hồn thơ. Mời bạn quên cánh cửa và bước vào hành trình sáng tạo. Nhớ đừng đi nhanh quá. Thong thả bạn sẽ thoáng thấy bạn đang vui buồn ở khắp muôn trùng nơi chốn, khắp trước sau thời gian.
Huỳnh Ngọc Phước
Sương Nguyệt, Tháng Mười Một
Ðêm sau có là sương khói
Trăng xưa vẫn lối thiên đường
Se sắt mùa bay lá gửi
Mong manh từng thoáng dư hương
Hoa ở giữa vườn tôi nở
Ðã vàng cúc nhớ thu đầu
Ðóa đắng vô thường ươm dỗ
Tâm trà một giấc hư hao
Mắt kể từ sâu ráng đỏ
Bước ngà bỗng nhớ xôn xao
Áo rừng ai nghiêng bóng đổ
Xuống dòng sương nguyệt đan nhau
Ðêm sẽ nơi nào không biết
Thiên thai chưa hết mong chờ
Lối ngàn trăng tôi sương khói
Sương nguồn em dáng trăng khơi ...
lephan
Nnững Nhà Thơ Dũng Cảm
hay Khúc Hát Về Bầu Trời
Tôi nghe trời xanh thắm
Trong dòng máu bài thơ
Tôi nghe bờ biển thở
Trong từng dòng bài thơ
Tôi nghe màu nỗi nhớ
Trong nắng vàng mênh mang
Tôi nghe lòng rực sáng
Khi trái tim thoáng đau
Tôi nghe vạn sắc màu
Trong ngập tràn tiếng gió
Nghe vạn lời em nhỏ
Trong cuộc đời nắng mai
Tôi nghe lời thơ ấy
Những vũ trụ riêng tư
Không lặp lại bao giờ
Như bao lời trách cứ
Tôi nghe triệu nỗi đau
Của bao điều oan ức
Nghe triệu tiếng kêu than
Bao tâm hồn vô hướng
Tôi nghe cả niềm thương
Của tâm hồn cao thượng
Nghe như lời của biển
Giục giã vào quê hương
Trời cao sao lấp lánh
Hàng bạch dương im lìm
Muốn có thêm đôi cánh
Ðể bay vào xa xăm
Giữa vũ trụ mênh mông
Chứa bao điều bí ẩn
Bao bài thơ nóng bỏng
Thắt chặt mãi tình thân
Giữa vũ trụ bao la
Ta muốn làm ánh sáng
Xuyên qua bao năm tháng
Ðể đến tận miền xa
Ơi trái tim vũ trụ
Bằng khối óc ta bay
Lên tầng cao tri thức
Chẳng bị khuất bởi mây
Ta muốn biết mọi điều
Về vạn điều còn thiếu
Nói sao cho em hiểu
Về ngọn nguồn tình yêu
Ơi bầu trời đẹp quá
Làm lòng ta đắm say
Ta ngắm hoài ngắm mãi
Ðể lòng ta ngất ngây
Trần Minh Hiền
Thăm Quê
Con trở về đây, thăm lại quê
Sao nhà hoang vắng, vách thì xiêu
Trước nhà ao cũ nay đã lấp
Vườn sau cây cỏ cũng tiêu điều
Gian bếp ngày xưa ấm lửa hồng
Sao giờ lạnh leõ, luị tàn tro
Phên vách phập phồng theo nhịp gió
Mái tranh thưa dột, nắng soi thềm
Con cố tìm quanh lối cỏ mòn
Giòng kênh Ba đặt lợp năm xưa
Chổng chơ đây đó dăm cọc nhọn
Lác đác một vài bụi trúc thưa
Con bước thẫn thờ trên đường đê
Ngày xưa Ba vẫn dắt con qua
Sao giờ hình dáng Ba đâu nhỉ
Cho nên con lạc lối quay về
Vẫn cánh đồng xanh ngát chân trời
Ðàn cò thẳng cánh lướt trong mây
Gió đồng xào xạc lùa mạ mới
Quanh chỗ Ba nằm, cỏ động lay
Ðêm xuống. Con chờ khi Sao lên
Mời Sao đậu xuống chỗ con ngồi
Thì thầm con hỏi Sao thật nhỏ
vì sao? Sao có hiểu vì sao?
11/97
Hoài Nam
Cứ Mưa Rơi...
Buồn ơi, bên ấy cứ mưa rơi
Hiên thu nhìn lá rụng tơi bời
Mang mang một chiếc linh hồn nhỏ
Ôm sầu thiên cổ, mộng đầy vơi...
Buồn ơi, đêm chẳng có trăng soi
Mây ngàn gió núi bỏ bầu trời
Chim bỏ xa rừng chim lẻ bạn
Người về phố cũ nên xa xôi...
Hay yêu đương chỉ một lần thôi
Như những hoàng hôn bỏ mặt trời (*)
Thiên thu nào giữ cho nhau được
Nửa đường đành cạn chén ly bôi
Hiên thu còn rụng lá tơi bời
Ðêm vàng còn mộng bóng trăng soi
Nghe như tình u a theo màu lá
Ừ thì bên ấy cứ mưa rơi...
11/03/97
tường vi
(*) thơ Nguyễn Tất Nhiên
Bình Thường
bình thường thôi em, trời rất sơ
mây chia trên ngọn phố sương mù
đôi khi về chỗ không ai đợi
ngọt ngào tôi vọng mảnh trăng hư
bình thường thôi em, đất chửa quen
sông giăng cuối bước, nước phân dòng
đôi khi dừng chỗ không ai ghé
mặn mà tôi nghĩ cuộc chơi ngông
bình thường thôi em, người chửa thân
tôi hoài hơi chuốc những ưu phiền
đôi khi ngồi chỗ không ai muốn
nao nức nhớ một người rất riêng
bình thường thôi em, tôi vô tâm
có em ngày cũng chẳng vui thêm
đôi khi nằm chỗ không ai thấy
nhẹ nhàng tôi tưởng chút tình điên
bình thường thôi em, bình thường thôi
cái dạo yêu em đã hết rồi
đôi khi cánh cửa không ai mở
hân hoan tôi ngó lại đời tôi
bình thường thôi em, đời dễ thương
thần kinh tôi cũng vững, bình thường
đôi khi đến chỗ không ai hỏi
tôi tội có lần tôi vấn tôi
Nguyên Nhi
OKC, OK
Cơn Gió Lạ
Người hiện đến như một cơn gió lạ
Cơn gió mùa Xuân mang những tình cờ
Trong một thoáng, cõi đời vui vẻ quá
Ta nhìn ta, xao xuyến tự bao giờ...
Như một buổi Xuân về trên lá biếc
Nắng Xuân hồng làm thắm má nàng thơ
Không gian mới say nồng hương sắc mới
Ta quên đời, lòng bỗng chợt như mơ!
Ta ngồi đây, hồn lắng nghe lời gió
Rất êm đềm như những bản tình ca
Ta chợt thấy dường như mình ái ngại
Ngại một ngày tình cũng sẽ phôi pha...
Trời mông mênh hay bầu trời vẫn hẹp
Ngày rất dài, dù một thoáng trăm năm
Ta muốn được cùng cỏ cây hóa kiếp
Ðể nhìn đời không một chút băn khoăn...
Ngô Minh Hằng
Ðoạn Lìa
Tiếc đóa hoa hun mùi thuốc súng
vắt vẻo ký ức ngày biển loạn
rơi từ bàn tay em
hoang hóa nửa đời sau...
Hai mươi năm qua mau
em trở mình thiếu phụ
chai sầu hai bả vai
buồn câm ru cơm áo
chứng nhân mình lãng quên
gió vàng ru tóc rối
lời như rêu khô môi
Hai mươi năm qua mau
ta ngập ngừ tĩnh động
vuốt mặt mình phẳng phiu
mụi đời dày xám ngực
nặng môi cười trở xoay
Gởi Biển Cho Em
Ðể hát cho em nghe
tôi rong thuyền ra khơi
hát giữa lòng sóng đợi
tiếng vỗ bờ lặng tê
Quang Thành
Việt Nam
Ở Ðảo
Vừa thoát biển một nghìn nỗi chết
Tôi thằng sống sót lại làm thơ
Vui nhìn chú dã tràng se cát
Rồi bỗng buồn theo sóng xóa bờ
Hồn Việt
Lâu lâu về nông trại dưới đồng quê
Ðược nghe tiếng gà trưa, được nghe cu cườm gáy
Lòng bỗng rộn ràng... ngày xưa... thuở ấy
Xa một đời vẫn nhớ, Việt Nam ơi!
Tô Châu
Rio-Rancho, NM
Bài trích từ Diễn Đàn Ô-Thước (o-thuoc@saomai.org), thảo luận về bài viết về Nguyễn Huy Thiệp của tác giả Nguyễn Vy-Khanh, đăng trên vhnt #344-345.
Trao Đổi về Nguyễn Huy Thiệp
Xin góp một vài ý kiến cá nhân với anh Nguyễn Vy-Khanh về nhà văn Nguyễn Huy Thiệp:
- Quả như anh NV-Khanh đã nêu ra, NHT đặt trọng tâm vào các truyện truyền (và huyền) kỳ, một số những biểu tượng văn hóa như núi, sông, nước, và sử. Tuy nhiên, đến NH Thiệp, khía cạnh "đen" (gần như là "bi quan") đã được nêu ra rõ rệt.
Ngòi bút của NH Thiệp là ngòi bút xã hội, ông ở vào một xã hội đi từ phong kiến quân quyền đến phong kiến Cộng Sản; mọi vấn đề đều chỉ được giải quyết bằng những "lý thuyết", những "mô hình", những "huyễn tượng", sau một giai đoạn lịch sử kinh hoàng, thực tế cho thấy là sai.
Cố gắng của NH Thiệp là viết về những mặt khác của sử thoại, nhiều lúc đặt ngược lại những tin tưởng hầu như đã tạo thành giáo điều. Tuy nhiên, ông không nhìn thấy được những giải pháp: sự bế tắc hầu như là toàn diện.
NH Thiệp có thể được coi là hình ảnh của một số sĩ phu VN (đặc biệt ở Bắc Hà), trước được hun đúc bởi tinh thần Khổng Mạnh, và những giá trị văn hóa VN cổ, sau được dạy dỗ trong một tinh thần chủ nghĩa xã hội với một tinh thần ái quốc trá hình của một số lý thuyết gia theo thuyết đại đồng. Khi vỡ mộng ra thì thấy vai trò của mình trước sau trong xã hội chỉ là những con cờ bị lợi dụng.
Với chính sách đề ra bởi Đặng Tiểu Bình đang được áp dụng tại Trung Hoa, mà VN đang chạy theo, giai cấp thống trị dưới áp lực của thực tế tư bản, đã bỏ rơi lần giai cấp trí thức (sĩ phu tại VN) mà dùng giai cấp thương nhân, và chuyên gia (có thể coi là công hay không?). Bây giờ (theo thiển ý) các đẳng cấp tại VN là: Cán, Binh, Thương, Công, Nông. (Sĩ theo chính quyền có thể gia nhập vào các đẳng nắm quyền. Sĩ theo đúng nghĩa "trí thức" không có chỗ đứng tại VN.)
Cuộc thay đổi vị trí giai tầng xã hội này, theo thiển ý, tạo ra hiện tượng "trí thức làm ngơ". Vì không muốn làm ngơ thì chỉ có thái độ "bất mãn" thôi.
Khi nào còn chế độ phong kiến độc đoán thì còn những ngòi bút bất mãn như Cao Bá Quát và NH Thiệp.
Do đó, theo thiển ý, NH Thiệp không nên được xếp vào vai trò như một cây bút "phản kháng", mà cũng như Dương Thu Hương và Phạm Thị Hoài, đó là trường phái bất mãn. Từ bất mãn đến phản kháng cần phải có một yếu tố quan trọng là "giải pháp". Những nhà văn trên không đưa ra, hay theo một giải pháp hoàn toàn ngược với thể chế cầm quyền; họ chỉ là một hình thức bất mãn. Bất mãn phẫn nộ như Phạm Thị Hoài, bất mãn đòi sửa sai như D. T. Hương, bất mãn vì bất mãn như T. M. Hảo. Cái bất mãn của Nguyễn Huy Thiệp (theo tôi) đáng yêu hơn hết vì nó là cái bất mãn bi quan của người trí thức.
Tuy nhiên, thực tế lịch sử hình như đang biến đổi: Vụ nổi dậy ở Thái Bình mang tính chất "nông", và thành phần này đông nhất ở VN. Theo truyền thống, giới nông rất chịu khó nghe giới "sỹ".
Biết đâu chừng ta sẽ có những nhà văn phản kháng thực sự, và NH Thiệp với những kinh nghiệm và lòng yêu nông thôn của ông sẽ là cây bút tiền phong. Nếu vậy, chính là nhờ ở điểm khác biệt căn bản nêu trên giữa NH Thiệp và D. T. Hương, Trần Mạnh Hảo, Phạm Thị Hoài....
trích post từ diễn đàn O-Thuoc của nhóm vhnt
Phạm Thế Định
Gã chăn trâu
Đời sống ở đây sao nó quá bận bịu thế này? Con người ta tất tả ngược xuôi, nhưng vẫn không thấy đủ, có một rồi muốn có hai ba; cho nên con người cứ khổ vì chạy theo đời sống hoài ấy. Họ than mệt ơi là mệt, nhưng hổng biết làm sao để nghỉ ngơi. Nhiều lý do để cho bà con nại ra cho cái việc bận rộn của mình. Ngày nào ở quê nhà đâu có mà khổ dữ thần thế này ha. Người lớn quá "lu bu" nên con nít cũng "lu bu" theo. Đâu còn cảnh đêm đêm chồng ngồi đọc báo, vợ ngồi vá đồ, ông bà ngồi với lũ cháu vây quanh nghe chuyện đời xưa. Nhớ cái hồi năm nẵm, ngày mình còn nhỏ rí đó, ông ngồi vuốt chòm râu bạc, bầy cháu ngồi chầu rìa chung quanh miệng há hốc ra nghe chuyện đời xưa thôi thì nó sướng "ba-chê". Bên ngọn đèn dầu, bên nồi bắp mới luộc, bên cửa sổ vằng vặc ánh trăng... Ông cháu đi vào cõi thần tiên đầy thú vị.
Qua đây rồi, tôi cũng muốn học đòi làm ông nội, ông ngoại như ông bà mình, nhưng ngặt một nỗi hổng có được mấy khi. Nhìn đám cháu cặm cụi với bài vở, hết bài vở tụi nó lại day qua cái T.V. Ôi! coi bộ nào là phim hoạt họa, phim "Kung-phu" cho lũ con trai; còn đám con gái thì tranh nhau "Ca-ra-ô-kê" vang lừng làng trên xã dưới. Nhà như đám hội, đám giỗ... Nhưng những cái vui đó chỉ trong thoáng chút rồi thôi, như gió thoảng mây bay, như nước chảy qua cầu không còn dấu vết.
Nghĩ cũng tội cho lũ nhỏ, tôi nghĩ theo ý riêng tôi vậy mà, chớ có biết đâu tụi nhỏ nghĩ làm sao. Mình thấy theo ý mình thì chắc gì đúng phải không? Chắc gì lũ nhóc chịu ngồi yên lắng tai nghe chuyện như mình hồi còn nhỏ. Nhưng tôi lầm. Thiệt mà, tui đã lầm vì con nít thì ở đâu cũng vậy. Con nít không có dịp được làm quen với không khí gia đình đầm ấm nên con nít nó phải tìm vui "chiện" khác chứ. Câu chuyện nó có cơ sự như vầy.
Hôm đó chị Hai tôi có đám giỗ, con cháu tụ họp một nhà đầy nhóc. Bên ngoài có chút trăng soi qua cửa sổ, mấy đứa con trai dành nhau chơi "game", con gái tranh nhau "ca-ra-ô-kê", tụi nó dành nhau la um sùm trời đất, mét má mét ba ỏm tỏi, loạn xì ngầu. Tôi thấy vậy tui mới bày ra kể chuyện đời xưa. Tôi hùng dũng lên "diễn đàn" hắng giọng tuyên bố:
- Ê! cái đám xì-lố-cố, đừng có mà rùm beng lộn xộn. Đứa nào muốn ca thì ở đó, đứa nào "game" thì lại chỗ kia. Còn đứa nào muốn nghe chuyện đời xưa thì theo "ông" Mười ra góc hè nghen hông
Có vài ba đứa không dành được phần nên đành bóp bụng theo tôi ra sân, bên góc hế (Được hai ba đứa gì đó) Tôi bèn ngồi xuống, lấy giọng, giáo đầu tuồng:
- Nghe nghen hông, chuyện này là chuyện đời xưa, chuyện cổ tích, chuyện thần thoại. Nghe có chỗ nào hổng biết thì hỏi... Rồi bây giờ các cháu muốn nghe chuyện gì? Chuyện ma, chuyện thần tiên, chuyện loài vật, huyện đường rừng... hay là nghe chuyện ba hồi nhập một?
Có tiếng hỏi:
- chuyện ba hồi nhập một là chuyện gì vậy ông Mười?
Tôi trả lời tỉnh queo:
- Hát thì có "ca khúc", hát "ca khúc" là hát mỗi bài một khúc kêu bằng ca khúc. Còn chuyện "ba hồi nhập một" là chuyện gặp đâu nói đó, hổng đầu đuôi gốc ngọn gì ráo.
Tụi nhỏ tiu nghỉu thấy mà thương. Một giọng khác cất lên:
- Thôi chuyện đó khó hiểu lắm, ông kể chuyện loài vật đi.
Thấy Không đứa nào phản đối, tôi bèn nhắp miếng nước thấm giọng tới luôn:
- Ngày xưa, xưa ơi là xưa. Cái ngày đất trời còn hỗn độn...xưa lắm...xưa thật là xưa, nhớ mấy cho vừa, nhớ mẹ kể đêm mưa. Có ông vua trẻ dẫn binh qua đường gặp hoa trinh nữ tôi đang ngon trớn làm luôn "ca-ra-ô-kê", thì có tiếng ré lên
- Ê! Ê! tụi bay ơi, ông Mười ca-ra-ô-kê đó.
Rồi con bé xuống giọng nho nhỏ hình như sợ tôi nghe, nó nói với mấy đứa: " Giọng phèn la bể của ông Mười mà ca cái gì, thôi đi vô." Tôi cười xởi lởi:
- Mới giỡn chơi thôi mà. Bây giờ kể đây. Câu chuyện về một người chăn trâu biết nghe tiếng nói của loài vật. Im nghe nghen hông, câu chuyện như vầy: Ngày đó xưa lắm rồi, có một người kia làm nghề chăn trâu mướn cho một ông phú hộ nọ. Một hôm anh ta đang chăn bầy trâu bên cạnh một khu rừng, chợt nghe có tiếng rít lên trong rừng nghe thảm thiết lắm. Anh bèn chạy vô rừng xem coi chuyện gì xảy ra. Vô tới trong rừng thấy có một đám cháy dữ dội, một con rắn to đang mắc kẹt trong vòng lửa. Với bản tính hiền lương, thấy tội con rắn quá nên anh ta đưa cây sào dài ra cho con rắn leo ra khỏi vòng lửa. Con rắn đeo vào cây sào bò ra, nhưng thay vì vọt xuống đất chạy đi thì nó bò trở ngược lên quấn lấy cổ của người chăn trâu. Hoảng quá y la làng chói lói " Bớ làng nước ơi! Cứu vật thì vật trả ơn nhưng sao tui mới cứu con rắn này thì nó lại muốn cắn tui như vầy!
Đám cháu nghe tới đó cũng nhao nhao:
- Con rắn có cắn chết người chăn trâu không ông?
- Không đâu các cháu. Ông bà có nói " Cứu vật thì vật trả ơn, cứu nhơn thì nhơn trả oán." Con rắn nghe người chăn trâu la làng, nó nói " Anh hãy yên tâm, tôi không cắn anh đâu. Anh đã cứu tôi thì tôi sẽ đền ơn. Bây giờ xin anh đưa tôi về hang cha tôi sẽ trả ơn anh."
Người chăn trâu sợ quá nhưng đã lỡ nên bằng lòng đưa rắn về hang. Trong khi đi đường rắn bảo người kia rằng: Khi về hang, cha tôi sẽ tặng thưởng cho anh rất nhiều vàng bạc kim cương châu báu. Nhưng xin anh đừng nhận, anh chỉ xin cha tôi cho anh hạt ngọc rắn thì anh có thể nghe được tất cả tiếng nói của loài vật, và đời anh sẽ vui vẻ." Người chăn trâu nghe theo lời. Khi đến hang rắn, một con rắn chúa khổng lồ, da màu vàng kim có vảy lóng lánh đang nằm trên ngai vàng. Khi thấy con trở về bình an, chúa rắn thưởng công cho người chăn trâu tất cả ngọc ngà châu báu, muốn lấy bao nhiêu thì lấy, nhưng người chăn trâu nhứt định chỉ xin viên ngọc rắn thôi. Sau khi dằn co, chúa rắn bằng lòng cho ngọc nhưng có dặn rằng: "Từ nay ân nhân không được cho ai biết trong mình có ngọc, nếu không người sẽ chết." Người chăn trâu vui vẻ nhận lời và ra về. Ra khỏi hang rắn, kinh ngạc xiết bao, người chăn trâu nghe được tất cả mọi ngôn ngữ của loài vật trong khu rừng. Từ loài bò sát đến chim chóc chung quanh. Người chăn trâu sung sướng tự nói trong lòng: "Ôi đời ta vui sướng biết bao. Từ nay ta có thể nghe chim hót líu lo trên cành, nghe được đàn cá lội chuyện trò, nghe được tiếng ca của loài giun dế... Ta là người sung sướng." Thật không gì sung sướng cho bằng sống giữa xã hội này mà nghe được tất cả những tâm tình thầm kín của mọi loài, mọi vật. Đang vui vẻ trở về chỗ cũ. Bỗng bên tai văng vẳng có tiếng nói: " Thằng người kia thật là ngu ngốc. Nó đang ngồi trên đống vàng mà nó chẳng hay." Ngước mắt nhìn lên anh ta thấy đôi quạ đen đang nhìn xuống cười mình. Người chăn trâu biết chắc dưới chỗ đất này có chôn giấu kho tàng. Nhưng vốn bản tính hiền lương không tham lam, nên anh ta về nói lại cho chủ rằng có nghe 2 tên trộm bàn nhau đi đào vàng đã giấu trên miếng đất của chủ. Người chủ nghe lời, đợi đang đêm ra đào chỗ đất thì có hũ vàng chôn ở đó thiệt. Nghĩ rằng người làm công của mình tốt bụng, nên người chủ chia cho người chăn trâu một nửa số vàng. Từ ngày có số vàng làm vốn, anh ta chí thú làm ăn, tậu nhà tậu ruộng và trâu bò, anh lập gia đình với một người vợ đẹp ở làng bên. Một hôm trong lúc đi dạo với vợ lên ngọn đồi nơi có đàn trâu bò đang gặm cỏ Bỗng anh nghe văng vẳng bên tai tiếng nói của đàn chó giữ nhà và đàn chó sói trong rừng. Chó sói nói với chó nhà rằng: " Này các bạn chó nhà, ta cùng một loài với nhau. Chúng tôi đang đói đây, các bạn nên để cửa cho chúng tôi vào chuồng gà một lần này thôi. Chỉ một vài con gà, con vịt thì chủ nhà đâu có thiệt hại gì, còn chúng tôi được qua cơn chết đói, và các bạn cũng được chia phần." Chó nhà đáp lời: "Được, các bạn cứ vào đi. Chủ ta có màt vài con gà con vịt đâu có là bao." Người chăn trâu nghe được giận lắm, nhưng kià một tiếng nói khác của con chó già: "Không được, ta tuy già yếu nhưng ta quyết bảo vệ gia súc cho chủ. Không thể vì chút quyền lợi mà ta phản bội lại chủ ta." Anh chăn trâu nghe được vậy anh yên tâm và sáng ra không màt một thứ gì. Anh xuống trại gà ra lịnh đem giết tất cả đàn chó, chỉ giữ lại con chó già trung thành. Một hôm nọ đi chơi với vợ. Hai vợ chồng thong dong thả ngựa đi dạo cảnh. Anh ta nghe con ngựa của anh ta đang cưỡi nói với con kia rằng: "Bạn ơi sao bạn lại ì ạch vậy. Bạn muốn biến thành rùa chăng?" Con kia đáp lại: "Anh bạn mình sao khéo nói chơi. Anh chở ông chủ thì nhẹ nhàng còn tôi chẳng những chở bà chủ mà còn chở cả đám phụ tùng nào vòng vàng, xuyến bạc, bông tai dây chuyền, nào quần trong áo ngoài, nào giày, nào. Các thứ này một xe bò chở còn khẳm thì huống gì thân tôi." Anh chăn trâu nghe được bỗng dưng mắc cười, vọt miệng cười to. Chị vợ lên tiếng hỏi: "Có điều gì vui vẻ chàng cười sung sướng như vậy." Anh ta im bặt không dám nói, chỉ chống chế: "Đâu có gì vui, chỉ nghĩ lại cuộc sống hạnh phúc của mình nên anh vui anh cười." Nhưng chị vợ nhứt quyết chồng mình cười mình chuyện gì, hoặc có chuyện bí mật chồng mình đang cố giấu. Bản tính tò mò người vợ hỏi tới. Người chồng thấy vợ khẩn khoản kêu nài, bèn khẩn thiết nói rằng: " Chuyện vợ chồng không có gì để giấu nhau. Nhưng nếu anh nói ra thì chúng mình sẽ âm dương cách trở." Anh ta đổi giọng tha thiết: "Anh chẳng giấu mình nhưng nếu mình biết thì anh phải chết. Mình muốn anh chết hay sao?" Nhưng chị vợ càng nghi, lòng tò mò càng tăng, chị nhứt quyết nghe cho được, dầu chồng có chết cũng cam. Anh chồng không biết làm cách nào hơn, sai gia nhân đào sẵn một huyệt rồi anh sẽ nói. Trong lúc đang đứng dưới huyệt một, nhưng chị vợ cứ khăng khăng cho rằng chồng mình dọa mình chớ làm gì có chuyện chết. Anh ta sắp nói thì anh nghe con chó già trong sân đang nói với con gà trống đang bới đất cạnh huyệt rằng: "Anh gà trống kia ơi, sao anh thấy chủ sắp chết mà không buồn, còn nhởn nhơ kiếm ăn sao?" Gà trống vươn đôi cánh gáy to rồi đáp: "Ò ó o... Cha chủ ngu ngốc ươn hèn, chết cũng đáng đời. Ông tốt bụng thì có tốt thật đấy, nhưng có phải mỗi việc mỗi chiều lòng vợ là hạnh phúc đâu. Anh thấy đó như tôi đây hàng trăm chị mái, nhưng có chị nào dám hó hé một tiếng nào không. Ông chủ ta chỉ có mỗi một mụ đàn bà mà chẳng nên thân. Chết là đáng còn tiếc nổi gì." Nghe gà trống nói vậy, anh chăn trâu tỉnh ngộ, nhảy thót lên bờ, chụp một cái cây kêu vợ: " Nè! lại đây mà nghe, muốn nghe tôi cho bà một gậy cho chừa cái tật hạch hỏi chồng. Lại đây, lại đây" Chị vợ hoảng kinh chạy tuốt vô nhà, từ đó hổng dám hạch hỏi gì nữa. Câu chuyện chấm dứt một cách đột ngột, lũ nhỏ còn ngồi hả họng chờ nghe. Tôi ngáp dài, bẻ mình đôi ba lượt mà lũ nhóc vẫn chưa chịu đứng lên. Tui phải biểu: " Hết rồi! hết rồi" Con nhỏ cháu rề rà lại gần thủ thỉ "Chuyện có thiệt không vậy hả ông Mười? Ông kể chuyện hay quá, hay còn hơn "ca-tun" Bao giờ ông kể nữa?" Tôi ú ớ giả lả cho qua: " Ừ! bữa nào huỡn đãi cháu qua đây ông kể cho nghe, còn nhiều lắm, hay lắm. Còn phần cháu ráng đi học tiếng Việt đi cho giỏi rồi tự mình đọc thì sướng hơn."
Con trăng chênh chếch về Tây, trong nhà vẫn còn những giọng ồ ề của mấy đứa vừa bể tiếng đang gào "Máu nhuộm bãi Thượng Hải" bằng tiếng Tàu. Nhưng nghe chẳng có âm hao nào là Tàu hết, chỉ có tàu cau, tàu dừa thì đúng hơn. Lăn đùng ra chiếu tôi làm một giấc cho đến sáng.
Lê Việt Điểu
Đôi Bạn
Lớp 10A1 ở trường Lý Thường Kiệt bỗng dưng trở thành một "hiện tượng". Gọi là "hiện tượng" vì nó là lớp mũi nhọn, chứa đủ các thành phần học sinh giỏi từ cấp II chuyển lên. Có người được chọn vào lớp này chỉ đơn giản là kỳ thi tốt nghiệp cấp II đạt điểm khá cao, rồi được "tuyển thẳng" vào đây. Có kẻ chỉ cần đạt giải học sinh giỏi vòng Tỉnh hay Toàn Quốc năm lớp 9 rồi suốt mùa Hè đi chơi cũng vẫn cứ nghiễm nhiên trở thành thành viên của lớp này khi năm mới sang.
Tôi vào lớp này theo dạng thứ hai. Nghĩa là phải thi tốt nghiệp cấp II, nhưng không phải thi chuyển cấp. Không nói cũng biết, cả mùa Hè tôi "tranh thủ" giã từ mùa Hạ cuối cùng của cấp II bằng cách lái xe đạp đi khắp cái tỉnh lỵ nhỏ bé mà thật ra, dù có nhỏ, tôi cũng chưa được biết hết những phong cảnh nổi tiếng nơi đó. Thủ tục khai giảng đầu năm vừa chấm dứt, ngay khi thầy Hiệu Trưởng khoát tay ra hiệu buổi lễ đã xong, tôi chạy một hơi hướng về dãy nhà đối diện có hàng Bạch Đàn trắng trắng, xanh xanh đang ngả người theo gió. Thằng bạn mới quen bảo lớp 10A1 nhất định nằm ở chỗ này đây...
Tôi là người cuối cùng đến lớp. Sau một hồi nguyền rủa thằng bạn mới quen chỉ lớp sai. Tôi hổn hển đẩy cửa bước vào phòng số 20. Sáng nay dù đã dặn lòng là phải nhất định đến lớp sớm để chọn chỗ ngồi, loay quay làm sao tôi lại là người trễ nhất. Mới thoáng thấy bóng thầy chủ nhiệm, tôi vội cúi gầm đầu xuống, lí nhí xin lỗi mấy câu rồi chui tọt vào một chỗ trống còn sót lại ở bàn cuối cùng...
Trời đã "an bài" tôi ngồi chỗ này thì tôi chịu vậy, dù trong lòng thầm rủa là với cái chỗ xa tít mù khơi, "khỉ ho cò gáy" này, tôi mà nhìn thấy được chữ viết trên bảng mới là một điều ngạc nhiên. Tôi ngồi kế bên Tài, thằng bạn nước da trắng trẻo, dáng dẻ cao ráo, đẹp trai như một tài tử Hồng Kông. Nó lịch sự ngồi nhích qua một bên và chìa tay ra bắt. Tim tôi đã trở lại nhịp cũ sau cú chạy tốc lực từ mé bên kia trường...
o0o
Một tuần đã qua kể từ khi nhập học tôi mới khám phá ra là Tài ở gần xóm nhà tôi. Nó cũng thuộc loại con nhà khá giàu. Tuy nhiên phong cách và tính tình nó dễ thương khác hẳn những thằng con nhà giaù khác mà tôi đã biết.
Tôi và nó bỗng trở thành đôi bạn chí thân vào tuần lễ thứ hai. Có lẽ ở gần xóm nhau, cùng thích nhạc, "lãng đãng" đôi khi trong suy nghĩ mà hai thằng trở thành "kẻ tâm giao" với nhau tự bao giờ. Tôi vốn không tin dị đoan, nhưng khi bị mấy đứa con gái reo hò hai tiếng "Quan Tài", "Quan Tài"... Tôi đâm ra hơi..."ớn" - "Ớn" không phải vì hai tiếng này dính dáng nhiều đến chuyện chết chóc, xui xẻo, mà vì tôi có cảm giác tình bạn của tôi với Tài bị cái tên cặp này làm xấu bớt đi...
Sau một hồi lúng túng, tôi gỡ gạc: "Mấy bạn không biết chứ tên tôi là Quang, chớ có phải "Quan" đâu mà lo". Nói là nói vậy cho qua quận, chớ quả thật bọn nó quả tình làm tôi suy nghĩ...
Trống trường vừa dứt tiếng, tôi xách chiếc xe đạp cũ mèm len lỏi cố thoát ra cái cổng hẹp té để "vọt" ra ngoài. Tài cũng đang vật lộn với một đám người, cố bắt kịp tôi:
- "Quang, đợi tao một chút!"
- "Có chuyện gì mà mặt mày như bắt được vàng vậy?"
- Taị?- Tôi hỏi
- "Có chứ sao không, chút tao nói mày nghe"
Giọng nó như reo, đồng thời chiếc xe nó đụng vô một người trước mặt. Nó nhanh miệng xin lỗi rồi phóng lên yên...
Một giây sao nó đã ngang hàng với tôi:
- Quang, mày có biết con Thúy ngồi trước mặt mình không?
- Biết chứ sao không?-Tôi bâng quơ trả lời. Thật ra tôi biết Thúy đã lâu lắm rồi, từ hồi học thêm Anh Văn chung ở nhà một bà giáo dạy tư lận. Hiển nhiên thằng Tài hiểu chữ "biết" của tôi theo một lối khác.
- Ừ, tao cũng biết Thúy đó Thúy dễ thương ghê đó mày. Cứ y như con búp bê, ai nói gì chỉ cười cười, hiền khô à!
Tôi cười thầm trong bụng. Chắc chắn là tim thằng Tài đã nhảy thêm hay bớt một nhịp rồi. Rồi không muốn lam nó mất hứng, tôi tiếp lời:
- Tao cũng thấy vậy, Thúy hiền thật đó Lại giỏi tiếng Anh lắm mày à. Lúc xưa cổ là học trò cưng của bà giáo dạy thêm tao đó!
Thằng Tài hơi."sốc".., tại nó không biết Thúy được học tiếng Anh sớm vậy Nhưng điều làm nó ngạc nhiên là Thúy lại học chung với tôi, biết nhau lâu một ngần ấy thời gian...
Học Kỳ I trôi qua nhanh cũng như niềm vui của tôi và Tài. Câu chuyện bắt đầu bằng những trùng hợp ngẫu nhiên đầy... "hại báo" không ngờ trước được. Mà cho dầu có ngờ, tôi cũng không làm gì khác khả dĩ có thể thay đổi cách nhìn của thằng Tài đối với tôi...
Là lớp phó học tập, tôi thường xuyên "lãnh" những nhiệm vụ không dễ chịu chút nào. Chẳng hạn như trước khi thầy dạy Anh Văn xuất hiện ở cửa lớp, tôi phải viết xong cả bài tiếng Anh dài thườn thượt sẽ học trong ngày lên bảng. Câu cú đâu đó phải chỉnh tề, không được quên sai chính tả. Mà để làm được việc đó, tôi cứ vài ba giây lại phải đưa mắt nhìn sách, nhìn bảng... rồi nhìn sách. Lòng lo thươm thướp, sợ một lỗi lầm viết bảng nào đó đủ nhỏ sẽ "giết" tôi...
Không biết vì lý do gì ông thầy dạy tiếng Anh của tôi thích bài dân ca Anh "Năm trăm Dặm" (500 miles) một cách lạ thường. Và để chứng tỏ cho đồng nghiệp thấy rằng ông, một người không chỉ biết dạy Anh Văn, mà còn quan tâm cả đến lĩnh vực đời sống tinh thần của tụi trẻ, ông bắt tôi và Thúy - Vâng, vấn đề nằm ngay chữ "và" này đây- bắt giọng cho lớp hát mỗi ngày khi có giờ Tiếng Anh, hay bất cứ khi nào ông "quá bộ" đến thăm...
Thằng Tài lúc đầu không nói gì. Nhưng khi nó thấy ông thầy, không biết vô tình hay cố ý "tạo điều kiện" để tôi và Thúy làm việc chung - Như khi Thúy viết bản dịch tiếng Việt, tôi viết bản tiếng Anh, hay khi hai đứa đóng kịch đọc baì trong sách Giáo khoa. Nó bắt đầu tỏ ra lạnh nhạt và khó chiụ Ít nhất là đối với tôi...
Tôi chẳng cần phải là thần tiên gì mới đoán ra được điều này. Chẳng qua vì tự nhiên một ngày thằng Tài bỏ đi thói quen cố hữu rủ tôi đi học mỗi sáng. Đã vậy, lúc về nó cũng tìm cách đi về hoặc sớm, hoặc muộn... chẳng bao giờ đợi tôi. Tôi đau khổ lắm, dự định một ngày đẹp trời lợi dụng lúc nó vui, sẽ phân trần cho nó hiểu.
Vậy mà đời sống có chìu ai bao giờ Thật là "họa vô đơn chí, phúc bất trùng lai"! Chuyện kia chưa xong, chuyện nọ lại xảy ra nhằm làm cho cái đời sống vốn đã phức tạp này lại phức tạp thêm, không lối thoát!
Tôi quên kể bạn đọc nghe cái "Chức" thứ hai của tôi trong lớp 10A1 này. Chỉ có một lần ngồi ôm đàn nghêu ngao giúp vui cho lớp mà tôi được/bị chỉ định làm lớp phó Văn nghệ. Tôi từ chối, viện lý do là lớp phó học tập đã chiếm đủ thời giờ "bay nhảy" của tôi rồi. Cho đến khi thầy chủ nhiệm "hạ chiếu" thì tôi chiụ thua, lãnh việc! Hơn nửa học Kỳ trôi qua, tôi mừng thầm trong bụng vì cái chức phó văn nghệ chỉ là một "tước" kiểng mà thôi Tôi thực ra không phải làm gì vất vả cả Đùng một cái, thầy chủ nhiệm tuyên bố là lớp 10A1, vì là lớp chứa đựng những "tài năng cái thế" (theo lời thầy dụ tuị tôi). Thì dịp lễ 20 tháng 11 kỳ này, nhất định trưởng ban văn nghệ phải tìm ra một tiết mục gì thật đặc sắc cho lớp. Tôi mới vừa muốn mở miệng cười vì câu nói của thầy đầy khôi hài cải lương trong đó khi thầy dùng từ "đặc sắc", thì nhớ lại cái gánh nặng mình phải mang từ đây cho tới ngày đó, tôi hết muốn cười...
o0o
Một hôm trên đường ghé thăm thầy dạy Đàn cũ, tôi sững sờ khi thấy Thúy một tay ôm đàn, một tay lái xe rẽ vào nhà thầy. Té ra cái lớp 10A1 đầy nhân tài mà tôi nào có biết. Sau khi Thúy về, tôi "điều tra" thì mới biết cô nàng đã học guitar với thầy tôi được hai năm rồi. Một ý tưởng chợt lóe lên trong đâù, mà cho tới phút giây này tôi cũng còn tự trách mình sao khi không lại nảy ra cái ý "quái đản" đó.
Chỉ còn có hai tuần nữa là ngày biểu diễn văn nghệ bắt đầu Thúy và tôi lu bu, bận rộn. Đêm nào cũng đến nhà Thầy nhờ thầy dợt hai bài song tấu guitar do thầy biên soạn. Một baì là "Tình Trong Đôi Mắt" mà tôi đặc biệt say mê, bản kia: "Đôi Mắt Huyền"...mà giai điệu hòa âm bằng guitar thì không chê vào đâu được.. Tài cũng bận bịu với phần diễn kịch. Tôi và nó đều có chuyện để làm, ngoại trừ thời gian ở lớp... hai đứa ít khi có dịp gặp nhau nữa.
Một đêm khi tôi bước vội ra cửa nhà thầy sau một ngày tập dợt thường lệ...Tài đợi tôi trước cửa nhà thầy. Đôi mắt nó qua ánh sáng hắt xuống của ngọn đèn đường, dường như có gì khó nói. Tôi chờ đợi nhưng không nghe tiếng nó nói gì. Bất ngờ nó quay ngoắt lại... đạp xe một mạch. Tôi chỉ kịp nhìn thấy cái dáng cao lớn hối hả của nó và một chiếc bóng đổ dài trên mặt đường đêm...
Trưa hôm sau khi tôi đang nằm nghỉ trên cái ghế xích đu trước nhà, ngắm nghía khu vườn đầy hoa Lung linh một màu tím như trong bức tranh của Danh Họa Monet mà ông Ngoại đã tốn biết bao công sức gầy dựng. Tôi nghe tiếng xe gắn máy , rồi thằng Tài ở đâu chạy chiếc xe "cub" của nhà nó lao ngay vào giữa sân. Nó thắng gấp chiếc xe, rồi nhảy từ trên xe xuống, dúi vào tay tôi một tờ giấy. Tôi chưa hiểu đầu cua tai nheo ra sao thì nó đã biến mất khỏi sân nhà tôi, cũng thình lình như lúc nó vào. Để lại một đám bụi mù tung tóe...
"Quang!...Tao đã thật sự thua mày..."
Tờ giấy có bao nhiêu đó thôi. Nhưng nó nói rất rõ thằng Tài nghĩ gì về tôi. Lời nó nửa như hờn trách, nửa như mỉa mai..
o0o
Lớp 10A1 giành giải nhất văn nghệ về cho lớp. Tôi mừng phát khóc, giấy khen và phần thưởng tôi giao tất cho Thúy giữ. Khó mà biết tâm trạng tôi lúc đó. Vừa vui, vừa buồn, tôi cảm thấy hình như vừa đánh mất một cái gì!
Mãi cho đến mùa xuân năm 93, thằng Tài mới hết giận tôi về chuyện Thúy. Chắc tại trước lúc tôi đi xa, lời lẽ phân trần tôi gửi nó có phần thuyết phục. Hai đứa chúng tôi, dù là "đực rựa" với nhau... đã ôm nhau mà khóc. Hôm trước ngày lên Saigon chờ ngày cất cánh. Tôi và nó đã làm một chuyến "viễn du" dài 200 cây số trên chiếc xe Honda nhà nó. Chuyến đi hòan toan không có điểm tới, đói thì ghé ăn, khát thì uống nước. Lần đầu tiên trong đời tôi với nó mới có cơ hội chụp hình chung. Đêm trước khi rời VN, tôi đã cẩn thận gói hình nó trong bọc nylon. Vì tôi có nhiệm vụ rửa, dự định khi gặp nó thì trao vội rồi đi. Chiếc máy bay đưa tôi rời đường băng sớm hơn dự định hai tiếng đồng hồ. Nó mãi mãi sẽ không thấy được hình chụp hai thằng bên bờ hồ Dầu Tiếng. Còn tôi, vẫn không có dịp siết tay nó một lần cuối cùng trước lúc đi xa...
Ý Nhi