vhnt, số 346
18 November 1997
Trong số này:
thư vhnt...............................................................Chinh
T h ơ :
1 - Chờ tình em tháng mười ...................................M.Nguyen
2 - Vẽ tranh ..........................................................Chinh
3 - Từ ly .....................................................Quang Thành
4 - Hạnh phúc ........................................Huỳnh Ngọc Phước
5 - Tư tưởng .............................................Bình Thường
6 - Ngày lạ / Chấm hết ...................................Thận Nhiên
7 - Tự bạch, tình ............................................Nguyên Nhi
8 - Thả buồn đi hoang ......................................Hồn Du Mục
D i ễ n Ð à n V ă n H ọ c :
9 - Phỏng vấn nhà văn Nguyễn Mộng Giác ........................VHNT
T r u y ện N g ắn / S án g T ác :
10 - John Steinbeck: Chuyện Kỳ Lạ ở Phố "M." ....................Phạm Viên Phương dịch
Bạn thân mến,
Ðứng trước bức tranh, người thưởng ngoạn có hai thái độ: một là họ ưa thích đứng lại nhìn ngắm, hai là họ dửng dưng quay lưng bỏ đi. Cả hai thái độ không thể kết luận là đúng hay sai. Người vẽ, vẽ cho mình trước hết và người xem tranh, họ xem cho họ (*)
Người hoạ sĩ, hay người nghệ sĩ nói chung, thuần tuý chỉ làm công việc mà họ đam mê: hoàn thành một tác phẩm nghệ thuật. Hành trình tạo ra tác phẩm chỉ là hành trình của một giấc mơ. Người nghệ sĩ như người đang chìm đắm miên man trong một giấc ngủ dài suốt những mùa màng; trong giấc chiêm bao chập chùng đó, họ mài nhẵn tư tưởng, bóp nát ý thức sáng tạo, kiệt quệ đam mê, thở hơi thở cuả hy vọng và tuyệt vọng. Khi thức dậy, tác phẩm tạo ra chỉ còn vương vấn mùi hương của một giấc mộng dài.
Người nghệ sĩ mang giấc mơ của người làm công việc xây dựng một công trình. Người thưởng ngoạn cũng mang trong mình một giấc mơ riêng. May mắn ra thì hai giấc mơ gặp gỡ nhau trong tác phẩm. (*)
Khi một tác phẩm nghệ thuật hoàn thành, người làm ra nó đã hoàn toàn làm xong nhiệm vụ - như một người đã đi trọn giấc chiêm bao, trở về hiện thực, làm người thưởng ngoạn cho chính tác phẩm mình tạo ra. Tác phẩm lúc ấy cũng đã được hoá thân, hay khoác lên một thân phận riêng cho nó.
Well, go deep into the unconscious
To find again with the poet the primeval dream
And you'll see clearly the truth:
Red it is, the little blue flower!
Gaston Bachelard
(Psychoanalysis of Fire)
Ðoá hoa xanh bé bỏng màu đỏ rực! Cái đẹp của một tác phẩm chính là sự hoá thân đó. Sự hoá thân được đợi chờ từ phút đầu của buổi chiêm bao. Và, hạnh phúc của người nghệ sĩ, phải chăng, chính là những giây phút đợi chờ đó?
Hạnh phúc nhân gian là có thật
Cho nỗi đợi chờ ...
(Mnguyen)
Chúc bạn một ngày vui và hạnh phúc.
"Hạnh phúc hôm nay
Thoáng
Có thật,
Một điều."
(Huỳnh Ngọc Phước)
Chinh/BBT
(*) Trích "Câu Chuyện Hội Hoạ", Thái Tuấn
thân ái,
PCL/vhnt
Chờ Tình Em Tháng Mười
... gởi về K. thương yêu xa xưa
Anh đếm mãi từng ngày,
chờ tình em như thời mới lớn,
trong cô đơn chìm đắm,
và lòng ngập ngừng,
sợ mọi điều rồi sẽ muộn...
Này em hỡi,
tình anh vời vợi...
Nỗi nhớ cũng không cùng...
Như chim xa rừng thương cây nhớ cội,
như suối kia vẫn đợi nước nguồn.
Anh mong chờ tình em,
như mong nỗi dịu dàng trở lại.
Anh đã sinh ra
và đã có em,
trong tháng mười của đời người.
Anh sẽ có lại em,
trong chu kỳ cuộc đời trăm mối?
Từ tình em bước đi không nói,
cho hồn anh ngậm kín vết đau...
cho trăm năm là giấc mộng qua mau,
cho tin yêu còn lại, một đời riêng anh giữ...
Như dao sắc đời kia mang đến,
cắt đứt rễ sâu
nuôi cành mơ đang giữ mộng ban đầu...
Kỷ niệm cũ, bỗng buồn như niệm khúc,
và tình xưa, ơi nhát sắc đau lâu,
và ngày rồi như đêm tối chìm sâu,
và lời hát ru nhau,
nay thành tang khúc...
Mỗi đời sống có nhiều vùng khép kín,
mỗi con tim,
một cánh cửa ra vào,
và mỗi người chỉ một thuở yêu nhau
còn sót lại là một đời để chết...
Tình em đó,
mở tung anh rực rỡ,
lòng hân hoan khép cửa đón em vào,
và một thời anh đã đủ nỗi yêu,
nên còn lại chỉ một thời nỗi chết...
Ðọc thư xưa,
mưa có nhòa trên má?
Có thấy trong mưa
những vàng son rực rỡ
thuở nhiệm mầu?
Thuở thật lòng nên trong bóng tối thương đau,
tình vẫn thắp cho nhân gian thêm từ ái...
Ðọc thư xưa,
tim em có hụt hẫng,
nhịp đập tim có chậm lại một lần?
Có nhớ xưa thiên đàng ai đứng,
cho cây đời,
cay đắng
vẫn nở hoa?
Có nhớ xưa trong những xót xa,
khúc hát vẫn vang lên rộn rã
lời ngợi ca những hẹn hò vội vã,
lời ngợi ca,
thuở trời đất một lòng...
lời của chim dẫu sống trong lồng,
vẫn xin được thời yêu và thời để chết...
Ðọc thư xưa, hồn anh đẵm ướt,
những xa xưa, những tình ý thật đầy,
đời ngập ngừng, nhưng vẫn mộng truyện chân mây,
nên đời sống bỗng trăm ngàn ấm áp...
Ðọc thư xưa,
tim anh hụt hẫng,
nhớ tay ai,
khi đeo nhẫn bùi ngùi.
Thương cho đời ruồng rẫy cả nụ cười
thương hò hẹn và những ước mơ tội nghiệp.
Và thương mãi thuở xa xưa thân thiết,
thuở ươm mơ,
xin đi lại từ đầu
thuở ngày dài còn vướng mắc tơ sầu,
xin đi chậm nhưng bên nhau đi mãi...
Ðọc thư xưa,
mưa rơi trên má,
nhớ lược gởi về,
như đính ước mai sau,
lời dặn dò
gỡ tóc rối cho nhau,
như gỡ hết những muộn phiền vương mắc.
Và chim hỡi,
cao lên cao tiếng hót,
hát cho đời những tiếng thật thanh tao,
hát cho đời những tiếng rất ngọt ngào,
để cảm tạ
chút tình còn kiếm được,
ở cõi nhân gian rất hỗn độn đổi đời!
...
Anh vẫn đếm từng ngày,
cất tiếng thầm thì
gọi người trở lại.
Anh vẫn mong từng ngày,
người dịu dàng bước tới.
Anh vẫn chờ,
người về như xa xưa...
Và một ngày thật êm đềm bên nhau anh sẽ hát
hạnh phúc nhân gian là có thật
cho nỗi đợi chờ...
Mnguyen
31-10-1994
Vẽ Tranh (Khi Mùa Thu Chưa Tàn)
Ném mảng màu vào khung vải
Ngậm nghẹt mùa thu vàng quánh đặc
Dốc ngược hai ba lần
Không tìm thấy hình dáng mùa thu.
Tưới xăng vào bức tranh
tự thiêu
Khói lên đưa tiễn linh hồn
Mười móng vuốt cào rách mặt
Vỡ lời nguyền.
Thản nhiên hút dần mẫu thuốc
Nhìn tranh cháy thành tro
Búng văng tàn.
29/10/97
Chinh
Từ Ly
Ðôi bàn tay em
đôi bàn tay tôi
chiều mưa xuống phố khập khừng
rẩy run đời nhau giữa ngày đang thay mầu son phấn
vuốt nỗi sầu tình
sầu phơi
mắt cửa
Ðêm
gió thốc
phố động tình mưa nhỏ
tôi động tình ẩm lạnh bàn tay
Ngày
cao ốc ngỡ ngàng mắt ngó
ngoại ô xa lóa mặt sông nhức nhối
vệt sóng sang ngang
chìm nổi giạt bờ
đôi bàn tay em
giật dờ
chấp chới
Quang Thành
Việt Nam
Hạnh Phúc
Ta đã yêu nhau vàng ngày mất ngủ
Nắng mỏi mưa khô
Mây tảng giăng đầu
Hạnh phúc que diêm
Phập phồng gió
Nghiệt
Ðời cắt em ta đứt lìa cuống ruột
Em bắt hồi sinh khốn đốn đôi giòng
Một chắt hai chiu chuyện lòng sốt rét
Sáng tối chờ
Con muỗi tình yêu
Vắt trái tim khô sống đời nhân bản
Người hãm hiếp ta chân lý nửa mùa
Vạt nắng chia đôi niềm đau hằng cửu
Khoắt khuya về khóa kín chồng thư
Ta đã bôn ba trong căn phòng đóng cửa
Quá khứ bản lề kẽo kẹt tương lai
Hắt ngọn đèn khuya gối mền hôi ẩm
Em hiện
Về xé vết da non
Bằng hữu trước hiên ly cà phê chờ sáng
Heo hút đường vàng vọt soi đêm
Nhắc nhau về một niềm riêng
Mười năm ung mủ vỡ tung một ngày
Con én cánh nâu chưa làm nên tích sự
Mảnh văn bằng không biết tương lai
Những con đường số, bước thơ
Mùa xuân mới
Ôm trọn ngày dài trong trí nhớ. Em
Em đổi lấy niềm đau núi biển
Ðể yêu ta, như thuở ban đầu
Mang lòng mới nhập hồn bến cũ
Cuộc trăm năm liệm kín đời nhau *
Bạn nói dùm ta nguồn thi tứ nghẽn
Khi lòng ta chứa cả đại dương
Phải nói yêu em như một điều cần thiết
Vẫn muốn yêu em trong lặng lẽ ngôn từ *
Chợt nghĩ đến hôm qua, mai sau vắng vẻ
Em bước trước đời ta một bước
Cuối góc trời tung cách châu khoa
Bạn bè xa mù sương khuất núi
Nơi chốn nào gom chút đợi mong
Hạnh phúc hôm nay
Thoáng
Có thật,
Một điều.
Huỳnh Ngọc Phước
* thơ Từ Ðông Nghị
Tư Tưởng
Từ ngày có em:
có thượng đế
có tháp eiffel
có xe xích lô
có dao nhọn
từ ngày có em tôi chọn nhiều lời
từ một khối óc trống rỗng
từ một trái tim bệnh hoạn
em hồn nhiên đẻ ra mặt trời vào mỗi đêm lẻ
Cho tôi thoát mồ hôi
thoát ra những ý nghĩ dâm đãng
khi tôi chết xin cho xác tôi được úp mặt lên ngực em một
lần
da thịt nào biết ăn năn
vong linh nào được cứu vãn
những đêm em nhắm mắt
những đêm tôi nhắm mắt
có sự khác biệt: mặt trời khơi thai tư tưởng
Bình Thường
Ngày Lạ
tặng Chinh
Khi đời sông đã cạn
mặt người mọc loài xương rồng
trổ hoa đỏ rực
mặt trời không lặn vào những cuối chiều
ngón tay gõ mệt nhoài miên man cánh cửa đêm đóng chặt
Rân ran da non
đèn soi chiếu bóng dị dạng hắt xuống nền gạch tàu
lửa đất đồi cao nồng mùi cỏ ải
lạ lẫm đầu lưỡi
một nguyên âm dài hút buốt rền ở ngày không thể mưa
Chấm Hết
"Hãy sống vì quê hương dân tộc"
Thầy tôi dạy thế
"Hãy làm những gì có ích cho đời"
Cha tôi dạy thế
"...Ít ra cũng nuôi được thân mày"
Mẹ tôi bảo thế
"...Và vợ con"
Vợ tôi góp ý
Nhân danh thi hào thế kỷ
cạn chén đắng này!
Thận Nhiên
Renton, WA
Tự Bạch, Tình
Là đứa dốt thích bàn về chữ nghĩa
Tên khờ hay lên lớp dạy khôn đời
Là kẻ khó ưa nhắc về của cải
Ta nói chuyện tình
Cũng có khi bắt gặp một tấm lòng
Bỗng hãi sợ tự tiền căn oan khốc
Lăn về đâu, cỗ xe già kiệt, dốc
Tình về đâu, cứ hỏi gió về đâu
Là đứa nhàn cư thích bàn chuyện bể dâu
Tên lưu lạc vọng nhớ về đất hứa
Là kẻ chiến bại ưa nhắc về binh lửa
Ta lại nói chuyện tình
Ðã lặng tăm những thống trách giận hờn
Ðã êm ái vết thương xưa hóa sẹo
Luận mà chi, kiếp này như không thể
Sao lưỡi kiếm lại từ em
Nguyên Nhi
Okc, OK.
Thả Buồn Ði Hoang
Ðêm sâu,
Sâu tận đáy sầu!
Từng sợi tơ buồn,
Rối nhàu.
Giăng mau.
Từng sợi tơ buồn,
Quấn quyện hồn đau.
Cô trăng dòm qua khung cửa,
Nhoẻn miệng cười,
Và hỏi :
"Làm thơ?"
"Không phải.
"Chỉ là gánh nặng.
"Oằn trên vai cái nợ trần ai.
"Người vay!
"Tôi trả!"
Trăng cười.
Trăng lại cừơi...
Lả lơi,
Nghiêng ngả.
Con gió khuya đi ngang,
Thấy lạ,
Tò mò đứng lại.
Tia lạnh chớp ngang vai.
Oán hận thoát thai!
Cuồng điên đội mồ!
Sân si đầy hố mắt!
Chiếc lá cuối cùng cũng bàng hoàng cúi mặt.
Ngả vàng.
Rơi vội xuống mặt đời thênh thang,
Bỏ lại bóng cây ngỡ ngàng,
Trơ trọi...
Ðêm sâu,
Sâu thẳm muộn màng.
Sương rụng vội vàng,
Trắng một màu tang.
Sương rụng vội vàng,
Tơ rối ngổn ngang.
Bẽ bàng!
Buồn mãi lang thang...
...
Hồn Du Mục
phỏng vấn nhà văn Nguyễn Mộng Giác
VHNT: Động cơ nào đã thúc đẩy anh viết truyện? Có phải viết để phản ảnh hiện thực hay viết là để tái tạo một bầu không khí dễ thở cho mình?
NMG: Thông thường những câu hỏi "nghiêm trọng" như thế này thường mở lối cho những câu trả lời "nghiêm trọng", chẳng hạn sứ mệnh này sứ mệnh khác của người cầm bút. Thực tế những "sứ mệnh" trọng đại người ta thường nhắc tới không phải là động cơ thúc đẩy người ta viết. Những sứ mệnh đó đến sau chuyện viết, bị nhà văn lấy để biện hộ cho những gì mình viết, hoặc che đậy những cái yếu đuối không muốn cho độc giả thấy. Động cơ viết, theo tôi, luôn luôn bắt đầu từ chuyện mê đọc. Tôi mê đọc truyện từ nhỏ. Hễ có thì giờ là thuê sách về đọc, đọc đủ thứ thượng vàng hạ c ám. Ngay cả những năm phải vất vả "gạo" bài để lấy hai cái bằng tú tài, tôi cũng ngốn mỗi ngày một cuốn tiểu thuyết. Tôi là khách hàng quen thuộc của những tiệm cho thuê sách ở Chợ Đầm Nha Trang, thời tôi học ở trường Trung học Võ Tánh. Vào Sài Gòn học đệ nhất ở Chu Văn An và Đại học Văn khoa, tôi lại bị những nhà văn ngoại quốc lôi cuốn, nhất là Dostoievski. Kết quả trông thấy là cuối năm thi hỏng tú tài toàn phần, phải thi lại kỳ hai. Sau khi đọc chuyện của thiên hạ, vào một ngày đẹp trời nào đó, tự nhiên người ta hỏi: Họ viết được sao mình không viết được? Thế là bắt đầu. Bản thảo gửi đi cho các tạp chí, hồi hộp theo dõi mục. Hộp thư, ngắm nghía tên mình trên bìa báo, đọc lại những dòng chữ ngay ngắn trên trang báo khác hẳn trang bản thảo luộm thuộm, trời, sao mình viết được những truyện hay cỡ này hở trời! Đấy, cái ngây thơ đáng yêu của thuở ban đầu chính là chất men thúc đẩy người ta viết, chứ không có gì "nghiêm trọng" như người ta vẫn nói. Phản ảnh hiện thực hay tái tạo một bầu không khí dễ thở cho mình, phục vụ nghệ thuật hay phục vụ nhân sinh, ôi, đừng tin những lời ba hoa của các cây bút thành danh ngồi rung đùi giữa danh vọng và nói khoác.
VHNT: Có một số nhà giáo viết văn, trong đó anh là một, theo anh có gì mâu thuẫn hoặc tương đồng giữa nghề viết văn và nghề dạy học?
NMG: Dạy học là một nghề; viết văn, trong hoàn cảnh Việt Nam, ít khi nuôi nổi người cầm bút nên không phải là một nghề "nghiêm chỉnh" được các bà xã bằng lòng. Cho nên dù đã chu toàn trách nhiệm kinh tế với gia đình, những người viết văn làm thơ vẫn bị vợ (hay chồng, hay cha mẹ) trách móc, nhắc nhở đừng sa đà vào một chuyện "ruồi bu", vô tích sự, chẳng những không lợi ích mà còn tốn thì giờ. Cha mẹ lo ngại khi thấy con thay vì học giải toán hình học lại lơ mơ ngồi tìm ý cho câu thơ sắp viết. Nếu hồi xưa có phương tiện ghi âm như bây giờ, chúng ta sẽ thích thú biết chừng nào khi nghe những lời ta thán của bà Tú Xương, bà Phan Bội Châu, bà Nguyễn Du, ông Phủ Vĩnh Tường, ông Huyện Thanh Quang... Vì không phải là một nghề, nên viết văn là một hoạt động tinh thần có thể đi song song với bất cứ nghề nào, không có gì mâu thuẫn. Riêng nghề giáo, tôi thấy nghề này có những ảnh hưởng vừa thuận lợi vừa bất lợi cho công việc sáng tác. Thuận lợi ở chỗ một nhà giáo viết lách cẩn thận hơn. Bất lợi ở chỗ do lúc nào cũng bị ám ảnh về chuyện lợi ích giáo dục nên nhà giáo không dám "phá rào", không dám chạm vào những điều cấm kỵ, lúc nào cũng sợ học trò. Thử tưởng tượng nếu Kiệt Tấn làm nghề dạy học, anh ấy có viết được những truyện ngắn tuyệt vời như "Em điên xõa tóc" hay không?
VHNT: Anh suy nghĩ gì khi viết truyện "Giếng Ước"? Có phải anh muốn báo động về tình trạng của những đứa con khi cha mẹ ly dị? Hay nói đúng hơn anh muốn báo động về tình trạng ly dị của người Việt tại Mỹ?
NMG: Tôi không có ý định làm một nhà đạo đức hoặc một cán sự xã hội chuyên về những thảm kịch gia đình khi viết "Giếng Ước". Đó là kết quả những xúc động sau một buổi tối nghe lời tâm sự của một bạn văn. Vả lại, như tôi đã một lần trả lời anh Nguyễn Mạnh Trinh trong một bài phỏng vấn đăng trên Văn Học số 121, tôi rất dễ xúc động vì những thảm cảnh của trẻ em. Nếu truyện ấy có những hiệu quả xây dựng, tôi rất mừng. Nhưng phải thành thực nói rằng tôi không chủ ý làm công việc báo động hay cảnh tỉnh ai cả. Mọi đổ vỡ gia đình đều có lý do riêng, không có trường hợp nào giống trường hợp nào.
VHNT: Về trường thiên Mùa Biển Động:
- Ngày hôm nay anh nghĩ gì về những gì người ta đã viết và phê bình về Mùa Biển Động?
- Anh có cho rằng độc giả hiểu được tâm sự (gửi gấm) của anh qua tác phẩm này không?
NMG: Tính cho đến nay, đã có một số người phê bình Mùa Biển Động một cách nghiêm chỉnh, và tôi phải mượn cuộc phỏng vấn này để cảm ơn họ. Như anh biết, đọc cả bộ truyện đã tốn thì giờ, huống chi đọc kỹ, vừa đọc vừa ghi chú, rồi viết phê bình. Có thể kể những bài phê bình của Nguyễn Hưng Quốc, Bùi Vĩnh Phúc, Thụy Khuê, Đặng Tiến, Quỳnh Giao... Riêng anh Trần Nhã Nguyên ở Montreal Canada viết hẳn một cuốn sách phê bình Mùa Biển Động. Nhưng tôi cũng thất vọng về những bài gọi là "phê bình" chỉ trích bộ truyện đăng trên nhiều báo. Trước hết, nhiều người chỉ trích bộ truyện mà không hề đọc bộ truyện. Trong sách võ hiệp, có những hiệp sĩ mù chỉ cần nghe gió kiếm là có thể đánh trả đối phương kịp thời. Trong văn chương, không có chuyện đó. Anh phê bình cuốn sách nào, việc trước tiên là anh phải đọc nó. Nhiều người không cần đọc vẫn phê bình được. Thật tài tình! Có người cũng chịu khó đọc, nhưng cái gánh nặng thành kiến của họ cồng kềnh quá, họ chỉ có thể tìm thấy những điều họ định tìm, không thấy thứ gì khác. Nhưng tôi cũng biết là không có quyền đòi hỏi nhiều ở người đọc. Người nào cũng có những nỗi lo riêng. Họ chịu khó bỏ thì giờ đọc chừng ấy trang sách là quí rồi. Không ai ủy nhiệm cho tôi viết bộ truyện này, công việc tuy nhọc nhằn nhưng là do tôi tự ý làm, tự nguyện làm, thì tôi cũng không có quyền đòi hỏi người khác phải thế này thế nào. Như thế là "fair", phải không anh?
VHNT: Phản ứng của anh nếu có người đề nghị viết văn học sử VN phân chia theo tác giả, trường phái hoặc thời đại thay vì dựa trên sự ra đời của tác phẩm trong các chế độ chính trị khác nhau để viết?
NMG: Tôi không hiểu rõ câu hỏi này. Tôi đoán theo ý anh (căn cứ theo hai chữ thay vì) thì phải quan tâm đến "sự ra đời của tác phẩm trong các chế độ chính trị khác nhau" để viết văn học sử, hơn là dự a trên trường phái, thời đại, tác giả Nếu ý anh đúng như thế, thì tôi xin có ý kiến thế này: anh muốn nhắc nhở những nhà nghiên cứu văn học phải quan tâm đúng mức tới hoàn cảnh ra đời của tác phẩ m (thời gian, không gian, thể chế chính trị tác giả đang sống với...) khi định giá, không nên đem một tiêu chuẩn thuộc vào một hoàn cảnh khác để cân đo tác phẩm. Đòi hỏi ấy đúng. Nhưng đó chỉ là mộ t phương pháp, không phải là nguyên lý tổng quát. Phương pháp này cũng không vượt cao hơn những phương pháp phân loại căn cứ theo cuộc đời tác giả, trường phái hay thời đại. Trong các phương pháp ấy, văn chương chỉ là công cụ phục vụ cho cái gì khác ngoài văn chương. Người ta đọc một tác phẩm không phải vì cái hay cái đẹp của nó, mà để tìm xem nó "chứa" cái gì. Tôi nghĩ tác phẩm tồn tại qua đào thải của thời gian, trước hết vì nó đẹp, nó hay, còn cái nó chứa thì nghĩ cho cùng, có gì mới mẻ đâu. Nhiều tác phẩm kim cổ đã viết về cái ghen, nhưng cái ghen của Hoạn Thư trong Truyện Kiều độc đáo hơn hết. Truyện Kiều không chứa cái gì mới, nhưng văn chương Truyện Kiều thì lúc nào cũng mới. Giá trị của Truyện Kiều ở chỗ đó.
VHNT: Anh nghĩ thế nào về trường hợp những cây bút mà sự xuất hiện được coi là những "hiện tượng" văn học (như Nguyễn Huy Thiệp, Trần Vũ, Phạm Thị Hoài v.v...) Những tác phẩm nổi bật của họ ngay sau khi xuất hiện đã tạo tiếng vang lớn. Có phải chính vì sự thành công của mình mà họ đã trở nên dè dặt trong sáng tác vì e ngại không còn có thể tiếp tục viết hay hơn hoặc được như cũ?
NMG: Theo dõi sinh hoạt văn học nhiều nơi, tôi thấy có hiện tượng anh vừa nói. Những tác giả thành công bất ngờ ngay từ cuốn sách đầu thường gặp khó khăn ở những cuốn sau. Khó khăn chủ quan và khách quan. Thành công (ở đây có nghĩa là được dư luận nhắc nhở nhiều, được bàn luận rộng rãi, được bạn đọc tán thưởng) tạo ra một thứ áp lực xã hội vô hình nhưng rất khắc nghiệt, vì từ đó, bạn đọc chỉ muốn tác giả viết giống y như trước, như trong thị trường điện ảnh phim Rocky thành công thì sau đó có Rocky 2, Rocky 3. Nếu tác giả chìu theo đòi hỏi của bạn đọc thì anh ta trở thành nó lệ. Anh ta bị trói chặt vào một loại đề tài, một loại bút pháp. Viết khác đi, anh ta bị khước từ. Mà đã lỡ nổi danh rồi thì sợ bị ghẻ lạnh lắm. Về phía tác giả, sau choáng ngợp vì thành công bất ngờ, luôn luôn có những lo âu như anh nói. Liệu những gì mình sắp viết có hay như những gì đã viết hay không? Chính nỗi lo đó giết chết tác phẩm. Phải có bản lĩnh cao như nhạc sĩ Phạm Duy mới có thể tự vượt mình, làm mới làm khác hoài.
VHNT: Tham vọng có phải là một yếu tố cần thiết để thành công trong sự nghiệp sáng tác?
NMG: Hai chữ "tham vọng" của tiếng Việt bị thành kiến xấu (có lẽ vì hai chữ ghép "tham" và "vọng" đều gợi lên cái gì trái quấy, sai lầm) nên mỗi lần nhắc tới, người ta đều lảng tránh đi, vội vã biện hộ tôi làm cái này cái kia vì quyền lợi chung, hoặc hoàn toàn vô vị lợi, chứ không có tham vọng gì cả. Phải phục hồi danh dự cho tham vọng. Tham vọng không có gì xấu. Đó là động cơ hữu hiệu để người ta can đảm vượt ra khỏi sự bình thường có sẵn. Vâng, tôi nghĩ người viết nào cũng cần có tham vọng. Chẳng những thế, cần tham vọng lớn. Có tham vọng lớn thì mới có công trình lớn. Việt Nam chúng ta dễ dàng thỏa mãn bằng lòng với những gánh hàng xén. Xin lỗi, tôi không dám khiêu khích ai, tôi mượn lời một nhà văn nữ sẵn sàng khiêu khích cả thế giới, chị Phạm Thị Hoài đấy.
VHNT: George Steiner nhà phê bình văn học mới đây nhận xét: tiểu thuyết đang đi dần vào ngõ cụt vì phải nhường chỗ cho sự ra đời rầm rộ của những tạp chí đủ loại vì "đã đáp ứng được nhu cầu và thị hiếu của độc giả quần chúng". Anh có đồng ý với nhận xét này không? Độc giả Việt Nam ở hải ngoại hiện nay có đang nghiêng về khuynh hướng đọc báo hơn là đọc sách?
NMG: Không đồng ý cũng không được, vì thực tế nhãn tiền bày ra đó, ở mọi nơi chứ không riêng gì Việt Nam. Đã lâu, tôi có đọc được một bài báo nói rằng thời Nga hoàng, những cuốn truyện giá trị bây giờ đọc còn đau đầu của Dostoievski và Tolstoi hồi đó đăng từng kỳ trên báo và được độc giả ái mộ nhiệt liệt. Đúng là thời hoàng kim của tiểu thuyết. Nhưng chúng ta đừng quên rằng thời Nga hoàng chưa có xi nê, tivi, chưa có Internet. Cái thú giải trí duy nhất của các vương tôn công tử Nga, của các địa chủ, phú nông và công chức tỉnh lẻ là đọc tiểu thuyết. Tolstoi, Dostoievski thời đó là Michael Jackson, là Mike Tyson, là Madonna, là Celine Dion bây giờ. Người ta bàn tán chuyện Tolstoi làm một chị sen có bầu cũng giống như người ta bàn tán chuyện Elizabeth Taylor cho de ông chồng thứ tám bây gi Tiểu thuyết có mất giá trên thị trường giải trí là điều tất nhiên. Nhưng căn cứ vào đó để khai tử tiểu thuyết như George Steiner là lầm. Tiểu thuyết có sức mạnh riêng của nó. Cuốn sách gọn gàng hơn cái tivi, cái computer. Cuốn sách biết kiên nhẫn chứ. Cuốn sách còn chứa nhiều điều bí ẩn cần khám phá (không tiền chế một lần để dùng ngay như các loại sản phẩm thính thị hấp dẫn), nên có một hấp lực bất ngờ. Xem phim Doctor Jhivago nhân vật chính bị dính chặt vào Omar Shariff. Xem tiểu thuyết của Boris Pasternak, mỗi lần xem chúng ta tái tạo nhân vật chính mỗi cách khác nhau. Tuyên truyền cho tiểu thuyết chừng ấy, anh thấy đã đủ chưa?
VHNT: Có phải văn học VN hải ngoại rất yếu kém về lãnh vực phê bình, điểm sách, và đây là một thiếu sót quan trọng cho sự lượng định phẩm chất và phát triển nền văn học?
NMG: Sự yếu kém về lý luận phê bình đã có ngay từ giai đoạn hai mươi năm của Văn học Miền Nam, và tiếp nối cho đến bây giờ ở hải ngoại. Trước 1975 ở miền Nam, công việc này đáng lý thuộc trách nhiệm của trường Đại học Văn khoa hoặc các Viện nghiên cứu Khoa học Nhân văn, sau đó là của Ban Biên tập các tạp chí văn chương. Không có cơ quan nào tích cực trong công việc cần thiết này, nên suốt hai mươi năm, một số công trình nghiên cứu về lý luận phê bình có giá trị đều do tư nhân tự nguyện làm. Họ thiếu rất nhiều điều kiện để làm việc, từ tài liệu cho đến tiền xuất bản, chưa nói đến việc mưu sinh. Sáng tác văn chương có phát triển, nhưng không có lý luận phê bình soi sáng, nên nhiều nhà văn lặp lại những gì đã viết hoặc phí phạm tài năng cho thị hiếu độc giả Thật giống như bên ngành ca nhạc, nhiều ca sĩ có tài nhưng không thông thạo nhạc lý, chỉ hát theo năng khiếu mà không trau giồi thêm nên trước sau dậm chân tại chỗ. Tình trạng ấy kéo dài ra hải ngoại, và nhìn về tương lai, có lẽ không có hy vọng cải tiến, vì rất ít bạn trẻ chú ý tới Việt học. Trong khi chờ đợi, có tình trạng "áo thụng vái nhau" và bạn đọc bị dẫn vào mê hồn trận vì phê bình và quảng cáo không còn biên giới nữa. Hiện tượng thường thấy là một người cầm bút tự bỏ tiền in lấy sách của mình, in xong tổ chức ra mắt sách, nhờ bạn bè lên diễn đàn ca tụng hết lời để mong bán sách lấy lại tiền vốn cho ông xã bà xã khỏi chau mày. Ngay các tác giả cũng không sẵn sàng nghe lời phê bình thành thực. Khen chưa đủ đã giận, huống chi chê. Kết quả người ngoài cuộc không biết đâu là tác phẩm giá trị cần mua.
VHNT: Dòng văn học hải ngoại đã được gán cho nhiều nhãn hiệu như "lưu vong," "hoài niệm, "hội nhập." Theo anh, sắp tới dòng văn học này sẽ được gọi là gì?
NMG: Vấn đề này phức tạp, không thể trả lời vài dòng là giải quyết được mọi nghi vấn. Trên Văn Học, chúng tôi đã thử đặt câu hỏi này để định danh văn học hải ngoại, và có nhiều người đồng ý rằng những cụm từ "lưu vong", "chính thống", "hoài niệm", "hội nhập", "đấu tranh" đều không rộng đủ để bao trùm dòng văn chương này. Nguyên do là cộng đồng người Việt ở hải ngoại có nhiều xuất xứ khác nhau, từ những người qua Pháp từ thời làm lính thợ trong thế chiến thứ hai cho đến những sĩ quan VNCH vừa qua theo chương trình H.O. ở Hoa Kỳ, chúng ta có cảm tưởng cộng đồng là một khối thống nhất vì đa số ra đi sau 1975 và sống dưới chế độ VNCH, nhưng chỉ cần qua Âu châu, chúng ta đã thấy vấn đề không đơn giản. Hiện ở Đức, số người Việt gốc Bắc lấn át số thuyền nhân tị nạn gốc Nam, ở Pháp các thế hệ chồng chất ngày mỗi nhiều, mỗi thế hệ có một tâm tình riêng, cách suy nghĩ riêng. Có lẽ chỉ có cụm từ không mang nội dung định tính là "dòng văn học hải ngoại" còn tạm dùng được một thời gian lâu nữa, còn những cụm từ khác đều đã lỗi thời.
VHNT: Anh nghĩ gì về vấn đề "giao lưu văn hóa" giữa trong và ngoài nước? Nên hay không nên giao lưu? Tại sao?
NMG: Khi hỏi nên hay không nên giao lưu, chúng ta mặc nhiên cho mình một thứ khả năng, một thứ quyền lực mà chúng ta không hề có Trong thời đại khoa học truyền thông tiến bộ khủng khiếp như thời đại này, nhất là từ khi có Internet, có thể nói không có thứ quyền lực nào có thể ngăn cản việc giao lưu giữa loài người trên địa cầu này. Ngay những kẻ có những đam mê quái dị nhất cũng có thể tìm bạn tri âm trên Internet, một người ở Hoa Kỳ có thể mở máy đấu hót với một người ở tận Bắc cực. Giao lưu văn hóa giữa trong và ngoài nước là điều tự nhiên phải xảy ra, không ai ngăn cấm được. Chính quyền cộng sản Việt Nam dùng cả một guồng máy công an đồ sộ nhưng có ngăn cấm được văn hóa phẩm hải ngoại tràn về đâu, đến nỗi một em bé ở Lạng sơn cũng biết Linda Trang Đài là ai. Ngược lại, những người cần tìm hiểu tình trạng văn hóa, chính trị, xã hội, kinh tế trong nước cũng dễ dàng tìm ra tài liệu sách báo ở các thư viện. Chỉ những người sợ sự thật mới sợ giao lưu, vì thế, chính quyền VN lúc nào cũng sợ giao lưu, luôn luôn cảnh giác và tìm ra một cụm từ rất kêu để tự trấn an, là "diễn tiến hoà bình".
VHNT: Là chủ biên một tạp chí về văn học, anh đã áp dụng tiêu chuẩn hay lượng định chuẩn mực nào (rules of thumb) về một sáng tác? Bài viết phải hội đủ những điều kiện nào để được chọn đăng?
NMG: Những người chủ biên tạp chí văn chương sẽ trả lời gọn ghẽ: bài phải hay mới đăng. Nhưng nếu gặng hỏi thêm: Thế nào là hay? thì các vị ấy đâm bối rối. Vâng, thế nào là một truyện ngắn hay, một bài thơ hay? Theo kinh nghiệm hơn mười năm đọc bản thảo cho tạp chí Văn Học và các nhà xuất bản Văn Nghệ, Thanh Văn, gác sang một bên những chuyện đau đầu về chính kiến hay thuần phong mỹ tục có thể làm mất độc giả, tôi nghĩ một truyện ngắn "đăng được" khi đọc xong thấy không có gì gượng gạo, giả tạo, chứng tỏ tác giả thành thực với mình và có khả năng trình bày cảm xúc suy nghĩ theo một hình thức có thể lôi cuốn được người đọc. Truyện "đáng đăng" là truyện đọc xong có một dư vị lâng lâng trong đầu, đọc xong thấy cuộc đời rộng thêm ra, con người bí nhiệm và đáng yêu hơn, thấy mình chỉ là một phần nhỏ trong cái bao la của nhân sinh và từ đó bắt đầu biết lắng nghe người khác, từ đó biết trân trọng những cái khác mình. Phần thơ, cái quan trọng là cá tính của người viết. Có những bài thơ không đề tên tác giả thì không thể đoán được bài thơ ấy của ai. Tôi thích những bài thơ không cần in tên ai cũng biết tác giả. Cái riêng biệt duy nhất không ai có làm cho bài thơ có chỗ đứng trong cả trăm bài thơ Văn Học nhận được mỗi kỳ. Ngôn ngữ thơ khác văn xuôi ở chỗ lúc nào thơ cũng đi trước ngôn ngữ của đời thường. Thơ là người lính xung kích, là kẻ tiền phong. Điều này không nhất thiết đòi thơ phải phá thể. Truyện Kiều, thơ Đường luôn luôn mới dù tuổi thọ trên vài trăm năm. Nhưng xin lỗi anh, nói chuyện này không bao giờ hết, mà cũng không dễ gì tìm được người đồng ý với mình. Người chủ biên do công việc phải chọn bài, nhưng không có gì bảo đảm là anh ta chọn đúng. "Nếu có gì sơ suất, xin niệm tình tha thứ". Xin mượn lời quen thuộc này để cáo lỗi với những văn hữu gửi bài cho Văn Học.
VHNT: Sinh hoạt văn học "lẻ loi" trên internet của giới trẻ và chuyên gia có ảnh hưởng hay có thể góp phần hòa nhập vào "dòng văn học chính" ở hải ngoại không? Về phương diện sáng tác văn học, anh có nhận d dịnh lạc quan hay bi quan đối với thế hệ trẻ Việt Nam nói chung? Nếu có thể, xin cho biết nhận xét của anh về một so sánh về khả năng sáng tác văn học của giới trẻ trong nước và của giới trẻ hải ngoại.
NMG: Internet là một phương tiện truyền thông, giống như máy in và hệ thống truyền thanh truyền hình, tự thân nó không có trách nhiệm về nội dung hay giá trị của những tác phẩm nó phổ biến. Một truyện ngắn, một bài thơ đọc trên Internet cũng giống như đọc trên trang sách trang báo mà thôi. Huống chi trong tình hình xuất bản và phát hành khó khăn hiện nay, phổ biến tác phẩm trên Internet là một giải pháp tiện lợi. Tôi đã thấy nhiều nhà văn nhà thơ chọn giải pháp này, như các anh Bùi Thanh Liêm, Nguyễn Đức Bạt Ngàn, Trần Hoài Thư... Sự khác biệt là thành phần người đọc, không phải ở phía giới sáng tạo văn nghệ phẩm. Muốn đọc một cuốn sách, độc giả chỉ cần biết ch Muốn đọc truyện trên Internet, điều kiện đòi hỏi cao hơn: phải có máy computer, phải nối vào một hệ thống Internet, phải có một trình độ Anh ngữ và kỹ thuật điện toán nào đó để tìm web-site, để chuyển hệ chữ Việt... nghĩa là đúng như anh nói, thành phần độc giả này bị giới hạn trong giới chuyên gia trẻ, theo tiêu chuẩn Hoa Kỳ là thành phần tru ng lưu - middle class. Đây là thành phần nòng cốt tạo nên sức mạnh cho Hoa Kỳ, họ năng động, nhiều sáng kiến và tham vọng, và rất đa đoan công việc. Nếu có thì giờ lên Internet, họ cũng làm như họ xem tivi, cầm remote bấm lia lịa xem chương trình này một chút rồi bấm sang chương trình khác. Internet cung cấp cho họ một khu giải trí đầy hấp dẫn và rộng rinh, họ như đứa trẻ lạc vào cửa hàng Toys-R-Us. Cho nên Internet tạo ra một phong cách thưởng ngoạn mới, tạm gọi là "phong cách cưỡi ngựa xem hoa", cái gì cũng biết nhưng không biết cái gì sâu sắc, cái gì cũng làm nhưng không bỏ thì giờ tâm trí làm đến nơi đến chốn. Đó không phải là lỗi của Internet. Cũng không phải là hiện tượng khác thường. Người mới mua xe mới bao giờ cũng thích lái xe chạy vòng vòng quá mức cần thiết. Người ta gọi là "nhiệt tín của người tân tòng". Khi đã qua cơn rồi, người ta sẽ bình tĩnh trở về với cái mình thực sự yêu thích, và đi vào chiều sâu. Tôi hy vọng các cây bút hiện viết trên Internet cũng sớm ý thức điều này. Lúc đó, dĩ nh iên sinh hoạt văn học trên Internet, với giá trị văn chương cộng thêm sức mạnh của kỹ thuật, dễ dàng vượt qua những hình thái văn chương lụ khụ lỗi thời khác. Tôi lạc quan hay bi quan đối với thế hệ trẻ Việt Nam?
Nghe anh hỏi câu này, giật mình nhớ rằng mình không còn trẻ nữa. Mà đã không còn trẻ nữa, thì đừng nghĩ mình có thể định đặt một cái khuôn nào đó để lớp sau phải theo. Thế giới biến chuyển quá nhanh, mỗi thế hệ đối phó với những vấn đề riêng của họ, tôi nghĩ kinh nghiệm của lớp trước không giúp được gì nhiều cho lớp sau. Tôi làm việc gần mười năm qua tại một công ty ấn loát niên giám điện thoại Hoa Kỳ. Tôi thấy rõ tuổi già lạc lõng thế nào trước những thay đổi nhanh chóng của kỹ thuật. Vì thế, tôi không bi quan về giới trẻ. Họ được giáo dục kỹ lưỡng hơn thế hệ chúng tôi, họ hấp thụ và thích ứng với tiến bộ kỹ thuật nhanh hơn chúng tôi, họ giao tiếp với các trào lưu văn hóa nhiều hơn chúng tôi, đời sống của họ ổn định hơn đời sống chúng tôi. Nếu bao nhiêu dữ kiện nội nhập ấy không tạo ra được cái gì rạng rỡ, thì đáng tiếc lắm!
VHNT: Trong Văn Học xuân Bính Tý 1996, ban biên tập Văn Học đã dành một số trang không nhỏ để giới thiệu các cây bút trẻ hải ngoại viết bằng tiếng bản xứ, hầu hết là Anh ngữ. Mai Kim Ngọc nói về những ảnh hưởng tích cực của hiện tượng này đối với truyền thông, văn chương, và văn hóa người Việt tại hải ngoại. Thạch Hãn ca ngợi những nỗ lực tìm về cội nguồn của những tác giả trẻ có mặt trong tập "Once Upon a Dream." Trong những số VH sau đó, tạp chí này đã tiếp tục giới thiệu một số truyện dịch từ nguyên bản tiếng Anh của các tác giả Andrew Lâm, Lưu Trường Khôi, v.v... Đây là một cố gắng rất đáng biểu dương của Văn Học. Là người chịu trách nhiệm điều hành tạp chí này, xin anh cho biết: Ý kiến/nhận xét của anh về những người viết trẻ cùng thế hệ và hoàn cảnh với Andrew Lâm và Lại Thanh Hà (2 tác giả này viết bằng Anh ngữ) nhưng đã chọn Việt ngữ như là tiếng nói văn chương cho sáng tác của hỗ Sự chọn lựa này có những ngụ ý gì?
NMG: Lựa chọn ngôn ngữ để sáng tác không đơn giản như là chọn cách phổ biến bằng ấn loát hay Internet. Chọn một ngôn ngữ là chọn luôn cả cái hồn của ngôn ngữ ấy, chọn luôn cả truyền thống văn hóa pho ng tục ngôn ngữ ấy nẩy sinh. Xin lấy một ví dụ: cùng một nội dung, nhưng nói "tôi thương em" Việt Nam hơn "tôi yêu em", và tạo xúc động sâu xa hơn là nói "I love you" hay "Je t'aime". Vì thế, những bạn trẻ chọn viết bằng ngôn ngữ Việt, từ trong thâm tâm, đã muốn hướng về văn hóa dân tộc, sinh hoạt cộng đồng, và sẵn sàng chịu chung những hạn chế của sinh hoạt văn hóa thiểu số. Nói như thế không có nghĩa là những bạn viết tiếng Anh không có tinh thần yêu nước. Lựa chọn viết bằng Anh ngữ hay Pháp ngữ không phải là chọn việc dễ. Nhập vào mainstream, ngay cả những thế hệ di dân thứ hai, thứ ba đã khó chứ đừng nói thế hệ thứ nhất. Sức cạnh tranh giữa các sắc tộc để lôi kéo sự chú ý thật khủng khiếp. Một bức tranh Việt Nam nếu không có gì độc đáo khó lòng được giới thưởng ngoạn chú ý, trong khi cũng bức tranh đó nếu bày bán ở Sài Gòn hay Hà Nội, có thể bán dễ dàng cho các du khách muốn có một món lưu niệm. Chọn viết bằng Anh ngữ Pháp ngữ là chọn đối đầu với cạnh tranh quốc tế.
VHNT: Có những mặt thuận lợi cũng như trở ngại nào, trên những khía cạnh liên quan đến văn học nghệ thuật và xuất bản trong điều kiện văn hóa và xã hội của người Việt hải ngoại, khi lựa chọn sáng tác bằng tiếng Việt hay bằng tiếng bản xứ.
NMG: Câu trả lời trên cũng trả lời được một phần câu hỏi này. Tôi xin thêm: Dù sáng tác bằng thứ tiếng nào đi nữa, cái mà giới thưởng ngoạn chờ đợi từ một văn nghệ sĩ sắc tộc không phải là bản sao văn hóa phẩm của xứ sở này, mà là bản sắc của quê hương gốc. Gần đây, tôi có xem một loạt phim của điện ảnh Hoa lục, nhất là những phim của đạo diễn Trương Nghệ Mưu. Thật tuyệt vời! Phim nào cũng đặc chất Tàu! Chất Tàu từ khuôn mặt diễn viên, khung cảnh, sinh hoạt, cái cầm bát, cách văng tục..Coi phim Tàu để tìm hiểu chất Tàu chứ chẳng lẽ tìm hiểu chất Mỹ! Tuy vậy, sau cái chất Tàu ấy, là cái chung của nhân sinh, là thơ mộng của tình yêu và hy vọng, là cái ghê tởm của bạo lực và ngu dốt, là cuộc tranh đấu không ngừng giữa thiện và ác... Tôi xin cầu chúc cho các bạn trẻ viết bằng tiếng Anh, tiếng Pháp làm được như đạo diễn Trương Nghệ Mưu./.
Giới thiệu: John Steinbeck đoạt giải Nobel văn chương năm 1961, là nhà văn thứ 7 của Mỹ đoạt giải thưởng lớn này. Cũng thật ngạc nhiên khi trong di sản của ông lại có một truyện ngắn thuộc loại kinh dị như truyện sau đây. Truyện được viết trong thời gian ông đi du lịch đâu đó ở Paris, có lẽ phong vị xứ lạ đã khiến ông ngẫu hứng.
Lâu nay, truyện kinh dị thường được xem là truyện giải trí, nhưng thực ra đó là thể loại cho phép trí tưởng tượng của người viết bay bổng tự do nhất. Mà người viết ở đây lại là Steinbeck.
oOo
Chuyện Kỳ Lạ ở Phố M.
John Steinbeck
Tôi cũng hy vọng là công chúng chẳng ai biết được những chuyện hơi kỳ cục đã khiến tôi lo nghĩ hồi tháng trước. Dĩ nhiên, tôi biết, trong xóm giềng đã có những xầm xì. Tôi nghe được nhiều luận điệu bóp méo trong khu lân cận, những câu chuyện, mà tôi phải nói ngay, là chẳng có tí sự thật nào cả. Nhưng ý định giấu kín mọi sự đó, hôm qua, đã tan vỡ, khi bỗng dưng có hai ông nhà báo tới viếng chỗ tôi. Thế là tôi hiểu, câu chuyện đó đã không chỉ loanh quanh ở khu phố của tôi nữa rồi.
Trước nguy cơ sẽ bị đồn rùm beng lên, tôi nghĩ cách tốt nhất là cứ kể lại thật chi tiết những sự kiện đã xảy ra ở đây mà sau này sẽ được gọi tên là Chuyện kỳ lạ ở phố M., để trong câu chuyện phải nói là kỳ quái này không bị thêm vào những chi tiết ngớ ngẩn. Tôi sẽ kể lại mọi chuyện mà không đưa ra lời bình luận nào, như thế công chúng có thể nhận định tốt hơn.
Ðầu mùa hè, tôi mang gia đình tới Paris và ngụ tại một căn nhà nhỏ ở số 7 phố M., một căn nhà mà hồi xưa chỉ đáng là cái chuồng thú của toà dinh thự to bên cạnh. Căn nhà thuộc sở hữu của một gia đình quí tộc Pháp thuộc nòi chính thống, đến bây giờ họ vẫn cho rằng dòng họ Bourbon không xứng đáng với cái ngai vàng nước Pháp. Và họ chỉ cư trú hết một phần căn nhà ấy.
Căn nhà bé tí chỉ đáng mặt chuồng ngựa ấy có ba tầng với một mảnh sân được lót gạch tử tế. Tôi mang cái gia đình thân mến của tôi tới đó, gồm vợ và ba đứa con (hai thằng con trai và đứa con gái đã lớn) và dĩ nhiên, là cả tôi nữa. Ðoàn tùy tùng kèm theo của tôi, không kể ông quản gia phải mướn kèm với cái nhà, gồm có một đầu bếp Pháp tuyệt vời, một cô hầu người Tây Ban Nha, và thư ký riêng của tôi, một cô bé người Thụy Sĩ có kiến thức, tham vọng và phẩm hạnh đạo đức đều thuộc tầm cao vòi vọi. Ðó là cái gia đình nho nhỏ của tôi khi sắp xảy ra những biến cố kỳ quái ấy.
Nếu phải có nhân vật chính cho câu chuyện đó thì chính là thằng con trai nhỏ của tôi, John, mới được 8 tuổi. Một thằng bé có hàm răng vẫu nhưng mà xinh trai đáo để. Thằng bé, từ vài năm nay, đã mê tợn một trò rất Mỹ là nhai kẹo cao su, và một trong những điểm thoải mái vào đầu mùa hè ở Pháp này là ông tướng đó đã trót quên không mang theo cái món kẹo tai hại ấy từ Mỹ qua. Thằng bé có thể phát âm rõ ràng hơn, đỡ ngọng nghịu và cặp mắt bớt vẻ lờ đờ. Nhưng hỡi ơi, lạc thú đó không kéo dài được bao lâu. Một gia đình người bạn cũ cũng du lịch Âu Châu tới thăm và làm quà cho thằng bé mộ lô thứ kẹo tai hại ấy. Thế là cảnh cũ tái diễn. Ngôn ngữ phải len lỏi qua mớ cao su mà thoát ra, nghe cứ lụp bụp như tiếng vòi nước hỏng. Hàm răng lúc nào cũng nhóp nhép khiến bản mặt nó thật khó coi, còn đôi mắt thì có vẻ giống như con heo vừa bị thọc tiết. Vì đã lỡ theo chủ trương không cấm đoán con cái nên tôi đành chịu trận một mùa hè không được thoải mái như dự định.
Có những lúc tôi cũng không thể để mọi chuyện thoải mái đâu. Những khi tôi đang hình thành một cuốn sách, một vở kịch hay một luận văn gì đó, tức là khi phải tập trung tư tưởng tối đa, thì tôi cũng mau lẹ trở nên độc tài với đủ thứ luật lệ. Một trong những luật đó là dẹp ngay cái trò nhai hay thổi kẹo cao su lúc tôi đang suy nghĩ. Ông tướng John cũng hiểu rõ điều luật đó đến độ nó coi đó như một qui luật tự nhiên và không hề kêu ca phàn nàn hay vi phạm gì cả. Nhai kẹo là lạc thú của nó, và đôi khi tôi cũng an ủi nó bằng cách cho phép nó vào phòng làm việc của tôi một lát với điều kiện nó phải im lặng. Khi im lặng hết nổi thì nó lặng lẽ đi ra và tình hữu nghị thầm lặng giữa hai cha con cứ tươi thắm mãi như thế.
Hai tuần trước, vào một buổi chiều, tôi đang ngồi cố làm một bài khảo luận cho tờ Figaro Litteraire (bài này khi in ra cũng gây nhiều tranh luận lắm), tôi đang đi tới chỗ bàn về lớp vỏ đứng đắn của tâm linh thì vô cùng ngạc nhiên và phẫn chí khi nghe rõ mồn một tiếng nhai và thổi kẹo cao su lép bép. Tôi trừng mắt nhìn thằng con và thấy nó đang nhai. Mặt nó đỏ ửng lên bối rối và bắp thịt hàm gồng cứng lên thấy rõ.
- Con biết luật mà. Tôi nói lạnh lùng.
Tôi ngạc nhiên thấy nó rươm rướm nước mắt và trong khi cái hàm cứ cố sức nhai thì nó cũng lắp bắp nói được "Con đâu có muốn nhai!"
- Con nói gì, không muốn à ? - Tôi bực mình - Ba nghe rõ ràng, rồi bây giờ ba thấy rõ ràng.
- Ba! - Nó rên lên - con không muốn nhai nó. Ba ... mà nó nhai con.
Tôi trợn mắt nhìn nó một lát. Nó còn ngây thơ thành thật lắm, duy có điều nó đang cố làm người khác tin điều nó nói. Tôi chợt có ý nghĩ kinh khủng là thói nhai kẹo đã tới lúc tự động vô thức và lý trí của thằng con tôi sắp tới lúc lỏng lẻo hết kiểm soát nổi. Nếu như thế, thì mình phải đối xử dịu dàng. Tôi nhẹ nhàng chìa tay ra và nói:
- Nhả ra đi.
Thằng bé cố sức đẩy miếng kẹo ra mà không xong, nó lắp bắp:
- Nó không chịu ra ...
- Há miệng ra. Tôi nói rồi thọc hai ngón tay vào miệng nó.
Tôi nắm được một tảng kẹo bự, và phải cố gắng lắm mấy ngón tay cứ bấu trượt mãi, tôi mới kéo được nó ra và bỏ được cái đống quái quỉ ấy lên xấp giấy bản thảo của tôi trên mặt bàn.
Thoạt đầu, nó có vẻ như ngỡ ngàng trên mặt giấy, rồi từ từ, thong thả, nó bắt đầu nhúc nhích, phồng lên xẹp xuống cứ y như có ai đang nhai nó vậy, trong lúc hai cha con tôi lõ mắt nhìn.
Chúng tôi cứ nhìn như thế một lúc trong khi tôi ráng vắt óc để tìm cách giải thích. Hoặc là tôi đang nằm mơ, hoặc là có một qui luật tự nhiên bí mật nào đó bắt đầu vận hành với mẫu kẹo trên bàn kia. Tôi đâu phải thứ kém thông minh; trong khi nhìn tảng kẹo quái quỉ ấy, thì cả trăm ý nghĩ, lý luận chạy vùn vụt qua trong óc. Sau cùng, tôi chỉ nói được:
- Nó nhai con bao lâu rồi ?
- Từ tối hôm qua.
- Ðến lúc nào con mới nhận ra cái vụ ...cái vụ ...nhai tự động này ?
Nó trả lời rất thật thà:
- Ba phải tin con mới được, nghe ? - Nó tiếp - Tối hôm qua, trước khi đi ngủ, con có thói quen nhét kẹo dưới gối, đến sáng thức dậy thì thấy nó đã nằm im re trong miệng rồi. Con tỉnh ngủ liền. Một hồi sau thì nó bắt đầu nhúc nhích. Cái rồi con thấy mình không làm gì nó được nữa. Nó bắt đầu nhai một mình. Con cố móc nó ra mà không được. Hồi nãy ba cũng thấy moi được nó ra khó ghê chưa ? Con vô phòng của ba, tính chờ lúc ba rảnh rồi kể cho ba nghe. Ðó, ba... Ba thấy vậy là sao ?
Tôi dồn hết tâm trí vào vật thể quái quỉ nọ:
- Ba thấy là - Tôi đáp - vụ này có gì hơi bất thường. Phải nghiên cứu kỹ mới được...
Tôi đang nói thì có chuyện. Miếng kẹo ngừng nhai như thể nghỉ xả hơi, rồi bằng một chuyển động trôi đi như một thứ sinh vật đơn bào nhuyễn thể gì đó, nó trượt trên mặt bàn hướng về phía thằng bé. Tôi ngạc nhiên sững người một lúc, rồi thêm một lúc nữa mới đoán ra ý đồ của nó. Nó rơi ngay trên đầu gối thằng bé, rồi khởi sự leo lên áo sơ mi. Ðến đấy thì tôi hiểu. Nó đang cố trở lại miệng thằng con tôi. Còn thằng bé thì kinh hoàng đờ người nhìn miếng kẹo trên ngực áo mình.
- Ðứng lại! - Tôi la lên, nhận ra thằng con mình đang gặp nguy, và những lúc như thế thì tôi cũng hung hăng bạo động đến độ giết người như chơi. Tôi tóm ngay miếng kẹo quái quỉ đó, nó đã bò tới cằm thằng bé, rồi lao ra khỏi phòng. Tôi mở cửa sổ phòng khách và ném nó thật lực vào dòng xe cộ đông đúc trên phố M.
Tôi tin rằng bổn phận làm cha mẹ là phải ngừa trước những cú sốc có thể gây ác mộng hay chấn động nơi con cái mình, nên tôi trở vô phòng làm việc ngay. John vẫn ngồi đó, mắt nhìn lạc thần, đôi mày nó nhíu lại.
- Con nè - Tôi nói - chuyện cha con mình vừa thấy, mặc dù có thiệt, nhưng kể ra dễ gì ai tin. Chúng ta phải tính trước, nếu lỡ mồm kể lại cho người khác trong nhà, Ba nghi người ta sẽ cười mình thúi đầu luôn quá.
- Dạ - Nó đáp xuôi xị
- Vậy, ba đề nghị vầy nghe. Mình ém luôn chuyện này đi đừng kể cho ai nghe hết trơn, ha.
Tôi chờ nó đồng ý. Mãi không thấy nó nói gì, tôi bèn ngước nhìn lên thì thấy gương mặt nó là cả một nỗi kinh hoàng. Ðôi mắt nó trợn tròn. Tôi quay đầu nhìn theo ánh mắt nó. Dưới khe cửa là một mảnh gì mỏng như giấy đang trườn vào. Lọt qua cửa, nó lập tức phồng lên thành miếng kẹo cao su nằm trên thảm, phập phồng, phập phồng. Một lát sau, nó lại nhấp nhô trườn về phía thằng con tôi.
Tôi cố nén kinh hoàng khi bước tới. Tôi chụp lấy nó và quật lên mặt bàn. Trên tường, chủ nhà có treo nhiều món trang trí. Trong đó có một cây đoản côn bọc núm đồng, có vẻ một thứ võ khí của người Châu Phi. Tôi vớ ngay cây côn đó và nện thật lực lên miếng kẹo cho đến khi muốn hụt hơi, còn cục kẹo thì thành một mảnh cao su dẹp lép. Tôi đang đứng thở dốc thì nó bắt đầu gom lại nhau không tưởng tượng được. Chốc lát nó đã trở lại như cũ, lại phập phồng và trườn tới chỗ John. Thằng bé đã rúm người vào một xó và kêu lên kinh hoảng.
Phen này thì tôi bình tĩnh đến lạnh người. Tôi cầm miếng kẹo khủng khiếp ấy lên, lấy khăn tay gói lại. Tôi ra khỏi nhà, vượt qua ba khu phố tới bờ sông Seine và vung tay ném chiếc khăn xuống dòng nước lờ lững bên dưới.
Tôi dành cả buổi chiều để vỗ về trấn an thằng con rằng mọi chuyện đã qua hết rồi. Nhưng thấy nó còn lo sợ quá nên tôi phải cho nó uống thuốc ngủ. Vợ tôi cứ nhất định mời bác sĩ, còn tôi thì không thể giải thích lý do tại sao không nên làm điều đó.
Ðêm đó, tôi choàng tỉnh dậy, và cả nhà cũng choàng tỉnh dậy vì một tiếng thét hãi hùng ở phòng bọn trẻ. Tôi phóng lên hai bậc thang một và lao vào phòng, tiện tay tôi bật đèn lên. John đang ngồi trên giường kêu la, mấy ngón tay thọc vào cái miệng há mở, còn cái hàm, thật khủng khiếp, đang tiếp tục nhaị Và tôi thấy miếng kẹo cao su chen giữa những ngón tay của nó và phát ra những tiếp tóp tép.
Không còn giấu diếm được gì nữa rồi! Phải giải thích mọi chuyện, nhưng khi lôi được nó ra dằn trên tấm thớt bằng một cây đập đá thì giải thích có vẻ dễ hơn. Không ở đâu bằng trong gia đình, mọi người đều nghe lời tôi. Còn cô đầu bếp người Pháp nhất định không tin chuyện đó mặc dù cô ta thấy tận mắt. Cô bảo, thật phi lý. Biết sao được ? Cô ấy là một con người thuần lý của một dân tộc thuần lý. Bà hầu phòng người Tây Ban Nha thì rước ngay một tu sĩ trừ quỉ đến. Ông này, tội nghiệp, sau hai tiếng đồng hồ xoay xở đủ thứ bùa phép, đành lắc đầu ra về, mồm cứ lẩm bẩm vụ này là do bệnh bao tử chứ chẳng phải ma quỉ gì cả.
Suốt hai tuần sau đó, chúng tôi bị vật thể quái ác đó phong tỏa. Chúng tôi thảy nó vào lò sưởi, nó cháy xè xè với ngọn lửa xanh lè và chảy thành một cục ghê tởm trong đám tro. Nửa đêm, nó lại chui lỗ khóa vào phòng thằng bé, để lại một vệt tro kéo dài trên cửa và cả nhà lại thức giấc vì những tiếng la hét của John.
Tuyệt vọng, tôi xách xe chạy tuốt ra vùng đồng quê và quẳng nó xuống ven đường. Sáng hôm sau nó đã về tới nhà. Rõ ràng nó đã bò ra nằm trên mặt quốc lộ rồi bám theo bánh xe nào đó về lại Paris. Khi tôi lôi nó ra khỏi miệng John thì nó vẫn còn hằn rõ dấu gân vỏ bánh xe hiệu Michelin.
Rã rời mệt mỏi và tuyệt vọng. Kiệt quệ, ý chí chiến đấu hao mòn, sau khi đã làm đủ mọi cách nghĩ ra được để tiêu hủy hay đánh lạc hướng nó đi mà không xong, tôi bèn bỏ nó vào cái nắp chụp thủy tinh vẫn dùng để đậy kính hiển vi của tôi. Tôi ngồi sụp xuống ghế nhìn nó bằng đôi mắt thảm hại. John thì ngủ dật dờ vì thuốc an thần, và vì lời hứa của tôi là sẽ không lúc nào rời mắt khỏi nó.
Cái chụp thủy tinh khá to, trùm cả dàn kính hiển vi, bây giờ thành nhà tù giam nó trên mặt bàn. Tôi đốt một ống vố và ngồi lom lom nhìn nó Trong lồng, nó cứ chạy đi chạy lại tìm một lối thoát. Thỉnh thoảng, nó dừng lại như suy nghĩ và phát ra mấy tiếng tóp tép với tôi. Tôi cảm thấy rõ sự thù hận của nó Trong cơn mỏi mệt, chợt tâm trí tôi lại đi vào một cuộc phân tích mà lâu nay không nghĩ ra.
Ðại khái, là do thân cận lâu ngày với thằng con tôi, thì đã có một sự sống huyền hoặc gì đó thành hình trong bọn kẹọ Một sự sống không có trí khôn, mà chỉ có những ý đồ đen tối.
Chứ còn sao nữa? Trí khôn mà không có tâm hồn để cân đối thì chỉ hoá ra đen tối thôi, bọn kẹo chưa lấy được chút tâm hồn nào của John.
Ðược, tôi thầm nghĩ, tạm thời có một tổng đề về nguồn gốc của mày như thế đi đã, bây giờ xét đến bản chất của mày. Nó nghĩ gì? Nó muốn gì? Nó cần gì? Ý nghĩ của tôi phóng tới tới như chó săn. Nó muốn được nhai. Ðược nhai nó mới tồn tại được.
Trong lồng kính, miếng kẹo vươn một sợi cao su mỏng tanh len dưới mép lồng rồi co lại để đội mép lồng lên mấy li. Tôi bật cười và đẩy nó trở lại vào trong. Tôi cười đắc thắng một cách bệnh hoạn. Tôi đã có được lời giải.
Vào nhà bếp, tôi lấy một cái đĩa nhựa lớn, thứ mà vợ tôi sắm để đi picnic. Lật ngửa cái lồng ra, hất nó rơi xuống đáy lồng. Tôi đặt cái đĩa lên và dán bít kín vào miệng lồng bằng thứ keo nhựa cực tốt, bảo đảm không thấm nước, cồn hay cả acid nữa. Thế là tôi có một cái lồng kiếng hoàn toàn kín. Chờ khi keo dính cứng, tôi úp lồng trở lại, chỉnh ngọn đèn đọc sách tới gần để có thể thấy rõ mọi động tịnh của nó.
Nó lại đi vòng vòng tìm khe hở. Rồi nó đối mặt với tôi và phát ra cả tràng tiếng tóp tép. Tuy lồng kín, tôi vẫn có thể nghe được tiếng nó kêu.
- Hạ được mày rồi, đồ ma ! - tôi kêu lên - Hạ được rồị Sau cùng cũng hạ được mày.
Và một tuần trôi qua, tôi không rời cái lồng, cùng lắm chỉ ngoảnh mặt đi để đón lấy ly cà phê được đưa tới. Khi tôi đi tắm, vợ tôi sẽ thế chỗ. Bây giờ thì chỉ có chuyện phấn khởi.
Trong ngày và đêm đầu tiên, miếng kẹo xoay xở đủ cách để thoát ra. Ngày và đêm sau, nó có vẻ rất bồn chồn và khích động, hình như lần đầu tiên nó nhận ra tình thế khó khăn của nó Ngày thứ ba, nó vẫn làm trò phập phồng phập phồng như đang được nhai, nó phập phồng rất nhanh, gấp gáp. Ngày thứ tư nó suy hẳn đi và thích thú nhận thấy bề mặt của nó đã có chỗ bị khô đi.
Bây giờ là ngày thứ bảy, và tôi tin chắc là sắp kết thúc. Miếng kẹo bây giờ chỉ nằm giữa cái đĩa. Thỉnh thoảng nó hơi phập phồng. Vỏ ngoài đã ngả màu vàng xỉn. Hôm nay, có lúc John vào phòng, nó liền nhảy nhổm lên hào hứng, nhưng rồi như nhận ra tình trạng tuyệt vọng, nó lại nằm bẹp xuống. Tôi nghĩ, tối nay nó sẽ chết. Lúc đó, chỉ cần đào một lỗ nhỏ trong vườn, chôn cả cái lồng xuống đó và trồng lên bên trên một cây phong lữ thảo.
Nên tôi hy vọng rằng chuyện kể này sẽ đính chính mọi lời đồn đãi ngớ ngẩn đã lưu hành bấy lâu trong vùng.
Phạm Viên Phương dịch