vhnt, số 336
9 October 1997
Trong số này:
thư vhnt..................................................................PCL
T h ơ :
1 - Vào thu, Kamakuran ................................................lephan
2 - Nước mắt của đêm ...........................................CỏMay
3 - Nguyệt thực nhật thực ..........................Trần Minh Hiền
4 - Tạp âm của chiều .......................................Thận Nhiên
5 - Vết thương lòng ..........................Trương-Nguyễn Thi Thanh
6 - Hoa hồng ...................................................Quang Thành
7 - Chiêm bao ......................................................Mặc Âm
8 - Nguyên thủy ............................................Từ Ðông Nghị
D i ễ n Ð à n V ă n H ọ c :
9 - Thơ Việt Nam, đôi giòng tâm sự ................Phạm Thế Ðịnh
T r u y ện N g ắn / S án g T ác :
10 - Ký ức chưa phai .........................................Hoài Niệm
11 - Xóm ga .................................................Trần Hoài Thư
thân mến chào bạn đọc,
Sau vài tháng bận việc riêng không phụ trách bài vở cho vhnt, hôm nay trở lại thấy nội dung phong phú, khai triển nở rộ như khu vườn có những đóa hoa mãn khai đầu ngày, tôi mừng! Phải cảm ơn bạn đọc và những người viết đã tích cực ủng hộ và đóng góp chia sẻ sáng tác, là những món quà tinh thần tặng nhau trong thế giới thông tin đa dạng internet này. Cũng không quên cám ơn Ban Biên Tập, đặc biệt các anh Nguyễn Phước Nguyên và Ðinh Yên Thảo đã nhiệt tình chăm sóc chu đáo cho vhnt luôn tươi mát đằm thắm, với thật nhiều những tên mới xuất hiện, bài vở sáng tác dồi dào, đầy đủ. Ðó là những người làm vườn có tâm hồn yêu thiên nhiên, có "green thumb" (*) đặc biệt cho việc chăm bón vườn văn học, tinh mắt nhìn thấy những mầm cây lạ, một nhánh cây vừa nở chồi, một nụ sắp hàm tiếu, hoặc một giống cây quí vừa xuất hiện.
Số này, giới thiệu những cây bút mới và cũ với những sáng tác được chọn lựa, mời bạn đọc thưởng thức. Mong bạn có một cuối tuần thật bình yên thoải mái, và xin thân mến chào tái ngộ!
thân ái,
Phạm Chi Lan/vhnt
(*) tiếng dùng để chỉ những người có khiếu trồng cây luôn tươi tốt, chóng lớn, phát triển mạnh :-)
Vào Thu, Kamakura
Ðắm mình trong sương sớm
Những bậc đá lấp lánh soi
Bước rêu xanh
Một hình ảnh không rõ nét
Mây trắng
dẫn loanh quanh
Như miệt mài tìm đến
một đỉnh trời
Trời rất xa kể
Người đã đi qua
Nhưng chẳng còn dấu chân người
Giữa vô thường
Một tiếng chuông rền
ngân theo vách núi
Vọng lại từ bên kia
Ngàn phong rực rỡ
tiếng hồn thu nói
Không chỉ nơi chiếc lá vừa rơi
Có đất trời nào gửi lại
một giọt nắng vàng tươi ...
lephan
Nước Mắt Của Ðêm
cho J.v.O.
Mùa cuối hạ
Ðêm vỡ nỗi âm u. Ðêm khóc.
Lệ chảy dài là những giọt sương
Ðọng hoài trên cửa sổ
Tím buổi đầu ngày, tím cả rêu rong
Tôi lao đao pha những giọt buồn vào ngày
Như pha những giọt cà phê đen vào máu
Mỗi buổi sáng
Mỗi ngày qua
Mệt nhoài ký ức
Những khuôn mặt nhảy múa
Những đôi môi đong đưa
Và trí nhớ
Không còn muốn đọa đầy
Khi mà những giọt nước mắt đêm
Còn mang màu tím
Buổi đầu ngày
Ngồi ngắm một dòng sông
Ơi sông
Tôi thả trôi nỗi buồn nhân thế
Và nỗi đọa đầy oan trái của riêng tôi
Chảy đi sông ơi (*)
Cho một lần
Những giọt nước mắt đêm
Lại đẫm vùng ký ức
CỏMay
(*) Nguyễn Huy Thiệp: "Chảy đi sông ơi, băn khoăn làm gì"
Nguyệt Thực Nhật Thực
Mặt trời chiếu sáng không gian
Mặt trăng trái đất ngập tràn ánh dương
Và trời đen tối ngập đường
Vầng trăng nguyệt thực mù sương tháng ngày
Lòng ta vẫn chẳng đổi thay
Ðôi khi tình ái cũng đầy tối tăm
Ngày mai trăng sẽ đến rằm
Tối đêm nguyệt thực lỡ lầm che nhau
Ðôi khi phai nhạt sắc màu
Khuất nhau bóng tối nát nhàu ái ân
Vầng dương nhật thực thật gần
Buồm căng thuyền gió ngại ngần yêu em
Biển Vàng Biển Sóng Ðời Ta
Biển vàng biển sóng đời ta
Quê hương kỷ niệm, em và tình yêu
Ở nơi xa lạ quê người
Biết ai còn nhớ biển đời ngày xưa
Biển xanh sóng vỗ rừng dừa
Thời gian đi mãi quên mùa thương nhau
Nha Trang còn đó tình đầu
Cho anh mãi mãi nỗi sầu ly hương
Orl, XIII-IX-XCVI
TRẦN MINH HIỀN
Vết Thương Lòng
Có một vết thương lòng
Ngủ yên trong tiềm thức
Khói chiều nay mênh mông
Riêng mình tôi ngồi khóc
Người đi chân nhạt nhòa
Lời yêu thương bỏ lại
Phố buồn bóng ai qua
Phủ quên niềm ân ái
Tôi ru chiều nằng nhạt
Mang trả về hư không
Gởi theo bao lời hát
Trong tận cùng mông lung
Người chưa về hôm nao
Lá sân còn nguyên vẹn
Bước chân nào lao xao
Còn quên lời thề hẹn
Thế. Người đi thật rồi
Mỏng manh tình đã cũ
Về đi nhé tôi ơi
Tiếc thương chừng đã đủ
Trương-Nguyễn Thi Thanh
Hoa Hồng
Tôi ở chung cư
hành lang một lầu
nhà không có sân
Lưới B-40 giăng kín mặt tiền ban-con
buổi chiều
nhìn xuống đường
thấy người đi về rã ra trăm mảnh
đêm nằm mộng
hóa hồn xẹt khói
lan mau ngoằn nghoèo
hút dấu
Dịch "street" ngấp nghé chung cư
tôi học trồng hoa hồng chậu kiểng
ngăn phòng cơn dịch
Ngày hoa nở
có đóa leo vào vắt vẻo rụng rơi
thương nụ hoa tôi cho người dở lưới
Nửa đời sau
tôi đã là con bệnh
quen tai hồi còi cấp cứu
Quang Thành
Việt Nam, '97
Chiêm Bao
tặng Ðông Vị -Trưng Vương '71
bây giờ là tháng 10
có phải là mơ
mà sao thời gian qua nhanh quá
mới đó đầu mùa mưa
mang mang nhiều kỉ niệm
mưa mang nhiều nỗi nhớ
ngày còn đi học
lang thang cùng em
bên kia thảo cầm viên mượt mà cây lá
trưng vương lá đổ vườn hồng
dáng em ngoan
rụt rè tập vở
tóc em dài
cuốn hút hồn tôi
hồn trai trẻ thuở biết yêu lần đầu
em thiên thần làm chết sững đời tôi
tình chơi vơi tình chơi vơi
lạc bước chân phố cũ
tìm hơi khói mù sương
lãng đãng
hoang liêu
bài tình ca đầu làm cho em
những nốt nhạc ngập ngừng sai nhịp
sao vẫn yêu má em đỏ bừng e thẹn
mùi hương xưa thoang thoảng
có phải là chiêm bao?
Em!
đâu rồi?
Mặc Âm
10/03/1997
nguyên thủy
giữa mùa tình yêu giá buốt
Adam chân bước không giầy
trái tim trần truồng khung ngực
địa đàng rao, bán thơ ngây
Eva muôn ngàn nhân dạng
khô, giòng năm tháng dung nhan
cuộc người đong niềm sa mạc
đi tìm giọt sống trần gian
gã cuồng sinh lần xuống tóc
câu kinh lửa bốc tạp tâm
vác thập-tự-đời xuống chợ
đóng đinh một kiếp nguyền, câm
vòng gai linh hồn nhỏ máu
lên nền da, trắng niềm thơ
em ươm môi vào hôn, trọn
son hồng thắm nét trinh, mơ
ta mang nỗi-buồn-Thượng-Đế
nuôi mầm trắc trở tin yêu
vườn khuya trổ cành dục niệm
chín, mùi trái cấm gợi khêu
chia em miếng đời một nửa
cắn vào, muôn thuở trầm luân
chúng sinh - mỗi người, mỗi tội
ta cùng gánh tội tha nhân
hỡi Eve của ngàn năm trước
chân trần nhé, bước, cùng ta
đi hết kiếp người gai nhọn
cho vừa hạnh phúc phôi pha
bởi từ cội nguồn nguyên thủy
ăn nằm, em đã, cùng ta
từ đông nghị
Thơ Việt Nam, vài giòng tâm sự
Gửi những người yêu thơ -
sau khi đọc 1 số bài viết về thơ của KM, Nguyễn Hưng Quốc, Thụy Khuê...
Thơ là một trong những hình thức diễn tả, theo tôi, phù hợp rất nhiều với người Việt. Chúng ta vốn trọng cái tâm: "Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài". Sự nhẹ nhàng, kín đáo, nhiều ít thoát tục mà vẫn sống trong cuộc sống đầy cam go mỗi ngày.
Triết lý của VN, dù không thành văn bản lớn, nhưng đặc tính căn bản nằm ở chữ "hòa": Hòa cùng thiên nhiên, và con người. Quan niệm này được biểu lộ trong truyện Tiết Liêu dâng bánh dầy, bánh chưng (trời tròn, đất vuông) hàm ý hiếu đễ với trời-đất, từ đó thành "thiên-địa-nhân". Mà hiện nay trường phái môi sinh "vert hay green hay environment" đang đi theo. Huyền thoại cha rồng, mẹ tiên... "Sơn tinh-Thủy tinh" đều ít nhiều hàm chứa mối tương quan này. Khác với huyền thoại Hậu Nghệ bắn trăng, hay chuyện Tôn Ngộ Không của Tàu, trong đó con người nổi loạn chống và đòi khắc phục thiên nhiên.
(So với triết học Hy-La-Thiên Chúa-Do Thái-Ai Cập... mối tương quan với thiên nhiên có ít nhiều tính cách tranh chấp và thỏa thuận... sẽ bàn vào dịp khác).
Thơ diễn tả cái hòa của nhạc, cái nhẹ nhàng kín đáo, cái thiền đặc biệt VN, sự trôi nổi trong cuộc sống cần nhất là cái tâm để đến, cái "hồn" để "cảm nhận". Sau đó là cái trí.
(Tuy nhiên, thơ "khoa bảng", "bác học" thì lại đặt cái trí đi trước)
Trong khi đó "văn" đòi hỏi nhiều thì giờ dàn trải, cấu trúc, lấy cái lý làm chủ, dùng cái lý nhất thống mà điều khiển cái không, cái thời, và con người để dàn dựng cốt truyện, diễn tả tình lý.
Nhà văn viết truyện đứng đắn, cần phải thâu thập đầy đủ dữ kiện, hoặc từ kinh nghiệm sống, hoặc từ những tài liệu, và một hệ thống bố cục có nhập đề, thân bài, kết luận.... rồi sau đó những chi tiết sẽ dần dần được sáng tạo và có thể theo hoặc cải cái bố cục trước đó. Nhưng cái định, cái tính phải đi trước cái hồn, cái không định, không tính.
Thơ VN không đòi hỏi những cái rườm rà như vậy, mặc dầu chứa được mọi thứ đó.
Vèo trông lá rụng ngoài sân
Công danh phù thế có ngần ấy thôi...
Cảm hứng đến, tạo cho được âm thanh, hình ảnh, cái không khí bao trùm nỗi niềm...
Hay trong một lúc khác:
Một lát gươm đưa ngàn vẻ đẹp
Dù sai hay đúng cũng bằng không...
Mai ta đụng trận ta không chết
Về ghé sông Mao phá phách chơi
Chia sớt nỗi buồn cùng gái điếm
Đốt tiền mua vội một ngày vui...
Cái mà KM đặt là "hồn thơ" chính là cái hồn của thơ.
Cái "tâm" gợi nỗi niềm đánh thức cái hồn. Cái xác (ngôn từ, niêm luật...) sẽ bao cái hồn cái tâm để trở thành một câu hay một bài thơ đẹp hay không. Nhưng hồn thơ thì đã sẵn sàng để chờ đón những người đồng cảm.
Do đó khi đọc một bài văn, ta có một người sáng tạo, và nhiều độc giả. Trong khi đọc một bài thơ ta có nhiều người sáng tạo, trong nhiều khoảng thời khác nhau.
Đọc văn cần nhất cái "hiểu", đọc thơ, cần nhất cái "cảm".
Dĩ nhiên khi một tác phẩm văn hoặc thơ lớn được sáng tạo thì tác phẩm đó có thể bao cả văn-thơ-nhạc-họa trong nó. Tức là 3 phần tâm-hồn-xác đều đẹp.
Xem một bài văn mà cảm được hồn thơ, xem một truyện thơ mà hiểu được tình-ý mạch lạc của văn....
Biên giới khi chia thì có, khi để thì không. Khác ở thể tĩnh, mà hòa ở thể động.
Sự phê bình, nhận xét một bài thơ có thể nằm ở:
Hình nhi hạ: (Nguyễn Hưng Quốc chăng?)
Cảm nhận cái tình cảm vui buồn, hoài niệm.... trong chiều vật chất, ý thức, cộng với những hình thức cấu trúc, niêm luật, hình ảnh....
Hình nhi thượng: (Khải Minh chăng?)
Cảm nhận tình cảm hòa trong chiều "linh hồn", vô thức, triết lý, tư tưởng.
Trèo lên tuyệt đỉnh núi Vân chơi
Đầu trống canh Năm đỏ mặt trời
Mắt sẵn biển xa làm ngựa phóng
Lưng dùng mây trắng trải giường ngồi ... (?)"
Có thì có tự mảy may
Không thì cả thế gian này cũng không ...
Đã tưởng đêm qua Xuân đã hết ....
Phê bình dựa trên hình nhi hạ, cắt từng chữ, giải từng nghĩa, chẻ âm, xét vận, đặt thơ làm đối tượng quan sát. Lấy sự phê bình làm con dao giải phẫu tìm cái nhỏ nhất đưa rõ ra, dùng óc hiển vi phân tích, diễn giải, biện luận, cố tìm cái dở trong chỗ hay, cái hay trong chỗ dở, hoặc tìm cái mà chưa ai thấy.
Phê bình chủ vào hình nhi thượng dựa vào sự cảm nhận thuần, đầy chủ quan tương hội, cảm ngộ tri âm như Bá Nha - Tử Kỳ.
Vài hàng tâm sự
(Nhiều đoạn thơ có thể nhớ sai)
Phạm Thế Định
KÝ ỨC CHƯA PHAI
Không gian như lắng đọng, chìm sâu trong bầu không khí êm đềm của căn phòng nhỏ. Ngoài kia, qua khung cửa kính mở rộng, tưởng chừng đã hiện lên một bức tranh thiên nhiên thật tuyệt mỹ của tạo hóa. Thân cây đứng trơ trọi buồn bã, đám lá vàng khô rải rác trên thảm cỏ xanh mướt, tất cả được nổi bật hẳn bên tấm phông của cảnh đồi núi xa xa, ẩn hiện giữa khói mây mờ giăng mắc và được bao phủ bởi một nền trời tím sẫm. Mặt trời đỏ rực đang từ từ khuất mình sau rặng núi chập chùng, bao quanh khu thung lũng như một vòng đai chắc chắn và kiên cố. Những vạt nắng cuối cùng của một ngày đang cố gắng vươn mình lên rọi vài tia sáng vàng võ, yếu ớt một cách tuyệt vọng. Không một bóng xe. Không một tiếng động. Chỉ có tiếng gió vi vu, tiếng cây lá xào xạc. Gió đùa giỡn làm tung bay những chiếc lá vàng úa, đã lìa cành bởi ngọn gió vô tình trong một buổi chiều thu nào đó. Ngồi trong bóng tối nhìn ra, Mai có cảm tưởng mình đang được bao bọc bởi vạn vật mà nàng là một sinh vật hết sức nhỏ bé trong sự mênh mông vĩ đại ấy. Không gian, cảnh vật và người như cuốn hút lẫn nhau một cách thật nhẹ nhàng, êm ái.
Thở một hơi dài, Mai quay lại nhìn chiếc đồng hồ báo thức đặt bên cạnh đầu giường, cây kim ngắn đã chỉ gần tới số bảy. Vậy là Mai đã ngồi yên lặng như thế khoảng hơn hai tiếng đồng hồ, kể từ khi con nhỏ Sylvie đi dự buổi tiệc họp mặt tại nhà người bạn thân. Sợ Mai ở nhà buồn, nó khẩn khoản rủ nàng cùng đi chung. Ban đầu nàng cũng hứa đại cho nó vui, nhưng sau đó cơn lười đổ đến làm nàng đổi ý. Nàng rất ngại những xã giao hời hợt, gượng gạo phải có trong những buổi tiệc lạ. Mai và Sylvie làm chung một sở với nhau, nàng mới dọn đến ở chung với nó khoảng vài tháng nay. Sau khi nghe nó cằn nhằn suốt buổi chiều về sự dở chứng bất tử đó và khi bóng nó đã khuất sau cánh cửa, nàng bó gối ngồi nhìn đất ngó trời trong căn phòng vắng lặng, thưởng thức đến tận cùng nỗi cô độc. Cái buổi chiều thu của một năm sao êm ả, vô vị và trống rỗng đến thế! Vậy mà lúc nghĩ tới sự ồn ào của buổi họp mặt đông đảo, Mai linh cảm nó sẽ không gây hào hứng mấy với tâm trạng nàng hiện tại. Đôi khi những giây phút được ngồi yên lặng một mình trong bóng tối cũng mang đến cho nàng một thú riêng, đó là thú được tìm lại chính mình trong tiềm thức đã bị phủ mờ rêu mốc vì nhịp sống ào ạt, cuốn hút thường ngày. Phải chăng cuộc chạy đua với đời sống hiện đại đã khiến người ta quên dần đi cái phần "TÂM" quan trọng nhất của tình cảm con người?
Nghĩ đến công việc đều đặn một cách nhàm chán phải làm sớm mai, nàng chép miệng bò dậy lấy cái ấm đun nước sôi pha cà phê. Tự đãi mình một tách cà phê nóng trong một buổi chiều thu quý giá này vậy, nàng nghĩ thầm. Dù biết rất có thể mãi đến một, hai giờ sáng nàng mới chợp mắt nổi. Trở về chỗ ngồi ở vị trí cũ dưới thảm, Mai với tay bấm nút ở cái máy cassette cũ gần đó. Tiếng nhạc sẽ làm tách cà phê thêm phần đậm đà cũng như giúp tâm hồn nàng "lang thang" một cách dễ dàng hơn. Cái thú tuyệt vời thế mà chẳng ai nghĩ ra nhỉ? Kệ, ta dại ta tìm nơi vắng vẻ vậy! Mai nhủ thầm như thế và chợt nhớ đến thói quen kỳ quặc của mình, cái thói quen vẫn thường bị nhỏ Sylvie la lối mỗi lần bắt gặp. Nàng hay chui vào một góc phòng ngồi nghe nhạc hàng giờ trong bóng tối bao phủ xung quanh. Dường như nàng chỉ mượn âm nhạc và bóng tối để đưa tâm trí mình bồng bềnh, lãng đãng bay xa thật xa, ngược giòng thời gian đến một nơi xa xôi bên kia bờ Thái Bình Dương của quả địa cầu...
Mai gặp Toàn ngay trong ngày dự định vượt biên. Lúc ấy Mai còn nhí lắm, nàng mới vừa xong phần trung học phổ thông. Mẹ nàng gói ghém cả gia tài và bán luôn cả chiếc xe gắn máy già nua duy nhất trong nhà mới đủ tiền cho nàng đi vượt biên "để con có một ngày mai sáng sủa hơn", lời mẹ thường bảo. Toàn hơn Mai năm tuổi, đang học dở dang ở Phú Thọ. Trong nhóm vượt biên có sáu người, được ông Năm dẫn đường đưa ra Vũng Tàu để tối hôm đó ra bãi mà Mai là phụ nữ duy nhất. Toàn khẽ mỉm cười gật đầu chào nàng khi được giới thiệu, trong khi bốn người đàn ông khác lo âu hiện rõ lên nét mặt nên không ai để ý ai cả. Tối hôm đó là một đêm không trăng lẫn không sao nên trời tối đen như mực. Mai thật sự không thấy rõ đường vì trời quá tối, chỉ nương theo hướng đi của người trước mặt mà bước theo. Thỉnh thoảng nàng lại bị những nhánh cây hai bên lối đi quẹt phải đau điếng. Cái quần sa teng đen nàng mặc hóa trang cho giống dân bản xứ ở vùng này đã bị rách mấy chỗ. Toàn đi sau lưng nàng, lâu lâu lại lên tiếng hỏi nhỏ:
- Cô có sao không?
- Dạ thưa, không sao ạ! Nàng lí nhí trả lời.
Đi lòng vòng trong bụi cây cả giờ đồng hồ rồi cũng ra tới bãi. Nơi đây hiện ra một quang cảnh xô bồ hỗn độn của từng đám người. Thì ra không phải chỉ có ông Năm đưa sáu người nàng đi vượt biên, mà những người khác biết được địa điểm hẹn tại bãi cũng đưa thêm người đi để kiếm chút tiền riêng mà chủ tàu không hay biết. Tình hình này chắc sẽ có một số bị bỏ rơi lại vì tổng số người trên bãi phải nhiều hơn gấp hai lần sức chứa của con tàu. Mai lo lắng nhìn quanh kiếm ông Năm, nhưng không thấy ông đâu cả. Ông đã thu đủ tiền của sáu người nhóm nàng nên coi như phận sự ông chấm dứt ở đây, giờ này chắc ông đang tất bật lo đưa vợ con ông lên ghe. Người của chủ tàu đã làm một nút chặn để nhận diện từng người trước khi cho lên ghe. Mai thất vọng não nề, chắc mẩm phen này sẽ bị bỏ rơi lại và sẽ chạy trối chết tìm xe đò trở về Sài Gòn như lần bị hụt trước. Toàn vẫn đứng phía sau nàng, đột nhiên nắm tay nàng kéo đi mà không nói lời nào. Ngạc nhiên về hành động của anh, nhưng Mai vẫn im lặng bước theo như một tin tưởng trọn vẹn và như một định mệnh! Anh dắt nàng đến một phía có đồ đạc chất đống trên bãi, chắc để chờ người trong ban tổ chức chuyển lên ghe cho chuyến đi. Cúi người xuống, Toàn lượm đại một món vác lên vai rồi lại dắt Mai đi về hướng nút chặn. Bây giờ nàng mới lờ mờ hiểu ý định của Toàn. Trống ngực nàng đánh thình thịch khi một ông trong ban tổ chức nhìn Toàn và nàng chăm chăm, hất hàm hỏi:
- Anh chị ở trong nhóm nào? Ai giới thiệu đến?
- Tôi là người nhà của ông Năm. Tôi có phận sự chuyển những dụng cụ này lên ghe. Toàn bình tĩnh trả lời.
Ông ta đắn đo một vài giây rồi khoát tay ra dấu cho đi qua. Hai người mừng thầm rảo bước đi thật nhanh về hướng ghe như sợ ông ta đổi ý kêu lại hỏi lôi thôi. Toàn đỡ tay Mai giúp nàng trèo lên ghe rồi kiếm một chỗ trống trên khoang ghe cho nàng ngồi. Người lên ghe càng lúc càng đông, cho đến một lúc chắc không thể nào chứa thêm nổi, Mai thấy một người đàn ông chạy băng ngang qua chỗ nàng ngồi, đi về cuối khoang tàu (mà sau này nàng mới biết là chủ tàu). Hướng về đám người còn đứng lố nhố trên bãi đang dằng co nhau để được lên ghe, bất thình lình, ông ta rút một khẩu súng nhỏ từ lưng quần ra bắn một phát chỉ thiên. Tiếng nổ chát chúa vang lên trong đêm vắng làm mọi người giật mình im bặt. Ông cố nói to cho mọi người cùng nghe:
- Tôi rất tiếc là tàu đã quá đông, nếu còn cho thêm người lên là tàu sẽ chìm. Mọi người lùi lại không thôi tôi bắn.
Đám đông tự động dạt hẳn ra phía sau và ghe bắt đầu từ từ lướt ra khơi. Đêm tháng Mười không lạnh mà Mai bỗng run lên cầm cập, trống ngực nàng đánh loạn xạ cả lên. Toàn có lẽ đoán được nỗi sợ hãi của Mai nên cầm tay nàng thật chặt. Sự việc xảy ra nhanh đến độ khi Mai hoàn hồn lại thì thấy chiếc ghe đã rời thật xa bờ. Mai ngước lên nhìn Toàn, vừa đúng lúc chàng cúi xuống, hai người khẽ cười với nhau mà không nói câu nào. Hai người cứ ngồi im lặng theo đuổi ý nghĩ riêng cho đến khi nàng mệt quá thiếp đi. Sóng biển nhồi làm nàng mê man cả ngày lẫn đêm. Nàng chỉ tỉnh lại khi những giọt mưa thu rơi lộp bộp trên mặt. Nhìn sang bên cạnh Toàn đã đi đâu mất, trên người nàng ai đó đã đắp lên một miếng vải ni lông mỏng để che mưa.
Con tàu cứ lênh đênh trên biển cả mênh mông hết bốn ngày và năm đêm. Có nhiều lúc mọi người tưởng sắp chết vì tàu bị hư bộ phận bơm nước, cộng thêm gió bão tháng Mười ở cấp chín như muốn lật tung con tàu mong manh kia nếu không nhờ một tàu đánh cá lớn vớt đưa vào Mã Lai. Sau khi nhập trại Pulau Bidong, Toàn và Mai mới có cơ hội nói chuyện với nhau. Lúc đó Mai mới thực sự nhìn kỹ người con trai trước mặt, một người không quen biết đã dẫn đưa cuộc đời nàng vào một khúc rẽ quan trọng. Toàn không đẹp trai nhưng rất lôi cuốn, anh có một khuôn mặt cương nghị với ánh mắt sáng và nụ cười tươi. Anh ít nói nhưng lời nói duyên dáng và thể hiện một người có tư tưởng. Toàn gặp lại một người bạn học cũ đang làm trong ban điều hành của trại nên đến ở chung. Còn Mai, bất đắc dĩ nhập vào "cái đám mồ côi" hay "con bà phước" (lời gọi đùa của cả bọn, ý chỉ những người đi một thân một mình và không có thân nhân ở nước ngoài bảo lãnh), gọi là để "tương trợ tinh thần lẫn nhau trong nỗi buồn tị nạn!". Tại đây, Mai được quen với chị Nhung, chị lớn hơn nàng vài tuổi và rất chững chạc hiểu đời. Chị che chở và chỉ bảo cho nàng mọi điều như một người chị lo lắng cho một đứa em nhỏ. Bổn phận của hai chị em trong nhà là phải biến chế những lương thực được phân phát trong trại, bất kể là thứ gì, thành những bữa ăn "miễn no" cho cả bọn. Cuộc sống, thế rồi cũng trở nên quen dần.
Trong khi đó, Toàn rất bận bịu giúp người bạn cũ điều hành những việc linh tinh trên đảo. Thỉnh thoảng, chàng cũng ghé qua thăm hỏi Mai vài câu hay tặng nàng những món vặt vãnh cần thiết cho cuộc sống hàng ngày. Toàn ở trong ban thông tin và phụ trách một chương trình nhạc chủ đề, khoảng nửa tiếng đồng hồ mỗi tối thứ ba và thứ năm, phát thanh cho cả trại. Những chủ đề của Toàn thường xoay quanh về quê hương và chiến tranh, tình yêu và tuổi trẻ ngục tù, mưa và mùa thu.... Đối tượng của chàng luôn luôn là một người con gái thanh thoát với mái tóc dài xõa ngang lưng và tà áo trắng thướt tha bay trong gió. Chàng thường mở đầu và kết thúc bằng câu "Em yêu dấu... Hỡi em yêu dấu...".
Những lúc ấy, Mai thường ngồi thu gọn trong bóng tối ở một góc nhà, lắng nghe từng lời ngọt ngào và cảm xúc của chàng đọc mở đầu cho mỗi bản nhạc. Giọng chàng trầm và ấm áp làm nàng say sưa, mê muội. Mai có thú nghe nhạc (hay mê giọng đọc trầm ấm của Toàn?) kể từ đó như một người nghiện thuốc phải hút khi tới cơn. Nàng bỗng yêu một bài hát nào đó của Ngô Thụy Miên "ta đã say hồn ta ngất ngây qua bao nhiêu năm tháng ơ thờ, một lần gặp gỡ đã như quen thuở nào, một lần gặp gỡ như tình ngỡ xa xưa". Vâng, anh yêu dấu, hồn em đã say như chưa từng được say. Em như đứa trẻ lần đầu tiên đi lạc vào một thế giới rực rỡ muôn màu. Ở đó có những cánh hoa nở thật to, thật đầy hương sắc và một giòng suối mật ngọt chảy sâu vào lòng đất của vườn hoa tình yêu. Em mãi mong anh là cánh bướm đa tình, vì vương vấn hương hoa mà quên bay, để hoa em quyện anh trong gió và giam anh trong mây chiều nhẹ trôi. Anh biết chăng, hỡi anh yêu dấu!?
Mai ôm một mối tình câm từ đó. Nàng như người mộng du ngất ngây với mối tình thơ dại đầu tiên trong đời. Nàng không có cơ hội gặp gỡ Toàn nhiều nên chỉ trông mong được nghe giọng nói của chàng trong nửa giờ nhạc chủ đề mà chàng phụ trách. Còn Toàn, chàng vẫn ân cần, niềm nở với Mai như với tất cả mọi người. Đôi khi, chàng bất chợt gặp nàng thơ thẩn ngoài bãi cát vắng dưới chân đồi nhà thờ. Chàng hỏi đùa:
- Cô Mai đang thả hồn bay tìm ý thơ phải không?
- Dạ không, anh. Mai mà làm thơ thì chỉ có thơ con cóc thôi ạ.
Mai bối rối lắc đầu trả lời Toàn rồi không biết nói gì hơn. Mai nghĩ chắc mặt nàng lúc ấy đỏ ghê lắm, vì dường như từng mạch máu nóng đang đổ dồn một lúc lên mặt, khiến hai gò má lẫn hai mang tai nàng nóng ran lên, và tim nàng như đập nhanh hơn một nhịp thì phải. Mai thầm giận mình sao để Toàn thấy vẻ lúng túng ấy của nàng. Toàn khẽ nhìn sững Mai thật lâu rồi rút ra một quyển sách đang cầm trên tay đưa cho nàng.
- Tôi tìm được quyển sách này trên phòng thông tin. Cô Mai đọc cho đỡ buồn.
Mai đỡ lấy quyển sách, lí nhí cám ơn rồi chào anh ra về. Đại loại những cuộc gặp gỡ và đối thoại của hai người vỏn vẹn chỉ có thế mà đã làm nàng nhớ mãi. Quyển sách Toàn đưa cho Mai là quyển "Đoạn Tuyệt" của Nhất Linh, nàng đọc đi đọc lại đến gần thuộc lòng. Cho đến một hôm, chị Nhung vô tình tiết lộ một tin làm nàng lặng người đi.
- Chị nghe nói hồi ở Việt Nam anh Lê Huy Toàn bị tù vì có dính líu vào một tổ chức sinh viên chuyên xuất bản và phổ biến những văn thơ chống phá cách mạng. Anh ấy vượt ngục rồi không còn chỗ dung thân nên mới vượt biên đó. Tội nghiệp, nghe đâu bỏ lại người vợ mới cưới là hoa khôi của Trưng Vương ngày nào!
Tim Mai bỗng nhói đau. Một cảm giác tê tái lan tràn từng mạch máu làm nàng phát rùng mình. Nàng nghe như có một cái gì đổ vỡ, hụt hẫng ở trong lòng. Bầu trời quanh nàng bỗng sập tối, ảm đạm hẳn đi. Nàng buồn bã nhận ra lý do Toàn luôn ưu tư trầm mặc, và những lời nhạc chủ đề kia chàng chỉ dành đọc cho một người!!! Mai tránh gặp Toàn kể từ đó. Nàng thường thẫn thờ một mình sau đồi nhà thờ để gặm nhấm nỗi buồn. Đây là ngôi nhà thờ đầu tiên trên đảo được dựng lên bởi những người tị nạn đến vào đợt đầu. Mai cũng đã từng tự hào được góp ít công vào đó như may những bao gạo, bao bột mì vào với nhau để làm vách cho nhà thờ. Giờ đây, ngôi nhà thờ đã hoàn tất. Giáo dân lũ lượt kéo đến dự thánh lễ mỗi ngày một đông sau những gióng chuông oang oang. Có lẽ khi khổ đau tuyệt vọng, con người đến gần với Chúa hơn để tìm một chút bình yên cho tâm hồn? Chiều nay sau thánh lễ, như mọi lần, Mai ra chỗ cũ ngồi ngắm cảnh mặt trời lặn. Biển hôm nay thật êm, màu của biển hòa lẫn với màu của mây trời tạo nên một bầu không gian xanh ngát. Nếu không có khối mặt trời đỏ rực đang từ từ hạ mình, chắc Mai cũng khó lòng nhận biết được ranh giới giữa mây và biển.
Bỗng một giọng nói trầm cất lên sau lưng cắt đứt giòng tư tưởng của Mai:
- Mai lại làm thơ nữa rồi? Đọc anh nghe được chứ?
Mai ngỡ ngàng thấy Toàn đứng phía sau nàng từ lúc nào. Chàng đã đổi cách xưng hô với nàng.
- Anh thấy Mai trong nhà thờ nên đi theo ra đây. Hình như Mai tránh gặp anh?
Mai gượng cười buồn.
- Gặp cũng vậy thôi, anh. Ngày mai, Mai rời khỏi nơi đây rồi.
- Anh biết. Anh thấy tên Mai trong danh sách đi Pháp.
- Còn anh? Anh đã đổi chủ đề "biệt ly" cho giờ nhạc của anh?
Hai người cùng im lặng nhìn mông lung ra biển. Thời gian như cô đọng lại. Toàn thở một hơi dài, giọng buồn bã:
- Cuộc đời nổi trôi khó ngờ nên tạo ra những ly biệt ray rứt. Và có khi con tim muốn nói lên lời tha thiết, lại chịu sự giam cầm của lý trí. Chúng ta ví như hai chuyến tàu cùng đỗ song song trên một sân ga, sau đó mỗi con tàu sẽ lại tiếp tục cuộc hành trình dang dở của mình về một phương trời vô định. Anh muốn giữ mãi sự trong sáng không vẩn đục trong tâm hồn Mai, cũng như hình ảnh em bơ vơ lạc lõng cần đến sự che chở của anh trong đêm đầu tiên mình gặp nhau. Rất tiếc, anh đã không thể che chở em mãi mãi. Mong em hiểu.
Mai gục gặc đầu nói qua làn nước mắt.
- Em hiểu. Em hiểu. Lời anh sẽ là hành trang giúp em thêm can đảm trên bước đường đời mù mịt phía trước. Cám ơn anh.
Hai người ngồi lại bên nhau đến nửa khuya, lắng nghe tiếng sóng vỗ rì rào từng đợt vào bờ, tiếng cây lá xào xạc đùa vui trong gió, lẫn tiếng côn trùng nỉ non than vãn... Tất cả, hợp thành một điệp khúc của tình yêu. Trong những giờ phút cuối của ly biệt, lần đầu tiên, hai trái tim cùng đập chung một nhịp.
Sáng sớm hôm sau, Mai ra văn phòng trại để chờ lên tàu về thành phố trước khi có chuyến bay. "Đám mồ côi" trong nhà nàng theo tiễn rất đông, nhưng nàng trông ngóng một bóng hình khác. Nàng biết, ở một nơi nào đó, Toàn đang dõi mắt nhìn theo bóng nàng. Vĩnh biệt anh. Hãy nhớ đến nhau như những kỷ niệm êm đẹp nhất đã đi qua trong phần đời mình. Vĩnh biệt anh. Anh yêu dấu.
Người con gái bước lên tàu lặng lẽ. Mặt ngước lên như sẵn sàng chờ đón một tương lai không hẹn. Hành trang trên tay nàng là quyển Đoạn Tuyệt của Nhất Linh.
Hoài Niệm
10/06/1997
Xóm ga
Anh ra ngoài hành lang. Bên kia con đường đất, cách hàng rào, Liên đang ngồi học dưới ánh đèn dầu. Mái tóc của nàng phủ ngập trên bờ vai. Và khuôn mặt của nàng lung linh dưới ánh đèn vàng vọt. Anh ngồi trên bậc thành xi măng lạnh lẽo. Căn nhà bên cạnh, đóa hoa quỳnh nhạt nhòa trong ánh đèn từ song cửa hắt ra. Anh vừa nghe một bản nhạc từ chiếc máy thu thanh - Ta ngắt đi một cụm hoa thạch thảo... Em thấy chăng mùa thu đã chết rồi...
Tự nhiên, mắt anh muốn ràn rụa. Người ca sĩ, đôi mắt than chì mở lớn như một cô gái da đen man dại. Người ca sĩ, bước chân trần, ru ngủ bao cõi lòng phiền muộn, mang lại những nỗi buồn vui trong tuổi thanh xuân. Người ca sĩ nức nở mang mùa thu ly biệt, mang tình yêu và ngăn cách, mang cuộc chiến và râu tóc Trường Sơn... Ôi, còn anh, anh vẫn như thế này. Điếu thuốc được đốt lên. Đây là điếu thứ bao nhiêu, cho vơi đi bao nỗi sầu muộn lê thê của kiếp làm người Việt Nam. Trường Sơn, đỉnh cao chót vót. Bảy ngày gạo mang theo, bảy ngày gạo tiếp tế. Những bước chân thất thểu, những bộ áo quần trận tơi tả, chiếc áo ấm chưa giữ được hơi hướm cho những ngày mùa đông hàn thử biểu xuống đến mức tối thiểu, những viên đạn được bắn đi, những vỏ đạn rớt lại dọc đường, những lá thư viết không gửi. Gởi ai. Máy thu thanh nghe lúc dừng quân. Hòa bình, ngưng chiến, ngày sum họp mẹ con mừng tủi... Anh ngồi lặng yên ngắm nhìn mái tóc kề vai nhỏ bé. Liên bỗng hát theo. Giọng Liên cao. Anh đứng dậy qua nhà Liên. Anh vịn tay ở khung cửa nhìn vào. Liên thốt lên khe khẽ, như tiếng thốt bị nén lại, mà cõi lòng òa vỡ bão bùng. Anh hỏi nhỏ:
"Biết ai đây không, Liên"
"Anh Tân, anh về hồi nào vậy?"
"Suỵt. Coi chừng cả nhà dậy."
Liên rối rít lăng xăng:
"Mời anh vào nhà."
Anh cười:
"Anh vừa nghe em hát xong. Thật là một tiếng hát tuyệt vời."
Liên cúi mặt. Đôi bờ mi chớp chớp:
"Anh cứ ngạo em hoài à."
"Không, anh khen em thật tình."
"Lâu lắm em mới gặp lại anh."
"Trường Sơn chôn chân anh rồi. Anh sắp trở thành người Thượng rồi."
"Độ này anh đen lại gầy quá."
"Chắc lần bị thương này máu anh đổ quá nhiều."
"Anh mới xuất viện?"
"Không, anh bỏ quân y viện. Anh trốn đi."
"Sao kỳ vậy?"
"Em không thể hiểu đâu."
Và anh ném mẩu thuốc ra ngoài cửa. Anh nhìn lên trang giấy học trò. Hình quang phổ.
"Cho anh đoán nhé. Em học ban A phải không?"
"Dạ."
"Quang phổ có bao nhiêu vân? Mấy màu?"
"Anh lại đố em nữa ạ."
"Anh hỏi vì anh quên. Năm, sáu năm rời Đại học, rời phòng thí nghiệm, bây giờ anh trả bài học về giáo sư hết cả rồi. Bây giờ chỉ có đêm nằm kích, ngày với trái khói, lựu đạn, có những hét hò xung phong, sát, chỉ có những gương mặt của giòng họ Y, Nay."
"Anh đi lính có khác."
"Anh thay đổi nhiều lắm, hở Liên?"
"Dạ."
"Em vẫn không thay đổi. Khi anh nghe em hát, anh cứ ngỡ ngày nào anh ngồi bên này nhà anh, đang dõi mắt nhìn em. Bây giờ em lớn hẳn ra, lại đẹp nữa."
Liên chớp mắt.
"Anh đã về thăm bác gái chưa?"
"..."
"Xin lỗi, em đã làm anh buồn."
"Em có nghe tin gì về má anh không?"
"Bác khổ lắm. Chắc anh đã biết."
"Nếu má anh khổ một lần, thì anh phải khổ gấp ngàn lần."
"Tại số phận của bác. Thỉnh thoảng em có gặp bác. Ngày bác bán ở chợ Đầm. Tối bác đi bán chè rong."
Mắt người thanh niên mờ lệ:
"Phải chi cho anh được như một loài cây cỏ, thì đỡ khổ cho anh biết mấy. Không cha mẹ, không anh em, không chiến tranh, không hận thù, không suy nghĩ."
"Anh nên nghe lời em, nên về thăm bác. Ít ra bác còn được vui mừng vì thấy lại anh. Anh xa nhà quá lâu..."
"Tại sao em lại khuyên anh như thế. Anh về để nhìn má anh như người giúp việc hay sao? Anh về để bất lực nhìn bà hay sao? Anh về để nhìn lại cái căn nhà như một địa ngục hay sao?"
Người con gái, đôi vai run rẩy:
"Em thấy bác tội nghiệp quá. Thôi mình nói chuyện khác. Chừng nào anh hết phép?"
"Anh không có phép. Anh trốn đi. Nhưng mai anh sẽ rời đây sớm."
"Sao gấp vậy, anh. Ở lại một thời gian đi anh."
"Em không hiểu anh đâu."
Anh nhìn si dại khuôn mặt người nữ. Năm nào, anh làm một tên si dại, mở cửa mỗi ngày, mong chờ một tà áo trắng và vành nón nghiêng nghiêng. Năm nào, anh để lá thư trong cuốn sách học, cho em mượn học bài. Năm nào, anh tỏ tình bằng đôi mắt qua bờ dậu, và em cũng đã trao lại cho anh bao nhiêu lời âu yếm. Khi em cứ ngồi mái tóc mun chảy, mà cửa mở cho anh. Khi em hát lên, giọng ca tuồng như chỉ dành riêng cho người con trai hàng xóm. Khi em theo anh về miền xa, để lần đầu tiên anh được hôn em, để biết được thế nào là hơi hướm của một người con gái...
Anh nói:
"Em ra ngoài đường rầy với anh một chốc nhé. Anh chỉ còn đêm nay bên em."
Đêm đã khuya. Hai người cầm tay nhau bước ra khu sân ga.
Người thanh niên thầm thì:
"Bàn tay em lạnh."
"Em sợ anh."
"Sao lại sợ? Anh vẫn nhớ những đêm trăng, ngày còn nhỏ, hai đứa mình trốn cha trốn mẹ ra ngồi trên đường sắt..."
"Em cảm thấy sợ. Tại sao anh cứ biền biệt mù tăm. Khi trở về thì vội vàng bí mật, và khi đi thì gấp rút lạ lùng. Em không hiểu."
Gió đêm trở nên lạnh. Hai người bước đi trên con đường đất ướt, đầy vũng nước. Hai bên nhà đã đóng cửa. Một con chó sủa khi hai người bước qua.
Người thanh niên cười, siết chặt bàn tay người con gái:
"Nó sủa vì ghen chúng ta."
"Hay nó xua đuổi chúng ta?"
"Cả hai. Trong thời chiến tranh mỗi người là một con mồi. Một là bị tròng cổ, dắt đi. Hai là trốn chạy rồi bị săn đuổi hoài. Con người còn thua cả con vật. Anh không hiểu sao khi người ta cầm lưỡi lê thọc vào tim, mổ gan, lấy mật, xẻo lóc từng mảnh thịt, người ta coi như là chiến công. Anh không thể hiểu tại sao lại có những thằng lính trẻ bị chết mà khẩu súng vẫn còn bị khóa vào ống chân... Anh đã quá mệt để nghe những mỹ từ, nhân danh..."
Hai người ra sân ga. Đêm dày và hình như đã khuya lắm. Bầu trời đen tối.
Những ánh đèn ở phía thành phố lấp lánh trên những building cao ngất. Dãy núi ngoài biển nhìn thấy bởi một dải ánh sáng nhòa nhạt trong hơi sương.
Trên cao, con tàu chớp đèn xanh đỏ, rù rì một âm điệu bất tận. Một chuyến bay đêm. Hai người trẻ ngồi trên thanh sắt đường rầy. Trước mặt, bể nước vàng vọt dưới ánh điện.
Anh nói:
"Bốn năm ra đi, khi trở về mọi sự thay đổi hết, từ cái sân ga này, đến khu xóm kia, từ người thân đến hàng xóm. Họ sống, như những cù lao cô độc, đầy những nghi kỵ và tham lam..."
Người con gái gục đầu trên vai anh, khóc:
"Còn em thì sao? Anh không biết, nếu khổ thì chỉ khổ những người ở lại mà thôi."
"Anh xin lỗi em."
Người con gái bỗng run:
"Em lạnh."
"Em mang áo ấm của anh đỡ một lát."
"Sao anh đi mãi hoài?"
Người thanh niên quay mặt lại. Đêm tối mờ mờ làm anh không thể nhận ra cả khuôn mặt của người thân yêu. Anh chỉ nghe hơi nóng của người con gái. Anh chỉ nghe cánh tay, bờ vai mềm mại ở trên bờ vai của anh. Anh kéo đầu người yêu xuống và hôn ràn rụa vào mặt và môi của người con gái.
Người con gái bấu chặt lấy vai người yêu. Các móng tay sắc bấu cào. Hai người lặng thiếp trong vòng tay siết cứng. Hai người ôm nhau như thể lần cuối được ôm. Được một lát, người con gái bỗng đẩy nhẹ người con trai. Nàng sợ không dám đi quá xa hơn.
"Em sẽ hát cho anh nghe. Anh chịu không?"
"Em ca đi. Rồi anh sẽ đọc cho em một bài thơ anh làm trên Trường Sơn."
Người con gái bắt đầu hát. Một bản nhạc về tình yêu và ngăn cách:
Đêm nay thu sang cùng heo may. Đêm nay vi vu lời ca say... biết bao buồn vui, thuyền ơi thuyền trôi nơi đâu...
Có tiếng rao chè đêm vọng lại. Anh nói với người yêu:
"Em nghe gì không. Vẫn là tiếng rao hàng quen thuộc. Ngày hai đứa mình bắt đầu yêu nhau. Cho anh mời em nhé."
Rồi anh đứng dậy, bắt loa:
"Chè! Chè!"
Rồi anh thấy ngọn đèn bão hiện lên từ đầu xóm ga, rồi rõ dần trên lối đi.
Anh siết chặt bàn tay người yêu. Người con gái nép mình vào vai người nam.
Ngày xưa, vào những đêm học muộn, hai người vẫn hằng gọi gánh hàng rong vào nhà. Và chiếc chén bằng sành, ấm áp cả lòng bàn tay, và chiếc môi xinh xinh của người con gái ngọt cùng vị ngọt của chất đường cát trắng để anh phải nhớ mãi, nhớ hoài như những giọt hạnh phúc ngà ngọc.
Bây giờ, người đàn bà bán chè đã đặt đôi thúng xuống đất.
Đêm tối mờ nên anh không nhìn rõ. Rồi tiếng nói phát lên từ người đàn bà: "Cô cậu dùng chè chị. Chè đậu, chè nếp..." Cả người anh run rẩy. Bởi vì, cũng tiếng nói này, anh nghe như âm vang quá chừng quen thuộc, quen thuộc như những đêm, những ngày, những giờ, những phút, từ trong trái tim anh, len vào máu huyết của anh, trên cái tao nôi nào trong buổi trưa hè, trong lòng đêm nào thất thanh định mệnh. Anh muốn kêu lên: Má, nhưng lại không dám. Và tự nhiên anh bỏ người yêu, và chạy. Chạy như bị ma đuổi.
Trần Hoài Thư