vhnt, số 330
18 September 1997
Trong số này:
thư vhnt.......................................................... BBT
T h ơ:
1 - Lần lần tôi cũng thành vùng hoang mê.............. Nguyễn Ðăng Tuấn
2 - Thu Ðến Chưa Buổi Sáng.......................... Hàn Trân
3 - Một Chút Mưa Bụi..................... Hoàng Tùng Phủ Bắc
4 - Thương Tặng Em...................................... Song Vinh
5 - Thoa Ðầu Phượng.............................. Ðông A dịch
6 - Buồn Viễn Khách....................................... YKhanh
7 - Mặt Trời Trong Chiêm Bao.................. Trần Minh Hiền
8 - Cảm Thu............................................... Hoàng Vỹ
D i ễ n Ð à n V ă n H ọ c:
9 - Niềm tin khủng khiếp..................... Phan Huy Ðường
T r u y ện N g ắn / S án g T ác:
10 - Ngày mai, ba mươi tuổi...................... Ðinh Yên Thảo
11 - Về một muà hè............................. Lillian Nguyễn
Bạn,
Cuộc sống thực tế đòi hỏi người sáng tạo phải phấn đấu để được sống trọn vẹn cho mình trong thơ văn. Không ít thì nhiều, khả năng sáng tạo đã bị giới hạn bởi những ràng buộc của miếng cơm manh áo và eo hẹp thời gian.
Nhưng chính những sự giới hạn của đời sống đó đã nuôi nấng và nung nấu tác phẩm trong nội tâm của tác giả. Nhất là khi tác giả phải đối diện với chính mình khi sáng tạo. Với cuộc đời. Và với những gì gọi là thực tế đi đôi với nó.
Sự thật phũ phàng. Người ta thường hay nói thế. Khi đón nhận một tác phẩm, cái gì không thấy được, hay không cảm nhận được, người ta chối bỏ. Cái gì không chấp nhận, người ta đạp đổ. Và bảo: Ðó, là thực tế.
Sự thật rất tầm thường nếu nó chỉ là biện minh cho một thái độ cam tâm, chấp nhận.
Trong cái phũ phàng đó của thực tế, của đời sống, sáng tạo đôi khi là sự khai triển sự thật ra khỏi những hàng rào vị kỷ của con người. Ở đó, sự thật đã trở thành một biểu tượng cho nét đẹp của tâm hồn. Nhìn thẳng vào nó. Tách rời nó ra. Nó trở thành tấm gương, thành phản ảnh của tất cả những gì sự thật không là. Và ở đó, tuyệt đối tượng hình - Nét đẹp thoát thai.
Mong bạn cảm nhận ra những nét đẹp đó khi đọc những sáng tác của các cây bút đóng góp cho VHNT. Những nét đẹp đã sẳn trong mình. Và cho riêng mình. Trọn vẹn.
thân ái,
npn/vhnt
Lần lần tôi cũng thành vùng hoang mê
Rồi Ðời Nhau Luôn
từ khi tôi lạ thêm đời
em còn nỗi muộn tôi đòi riêng thôi
chia ra quê quán tôi ngồi
thành xưa quách cũ cùng chồi quanh em
Ðăng Ðẳng Nơi Này Ra Thêm
vách ngăn dựng lại cuộc gần
bên dòng sinh mệnh một lần nữa em
khói hương hay tỏa xưa mềm
mùa thương yêu lượn mặc hiềm khích trôi
Băng Ngàn Núi Rộng Cùng Ðời Mãi Mê
bình minh mọc dạng lan tràn
loang vùng sa mạc tôi càng khổ thân
bao cơn sóng nổi lụt trân
mượn hàng nhân dạng kề vân vê nàng
Nguyễn Ðăng Tuấn
Thu Ðến Chưa Buổi Sáng
tặng Thu-Hồng
Thu đến chưa mây giăng trùm gió lạnh
Sáng má hồng về núi vắng mong manh
Ở lại đây lắc rắc hạt mưa mành
Trên lối cỏ lòng ta nghe ươn ướt
Núi đồi kia thấp cao ai biết được
Ðời buồn tênh đỉnh nhớ một lằn ngang
Người đã đi ta trãi mộng đôi hàng
Lượm từng dấu lỡ làng trên dã thảo
Sáng hôm nay trời nặng sầu đến dạo
Một lá hồng giữa ngõ có là Thu
Ta nâng niu mây sám bọc thân mù
Trong chút lạnh của hồn ta bỡ ngỡ
Rừng núi đó bóng em xa ngờ ngợ
Biển hồ đây sóng vỗ chẳng thành thơ
Thu đến chăng hay mưa gió động hờ
Tôi đứng lại trời chui vào hơi thở
Hàn Trân
Một Chút Mưa Bụi
To JoAnna, and our private NY
Có một ngày của mưa
Tôi về ngồi như tượng
Lá rơi xuống thềm cũ
Lá từng lá úa thì
Có một ngày của em
Tình yêu buồn như thể
Rơi xuống hạt mưa mau
Hạt từng hạt bong bóng
Có một ngày của gió
Hàng lá dầu xôn xao
Buốt tận lòng mới lớn
Người từng người qua tôi
Có một ngày của tôi
Sương mù giăng kín lối
Quãng đường về dốc cao
Bước từng bước đêm sâu
Có một ngày Ðà Lạt
Ngõ đường tối Nhà Chung
Con Gà buồn không ngủ
Chuông từng tiếng chuông buồn
Một lần em qua sông
Trên ngã trạm hai mươi
Những giọt máu nheo nhóc
Ðời từng đời xô nhau
Người đi từ vạn thưở
Một ngày về đứng đợi
Trong chợ chiều hiu hắt
Dáng từng dáng em qua
Hoàng Tùng Phủ Bắc
Thương Tặng Em
Tóc Em bay có tiếng cười ta gởi,
Mắt Em buồn mang ngàn lối đi hoang.
Hôm nay mưa đem ngày tháng hong vàng,
Trăm tiếng gọi có hoang mang thú nhận.
Em có nhớ hôm nào mình gặp gỡ,
Môi Em cười làm bỡ ngỡ lời thơ.
Bước Em đi vùng tuổi nhớ chợt về.
Câu Em hỏi cho ngô nghê ta nói.
Tóc Em bay mấy mùa sầu gom lại,
Mắt Em buồn lo ngại mẩu tin xa.
Hôm nay mưa thành phố lạnh hơn nhiều,
Nghe heo hút đếm từng chiều về muộn.
Em có nhớ mấy lần ta thăm hỏi,
Vòng tay gầy tiếng cười nói thanh tao.
Em dấu yêu vùng tuổi chất bên này,
Trăm quạnh quẽ có ngàn điều nín lặng.
Tóc Em bay có từng hàng cây ngủ,
Ven cuộc đời bóng người đứng chờ nhau.
Vui nghe Em, mình chỉ sống một lần.
Từ giấc ngủ mong ngàn cơn mộng đẹp.
Song Vinh
Cho X.Q., một lời hứa muộn màng.
Thoa Ðầu Phượng
I
Thế tình bạc, nhân tình ác
Vũ tống hoàng hôn hoa dị lạc
Hiểu phong can, lệ ngân tàn
Dục tiên tâm sự, độc ngữ tà lan
Nan! Nan! Nan!
Nhân thành các, kim phi tạc
Bệnh hồn thường tự thu thiên tác
Giác thanh hàn, dạ lan san
Phạ nhân tầm vấn, yến lệ trang hoan
Man! Man! Man!
(Ðường Uyển)
Tình đời bạc, tình người ác
Mưa tiễn hoàng hôn hoa tán tác
Gió mai lan, lệ hoen tàn
Muốn thư tâm sự, rặt ý lan man
Nan! Nan! Nan!
Người đơn bạc, nay mai khác
Bệnh lòng như thể ngàn thu tạc
Tiếng tù vang, bóng đêm tan
Sợ người tra hỏi, nuốt lệ tân trang
Gian! Gian! Gian!
II
Hồng tô thủ, Hoàng đằng tửu
Mãn thành xuân sắc cung tường liễu
Ðông phong ác, hoan tình bạc
Nhất hoài sầu tự, kỷ niên ly tác
Thác! Thác! Thác!
Xuân như cựu, nhân không sấu
Lệ ngân hồng ấp giao tiêu thấu
Ðào hoa lạc, nhàn trì các
Sơn minh tuy tại, cẩm thư nan thác
Mạc! Mạc! Mạc!
(Lục Du)
Nâng vang đỏ, Hoàng đằng đó
Khắp thành rờn liễu màu xuân tỏ
Gió đông ác, tình yêu bạc
Nỗi lòng buồn bã, tháng năm tan tác
Thác! Thác! Thác!
Xuân như cũ, người vò võ
Lệ hoen hồng sợ tơ treo rõ
Hoa đào lạc, ao ngăn cách
Trăng thề còn đó, lá thư khôn bạch
Mạc! Mạc! Mạc!
Ðông A dịch
(*) Ðường Uyển và Lục Du là hai nhà thơ đời Tống. Một lần đến chơi nhà họ Thẩm, họ gặp nhau và yêu nhau. Nhưng mẹ Lục Du không ưa Ðường Uyển và bắt hai người phải xa nhau. Ðường Uyển làm bài từ "Thoa đầu phượng" đề ở vách lầu vườn nhà họ Thẩm. Trước khi đi xa, Lục Du viết tiếp bài từ "Thoa đầu phượng". Ðường Uyển đọc thấy, quá thương cảm, ít lâu sau thì mất. Bốn mươi năm sau, Lục Du quay về vườn Thẩm, làm bài thơ "Thẩm viên" khóc Ðường Uyển.
(**) "Thoa đầu phượng" là tên một điệu từ. Các bài từ khi làm đều phải tuân theo một nguyên tắc chặt chẽ về thanh và âm vận, thường gọi là "từ phổ". Khi dịch bài từ này tôi giữ nguyên từ phổ của điệu "Thoa đầu phượng".
Buồn Viễn Khách
Ðêm sâu hun hút
Tựa những bóng ma
Mang buồn ký ức
Thổi đầy hồn ta
Biển dâng thịnh nộ
Sóng quất hằn da
Củi mục năm ngón
Thảng thốt rời xa
Vài tên du viễn
Trăm kẻ cô miên
Rêu phong cách biệt
Ðá hờn thiên niên
Người xưa vạn lý
Còn khóc kinh cầu?
Sầu tỏa mưa ngâu
Rối nhầu đôi mắt
Hôm qua hoa nắng
Miệng điểm môi cười
Hôm nay trống vắng
Ðời trôi về đâu??
Tay ôm kỷ niệm
Chân dẫm thời gian
Hồn mãi lang thang
Ðêm dài vô tận...
ykhanh
Mặt Trời Trong Chiêm Bao
Trong giấc chiêm bao
Anh thấy một mặt trời đau khổ
Cháy lạnh lùng cô đơn lao đao
Một mặt trời chói chang phiền muộn
Một mặt trời chứa chan thèm muốn
Ðẹp làm sao lấp lánh những con đường
Trong giấc mộng lên tiên
Anh mơ thấy em một mặt trời đỏ rực
Nóng bỏng tâm hồn của cõi thiêng liêng
Tháng Giêng
Tháng giêng này đâu phải tháng giêng xưa
Ta dạo gót giữa mùa xuân thành phố
Những đời cây vui buồn ứa nhựa
Phố xá nào phiêu lãng dâu san hô
Tháng giêng này đâu phải tháng giêng thơ
Hoa nở trắng những đêm dài thương nhớ
Sóng biển vỗ những bãi bờ duyên nợ
Nắng hoang đàng quay quắt cũng bơ vơ
Tháng giêng này đâu phải tháng giêng mơ
Em xa quá biết bao giờ trở lại
Ðời cay đắng cứ thấm hoài nỗi sợ
Thẹn với lòng xấu hổ một đời trai
Trần Minh Hiền
Cảm Thu
Ta yêu lắm chiều thu xanh màu mắt
với khung trời mây tim tím êm trôi
và lá úa buồn buồn rơi lác đác
mang thu về lành lạnh gió heo may
Ai đem bán cho ta hồn thi sĩ!
phải biết buồn và phải biết làm thơ
nhìn lá úa mang sầu gieo xuống đất
ta gom về, ghép lại, kết nên thơ
Chân bước thân thang hồn ta phiêu lãng
nghe đâu đây văng vẳng nhạc và thơ
nhạc; là tiếng lá reo trong lòng gió
thơ; là tiếng lòng trao tặng người yêu
Em có giấu chiều thu nơi lòng mắt
cho ta tìm được một thoáng tin yêu
để sưởi ấm lòng ta người khách lạ
phải biết buồn và phải biết làm thơ!
Hoàng Vỹ
Niềm tin khủng khiếp
Văn học là nhân học (1). Con người, con người cá nhân, thân phận của con người, sự thật, con người và sự thật, sự thật của con người...
Ðó là những đề tài trọng tâm trong một loạt bài lý luận văn học chuẩn bị đại hội 4 Hội nhà văn Việt Nam. Tiếp theo những ngòi bút sáng tác, những ngòi bút lý luận trở mình. Ta sảng khoái nghe nhà lý luận đòi văn học đối diện với cuộc sống... nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật (2)... không chỉ có nhiệm vụ phản ảnh hiện thật dù từ nhiều góc độ khác nhau... còn phải tham gia vào việc tạo ra môi trưng đạo đức mới (3)... khẳng định sáng tạo là tự do... tự do sáng tạo là cốt lõi nhân cách của nhà văn... cách mạng và sáng tạo là quá trình tự phủ định (4), tố cáo thói suy nghĩ muốn mọi con người phục tùng những chân lý trừu tượng, rập khuôn vĩnh cửu, bấp chấp quy luật, lẽ đi, càng bất chấp cá tính con người (5), kêu gọi nhà văn chấm dứt dùng con người làm phương tiện để trình bày lịch sử, đòi hỏi quan sát và khám phá về con người... mô tả con người... giúp con người trở thành con người xuyên qua nhận thức toàn bộ sự thật vì con người là một điều bí ẩn... và con người với tất cả quan hệ của nó, thân phận và cuộc đời của nó chính là đối tượng và cũng là nội dung đặc trưng cơ bản nhất của văn học (6).
Lê Ngọc Trà 6 còn vạch rõ, mô tả con người đây không phải vấn đề miêu tả tâm lý nhân vật mà cơ bản là chủ nghĩa nhân văn, là quan niệm về con người, và khuyến khích sử dụng những phương pháp của thế kỷ chúng ta là thế kỷ tư duy phân tích trên con đường khổ ải của tài năng, của ý thức con người trong cuộc hành hương đi tìm tự do, chân lý và lẽ phải để hình thành nhân cách và cá nhân con người, củng cố ý thức về phẩm giá và tự do của mỗi con người sống trong xã hội. Như vậy, dưới ngòi bút nhà văn nỗi đau riêng mới trở thành nỗi đau nhân loại... mỗi cuộc đi mới được so với vũ trụ và mỗi con người ra đi là cả một thế giới mất đi, không gì bù đắp nổi vì con người là chủ thể của lịch sử, vì hạnh phúc, tự do và sự phát triển của con người là cái đích của mọi cuộc cách mạng.
Nếu ta thấy những điều ấy đương nhiên, ta phải giật mình: ở nước ta chúng không đương nhiên; bản thân những bài đó là bằng chứng. Tại sao? Tại sao có tình trạng phải đấu tranh cho những chuyện hiển nhiên đó? Nhà văn thật khó hiểu. Trong nghìn kế sinh nhai sao lại chọn " nghề " quái dị này? Mà có thể gọi nó là " nghề " chăng? Sản phẩm của nó là gì? ở đâu? Quyển sách là sản phẩm của nhà in, ta có thể tính giá thành, giá bán, lời, lỗ; ta có thể cầm trong tay, thấy nặng nhẹ; ta có thể dùng nó để phục vụ một nhu cầu bình thường trong cuộc sống: nó có giá trị sử dụng, có giá trị trao đổi, nó là hàng hoá, sản phẩm của lao động sản xuất xã hộị. Còn (cái) núp trong sản phẩm kia, làm sao phát hiện, xác minh sự hiện thực của nó? lấy đơn vị đo lường nào đo sự nặng nhẹ, giá trị sử dụng, giá trị trao đổi? Bí quá, ta chấp nhận: nó là sản phẩm tinh thần, đáp ứng nhu cầu tinh thần của con người. Và ta tôn trọng nhà văn như nhà nghiên cứu khoa học, những người hiến thân cho sự thật, cho con người, với sự dũng cảm của kẻ hành hương đi tìm tự do, chân lý và lẽ phải...
Nếu động cơ đó khiến nhà văn lao vào " nghề ", tại sao có người biến thành công cụ minh họa, bồi bút, quan văn áp bức người khác? Vì tha hoá? Thật khó tin. - nước ta thiếu gì lãnh vực dễ thành công và bổ béo hơn cho sự tha hoá, dại gì thí thân vào trận địa vô cùng ngột ngạt, nguy hiểm và tiền còm này? Và sao đông thế? Sự kiện này phải hiểu trên cơ sở: họ chân thành. Chính niềm tin vào sự thật đã dẫn dắt hỗ Chính niềm tin của Ðảng cộng sản Việt Nam vào sự thật là nguồn gốc của những chính sách văn hoá dẫn tới tình trạng hôm nay. Và biết đâu, chính niềm tin vào sự thật sẽ dồn những tác giả trên vào một sự bế tắc tương tự? Sự thật là gì? Phương pháp nào cho phép phát hiện nó? Làm sao chứng minh nó? Và sự thật của con người? Như Lê Ngọc Trà nhận xét, thế kỷ này là thế kỷ của tư duy phân tích. Trong lối tư duy đó người ta xác định sự thật bằng một tiêu chuẩn: thực nghiệm. Một giả thuyết về một sự vật hay sự kiện được coi như đúng trong một hoàn cảnh cố định khi, áp dụng nó, ta tiên đoán được đích xác sự phát triển của sự vật hay sự kiện trong hoàn cảnh đó. Sự thật đó đòi hỏi một đối tượng, một hoàn cảnh rõ ràng, công cụ xem xét và đo lường, phượng pháp phân tích và quá trình thể nghiệm. Con người quan sát, đo đếm, mô tả, và phân tích đối tượng đó trong hoàn cảnh đó, vạch ra bí ẩn của nó: quy luật phát trin của nó trong hoàn cảnh ấy. Thí dụ, ta quan sát con người từ nhiều góc độ, phân tích cơ cấu của nó bằng nhiều phương tiện kỹ thuật khác nhau, rút ra giả thuyết: bắn cho nó một phát súng ngay tim, nó sẽ gục, giẫy, và tắt th Th nghiệm giả thuyết đó sẽ xác minh được một sự thật. Loại sự thật này ai cũng có thể nhìn thẳng, không cần dũng cảm. Nói chung, mọi hiện thực khách quan trên đời, dù muốn dù không, con người đều phải nhìn, phải thấy, phải gánh. Hơn nữa, dù quan sát chúng từ 360 góc độ khác nhau, dù phân tích chúng sâu sắc đến đâu đi nữa cũng không thể nào tả và hiểu cho cạn. Cứ thử tả một khúc gỗ tới tận cơ cấu tế bào, hạt nhân thì thấy.
Một vật vô tri vô giác đã vậy. Còn con người, cái bí ẩn nấp sau khối xương thịt có thật chăng, là cái gì, dùng công cụ nào để quan sát, đơn vị đo lường nào để ước lượng, phương pháp nào để phân tích và quá trình thể nghiệm nào để xác định đúng sai? Trên cơ sở nào con người có quyền làm những việc ấy đối với người khác? Trên cơ sở sự thật? Ðối với những câu hỏi ấy, qua lịch sử, có mấy cách trả lời cơ bản: tôn giáo, khoa học, văn học. Với tôn giáo, con người là giá trị tuyệt đối vì nó có sự thật, nó là sự thật, do Thượng Ðế. Thượng Ðế quá siêu, người thường không hiểu nổi. Trong khi ch đợi ngày phán xét cuối cùng, thế gian cần những vị thánh, những thầy tu dìu dắt con chiên trên đường hành hương đi tìm chân lý. Trên cơ sở đó, một số vị tự thấy có nhiệm vụ, có quyền quan sát, đánh giá, lãnh đạo người khác, vặ thể nghiệm một con đường đi về chân lý.
Ðối với một số nhà "khoa học" mácx-ít sự thật của con người ở ngay trong quá trình hình thành, phát triển của loài người, trong lịch sử nhân loại. Lịch sử là sự thật của con người. Lịch sử không là một mớ bòng bong rối loạn. Nó phát triển theo quy luật. Nắm được quy luật ấy thì hiểu được xã hội, hiểu được từng người, hướng dẫn, điều khiển được loài người tới chỗ hoàn mỹ ngay trên trái đất này. Với niềm tin ấy, một số người tự thấy có nhiệm vụ, có quyền quan sát con người từ nhiều góc độ (thể xác, kinh tế, chính trị, xã hội, tư tưởng...) phân tích, tổng kết toàn diện, vạch ra đưng lối khoa học, đúng đắn, kịp thi... để cải tạo, lãnh đạo con chiên tới sự thật. Lối suy luận đó về con người là nguồn gốc của tham vọng lãnh đạo văn học nghệ thuật, uốn nắn sai lầm... Nó là cơ sở cho quan điểm, chính sách lý lịch trong quản lý xã hội. Ðó là một loại khoa học gà nòi. Ðối tượng của nó là con người kinh tế - chính tri, phương pháp phân tích của nó là duy vật " biện chứng ", công cụ đo lường của nó là lý lịch, phương tiện thực nghiệm của nó là bạo lực. Những cuộc th nghiệm lớn nhất, triệt để nhất do Staline, Mao, Pol Pot, Ceaucescu... tiến hành.
Những người ấy đã từng thành công, đã từng nếm thuở vàng son, không phải chuyện tình c Lối suy luận đó có phần đúng: con người muốn sống phải ăn, muốn ăn phải sản xuất, sản xuất phát triển phải có phân công, trao đổi, có quan hệ sản xuất, có giai cấp v.v... Nó đúng với một khía cạnh của con người: con người lệ thuộc thiên nhiên, con người lệ thuộc con người. Trong phạm vi đó, có một loại quy luật theo số đông mà bất cứ chế độ, bất cứ chính trị gia nào cũng biết vận dụng. Tuy vậy những kiến thức ấy chưa bao giờ dẹp được những khủng hoảng cơ bản trong lịch s Bởi vì, nếu con người chỉ là vậy, bản thân những quy luật ấy vô nghĩa: muốn có khái niệm quy luật, ít nhất, mặt nào đó, cũng phải nằm ngoài vòng kiềm chế của quy luật. Vì vậy sự " thành công " kia chỉ tạm thi và phải có ngày suy sụp.
Dĩ nhiên, những tác giả trên không là tín đồ môn khoa học gà nòi. Tuy vậy, dùng những từ mang và truyền bá những khái niệm ấy lẫn lộn với một số khái niệm đối kháng thật đáng ngại. Nếu ta suy luận, tranh luận, đối thoại trong lồng những khái niệm ấy, khả năng dậm chân không nhỏ. Phê bình và lý luận văn học khó lòng đổi mới nếu không đổi mới cách đặt vấn đề, khái niệm, ngôn từ. Mô tả hiện thực là chuyện không ai, không bao giờ, làm trọn được. Nhìn thẳng hiện thực từ nhiều góc độ khác nhau, phân tích nó để khám phá bí ẩn của nó chẳng thể cho ta gặp sự thật của con người. Ðó là công việc của nhà khoa học, nhà báo, quan toà, không phải công việc của nhà văn. Vấn đề ở đây không là nhìn hay không nhìn (không nhìn cũng là một cách nhìn rồi), hoặc nhìn dưới góc độ nào, mà là nhìn với thái độ nào: trìu mến, thương xót, phẫn nộ, lạnh lùng, khinh bỉ, căm hận... Thái độ đó là một sáng tác tuyệt đối, bất chấp mọi quy luật, nó là tự do, là con người. Nó không có sự thật vì nó là nền tảng của mọi sự thật. Nói đúng hơn, con người vô giá vì nó là nền tảng của mọi giá trị trên đi. Chính đôi mắt ta tạo sự ghê tởm của hành động kia, chính đôi mắt ta tạo vẻ đẹp mê hồn của người đàn bà nỗ Sự sáng tạo đó, vì nó là người, không có quy luật hay sức mạnh nào dập tắt được, trừ khi giết nô Vì vậy, mọi quyền lực độc tài, tôn giáo cũng như lịch sử,... đều sợ hãi một tình cảm hồn nhiên như tình yêu. Vì vậy, viết văn là khẳng định chủ nghĩa nhân văn, quan niệm về con người, là tham gia vào việc tạo ra môi trưng đạo đức mới, vì sáng tạo là tự do, tự do sáng tạo là cốt lõi nhân cách của nhà văn.
Sự thật đau nhất của con người là nó không có sự thật, không là sự thật. Không có chân lý nào, dù tiềm tàng hay ẩn nấp, đằng sau tim sọ của nô Tâm hồn nó trong veo, trong suốt, trong tới mức khả nghi. Tâm hồn ấy lại không thể tiếp cận bất cứ một hiện thực nào mà không đồng thi sáng tạo một hình thù, mầu sắc, âm hưởng, cảm giác, không sáng tạo hay tái tạo cả một thế giới giá trị, khiến hiện thực kia đượm nhân tình. Nhìn một người ăn mày hay ngoảnh mặt đi đã là lựa chọn, sáng tạo một bộ mặt của nhân loại, của thế giới. Có thế mỗi cuộc đi mới được so với vũ trụ và mỗi con người ra đi là cả một thế giới mất đi, không gì bù đắp nổi. Tâm hồn ấy chính (là) tự do. Con người chỉ có thể đi tìm tự do vì chính nó (là) tự do. Trong tri đất, ngoài nó ra, không có gì tự do. Và con người phải đi tìm tự do vì tự do (là) sáng tạo. Văn học là nhân học trong nghĩa đó: thân phận con người là phải tìm con người, phải tìm chính mình. Nó càng phải tìm chính nó khi nó "mất" tự do, khi nó bị áp bức. Chỉ có nó mới có thể bị áp bức, bóc lột. Không ai bóc lột cỏ cây, gia súc. Không ai áp bức sỏi đá. Con người chỉ có thể áp bức con người vì chỉ có con người mới có một cái gì cho người khác áp bức: tự do. Ðã (là) tự do, con người trách nhiệm tất cả: thấy hay không thấy người ăn mày bên hè phố, thấy hay không thấy bức tưng Berlin sụp đổ... Con người không phản ánh hiện thực như một mắt kính. Phản ánh hiện thực vừa là tiếp cận nó, vừa là phản nó, không cho nó được phép chỉ là nó, tiếp tục là nó, buộc nó đượm ánh mắt của ta. Ánh mắt đó là nhân tình của vũ trụ. Dẹp nó đi chỉ còn lại ngổn ngang một đống vật chất rụng ri. Cách mạng và sáng tạo là quá trình tự phủ định chính vì chúng là hành động của con người và con người, ngoài khả năng tự phủ định ấy, chỉ là một khối thịt bọc một mớ xương. Khả năng tự phủ định có ý thức ấy còn gọi lặ tự do.
Những người lao mình vào một cuộc chiến đấu hầu như vô vọng cách đây năm, sáu chục năm hẳn yêu tự do, giàu lòng nhân ái, dũng cảm, có đủ trí tuệ đ tiếp thu những hiu biết cần thiết về thi đại, để chiến đấu và chiến thắng. Vì sao họ biến thành tín đồ môn khoa học gà nòi? Vì danh vọng, quyền lực? Tất nhiên không th coi thưng những tham vọng ấy. Nhưng xưa nay vẫn vậy mà chẳng mấy khi dẫn tới ảo vọng uốn nắn tình cảm, lý trí của con người, coi dân tộc như lũ trẻ ngây ngô cần được che chở, bảo vệ, cần phải trưng kỳ giáo dục, cải tạo... Cuồng vọng ấy chỉ có thể xuất phát từ một khát vọng cơ bản, thiết thân hơn cả danh vọng, quyền lực, khát vọng đã khiến họ bất chấp mọi quyền lực lao vào cách mạng: nhân cách! khát vọng làm người, làm chính mình.
Con người phải tìm chính mình, nhưng tìm ở đâu? Một vở bi hài kịch. Con người là nền tảng của mọi sự thật, thế mà bản thân nó không có sự thật, không là sự thật. Nó phủ cả vũ trụ với nhân tính, nó sáng tạo mọi giá trị trên đi, nhưng, một mình, nó không tự tạo nhân cách và giá trị được: nó là một sự thiếu hụt trưng kỳ, vĩnh viễn. Nói như Marx: nó là toàn bộ những quan hệ xã hội của nó, hay như Sartre: un homme fait de tous les hommes [một con người cấu tạo bằng toàn bộ nhân loại] cũng vậy: nhân cách của nó không chỉ tùy thuộc nó, nhân cách của nó còn tùy thuộc người khác và người khác, cũng như nó, khủng khiếp thay, lặ tự do. Tuy nó là nó mà nó cứ phải chạy theo nó xuyên qua lòng người khác đ trở thành nô Bộ mặt thật của nó do bàn tay ai đâu khắc đẽo. Nói như nhà văn nọ, con đường dẫn ta tới ta đi qua lòng em. Chuyện giúp con người trở thành con người có thật, không kém chuyện ép con người trở thành con vật: con người là kết quả của một cuộc sáng tạo không ngừng của chính nó và của đồng loại. Do đó, có chuyện đi tìm tự do, chân lý của chính mình, có chuyện nhân học. Con người phải và chỉ có th tìm chính mình ở đồng loại. Chính vì nỗi đau của nhân loại xâm phạm nhân cách của ta, là nỗi đau của chính ta, mà nỗi đau riêng có thể trở thành nỗi đau nhân loại - đây có câu hỏi hóc búa. Vì sao con người, ngay trong lúc xử sự với nhau như thú, vẫn phải thấy người khác là người, như mình, nghĩa là, xét về mặt nhân tính, ngang hàng với mình, bằng mình, là mình. Vấn đề triết học cơ bản này, cho tới nay, chưa có giải đáp lôgíc thoả đáng. Trần Ðức Thảo là nhà triết học Việt Nam duy nhất tìm hiểu vấn đề này [La formation de l'homme và Recherches dialectiques. Quá trình hình thành con người và Nghiên cứu lý luận biện chứng].
Tóm lại, tự do, nhân cách, bản chất của con người, là một quan hệ giữa người với người. Nó là ta xuyên qua người khác. Ta không tự do đối với cỏ cây, thi tiết. Ta tự do đối với đồng loại, xuyên qua đồng loại. Không ai thích làm vua gà vua vịt [Nguyễn Huy Thiệp], vì vậy. Hoàn cảnh éo le đó khiến khát vọng lớn nhất của con người chính là con người và sự đe dọa lớn nhất đối với con người cũng là con người. Không có đôi mắt nào đục hơn đôi mắt người yêu. Chúng chỉ chớp một cái, hạnh phúc của ta có thể tan tành. Nhưng ta cũng chỉ yêu chúng khi chúng còn khả năng chớp và, hãi hùng hơn, còn khả năng liếc người khác. Chúng cứ trong suốt, bất biến như pha lê, ta nhìn vài lần ắt chán. Khoa học và nhân học khác nhau ở đim cơ bản ấy. Nhà khoa học tìm hiu những quy luật điều hành sự vận động của thế giới tự nhiên. Nhà văn đeo đuổi mục đích khác: tái tạo và sáng tạo nhân giới. Có nhà bác học phi nhân, vô liêm sỉ. Có đại văn hào mù tịt về khoa học. Dùng kiến thức khoa học để phân tích, tìm hiểu, giải thích, đánh giá nghệ thuật, văn chương là chuyện phi lý. Những môn xã hội học, chủng tộc học, kinh tế học, lịch s có thể giúp ta hiu một số khía cạnh phi nghệ thuật, phi nhân văn của tác phẩm. Chúng chẳng bao giờ giúp ta cảm vẻ đẹp, tình tứ của tác phẩm vì chúng xem xét và phân tích khía cạnh lệ thuộc của con người. Lý luận trong hướng đó, vô tình? ta áp dụng một quan điểm máy móc trong học thuyết của Marx: phải xem xét quá trình phát triển của nhân loại như một hiện tượng tự nhiên, độc lập với ý chí của con người. Ðiều này không lạ: nhiều môn phái " khoa học " nhân văn tây âu hiện nay, ít nhiều, dựa trên tiền đề ấy. Ðiều này lạ khi nó xuất phát từ một người mác xít: quên một quan đim ngược lại của Marx. Nhưng, trong vấn đề này, tư tưởng của Marx nhập nhằng. Có lẽ vì, cho tới nay, khoa học chưa trả li được ước mơ của Gerald Edelman (Nobel sinh học và y học, 1972): si nous ne parvenons pas à comprendre comment l'esprit se fonde sur la matière, il subsistera toujours un immense abime entre nos connaissances scientifiques et notre connaissance de nous-mêmes. Il n'est pas impossible de jeter un pont au-dessus de cet abime [Nếu chúng ta không hiểu nổi cơ sở vật chất của tư duy, mãi mãi sẽ còn một vực thẳm mênh mông giữa kiến thức khoa học của chúng ta và sự hiểu biết của chúng ta về bản thân chúng ta. Bắc một nhịp cầu qua vực thẳm ấy không phải chuyện không thể làm được. Biologie de la connaissance, Odile Jacob, trang 277]. Như Marx nhận xét, ngày khoa học giải thích được vấn đề này là ngày triết học cáo chung.
Vì nhân cách của con người tùy thuộc đồng loại, vì nó hình thành xuyên qua nhân cách của đồng loại nên có cuồng vọng kiểm soát, lãnh đạo, uốn nắn tư tưởng và tình cảm của con người. Vì con người tư duy bằng ngôn ngữ nên chuyện đầu tiên thường được thực hiện là tước đoạt ngôn ngữ, tước đoạt tự do ngôn luận, buộc con người suy nghĩ qua một ngôn ngữ cố định với ảo vọng ngôn ngữ ấy tạo nghĩa, khơi tình một cách tự nhiên như cây đâm cành cho trăm hoa đua nở ca ngợi một Sự Thật đã được Quy luật Lịch sử vĩnh viễn xác định. Ngôn ngữ gỗ giống ngôn ngữ tụng kinh ở mặt đó. Khốn thay, nếu việc đó thành, mục đích ắt tiêu vong: mất con người tự do, con người sáng tạo, nhân cách của ta cũng chẳng còn. Còn lại một động vật lang thang giữa hoang vu, với một rừng máy.
Ta phải tìm nhân cách của ta ở đồng loại, nhưng tìm bằng cách nào? Bằng hành động. Qua hành động con người hoà nhập thiên nhiên và loài người vì hành động của con người luôn luôn hình thành và khai trin trong lòng hành động của đồng loại. Một mặt nó thể hiện toàn diện một cá nhân trước thi đại, mặt khác, kết quả thực của nó, và do đó, ý nghĩa thật của nó th hiện cả nhân loại. Kết quả đó, ý nghĩa đó là gia tài mà ta, cùng đồng loại, gánh từ quá khứ của nhân loại trao lại tương lai. Viết văn là hành động tác động vào ngôn ngữ, môi trưng chung, phương tiện chung và hình thái tồn tại sinh động cơ bản nhất của lý trí, tư duy, tình cảm của loài người. Vì ngôn ngữ là con người, tồn tại và tái sinh qua con người, là của riêng ta và của tất cả, là ta và là đồng loại. Viết văn là một cách ứng xử, một cách sống, một cách làm người trong nghĩa đó. Một con người liếc mắt nhìn đi là đã có một thế giới mới, một nhân loại mới đang hình thành. Một con người hạ bút hành văn cũng vậy. Do đó con người càng bớt lệ thuộc thiên nhiên càng cần học yêu tự do của người khác, càng cần nhân văn. Xin chúc lớp người sẽ chôn chúng ta: thế kỷ tới sẽ là thế kỷ của tự do, của sáng tạo, của tình người. Xin chúc em mãi mãi giữ cặp mắt bất ngờ, điều kiện tối thiểu của tình yêu, của hạnh phúc.
Phan Huy Ðường
France
Chú thích:
(1) Maxime Gorki.
(2) Trần Hữu Tá, Về vấn đề định hướng của văn học trong tình hình hiện nay, Sài Gòn Giải Phóng, 09.07.89.
(3) Nguyên Ngọc, Hiện thực đang thôi thúc người cầm bút, Thanh Niên, 18.06.89.
(4) Ngô Minh, Tự do sáng tạo và nhân cách nhà văn, Thanh Niên, 09.07.89.
(5) Dương Thu Hương, Trò chuyện với Dương Thu Hương về Những thiên đường mù: những thiên đường và những nỗi đau. Thảo Ðăng, Tuổi trẻ chủ nhật, 23.04.89.
(6) Vấn đề con người trong văn học, Sài Gòn Giải phóng, 02.07.89.
Ngày mai, ba mươi tuổi
Ngày mai, cuối tuần. Cuối tuần thì có gì lạ, chuyện gì chả có mở đầu, có kết cuộc. Ngày mai tôi ba mươi tuổi mới quan trọng chớ. Cuối cùng rồi cũng đến cái tuổi dở dở ương ương, tuổi mà người ta gán ghép cho bao chuyện đã phải làm xong hay sẽ phải bắt tay vào làm. Chậc...! Ba mươi tuổi. Thật phiền toái.
Ngày mai, ba mươi tuổi. Chắc buổi sáng phải đi hớt tóc. Tuổi ba mươi đâu còn để tóc tai bờm xờm, rối nhùi được. Nhưng nhất định không thể ghé tiệm lão Ba cạo được. Cha nội thiệt vô duyên. Lần nào cũng lải nhải " Tiêu đời cha rồi! Chưa có vợ mà cái đầu hói rọi, em nào ưng...". Thấy thiệt bực mình, nghĩ bụng - " Bộ đầu hói là ế vợ chắc... ?". Nhưng lòng cũng lo lo. Bỗng thấy chẳng ưa cái đầu tóc xịt keo bóng mượt của gã.
Ngày mai, ba mươi tuổi. Chắc phải ghé trạm xăng mua tờ báo. Coi có việc gì kha khá thì... nhảy. Ba muơi tuổi phải đổi đời chớ, cứ làm job ủi đồ hoài coi sao được. Ai cũng bảo "làm gì cũng tốt cả, miễn lương thiện...", nhưng cứ nghe xưng làm job bình thường thì miệng nhếch nhếch, đầu gật gật ra điều thông cảm. Phát bực. Lại phải cứ úp mở với mấy em rằng "... anh làm khâu cuối cùng trong nhóm... fashion design" hoài cũng ngượng miệng. Phải đổi thôi.
Ngày mai, ba mươi tuổi. Buổi chiều ghé chợ bà Năm mua vài xách bia, con vịt quay rồi ghé tụi thằng Nam lai rai qua ngày. Khỏi khai báo "độ" gì. Họp lại, làm vài chai tán dóc là tuyệt rồi. Mấy thằng nghèo nghèo, lang bạt là dễ thân nhất trên đời. Chậc! Bia rượu, thuốc lá... Nhưng kệ, thiên hạ cũng đè nhau đi tìm vui. Cần gì phải tìm thứ cao siêu cho nó nhức đầu, mộng mị. Thế nào rồi thằng Nam cũng lè nhè cái giọng rặt Quảng nam của nó " Say sưaaaaaaaaa, ư ư, nghĩ cũng hư đời, Hư thời hư vậy, saaaaaaaaay..ư.... thời cứ say" (*)
Ngày mai, ba mươi tuổi. Hồi xưa tía tôi hay nói " Tam thập nhi lập". Nho của ổng sao tôi hiểu được. Bây giờ nghe tụi bạn diễn giải, tui mới lờ mờ đại khái là ba chục tuổi thằng con trai bắt đầu tạo dựng cái gì đó, vậy thôi. Mình ba mươi tuổi, cái gì cũng không có, lại lông bông. Chắc tía tôi còn sống, ổng cũng rầu. Hồi xưa ba mươi tuổi, ổng đã làm tới chức... ấp trưởng, lại đã sinh tới chị Tư tôi rồi. Thôi thì mình tầm thường thì đành làm chuyện bình thường. Chứ ai đời mấy cha xưng cao siêu cũng làm ba chuyện tầm thường, mấy chả mới lo chớ. Ba mươi tuổi, cứ sống bình thường đừng làm gì sai quấy đã tốt rồi. Chậc...! Biết sao hơn.
Ngày mai, ba mươi tuổi... Nhưng mình suy nghĩ cái quái quỉ gì thế này không biết. Ngày mai mới là sinh nhật thứ... hai mươi của mình mà. Sao lại vẩn vơ đến cả tuổi ba mươi thế kia. Chắc lại ảnh hưởng mấy chữ "tam thập" của tía rồi. Suy nghĩ nhiều, hèn gì dạo này đầu tóc hay ngưa ngứa, lại hay rụng cả tóc. Không khéo đến tuổi ba mươi nó hói thiệt chứ chẳng chơi. Không được... Bây giờ phải bắt đầu lại từ đầu.
Ngày mai, hai mươi tuổi...
Ðinh Yên Thảo
(*) thơ Tản Ðà
Về một mùa hè
tặng những tình thân - đã bên tôi muà hè 1986
Hằng cùng Vân và Vi bước vào quán Thanh Hiền để ăn trưa. Cả ba đều mệt mỏi và đói bụng sau chuyến mua sắm từ sáng sớm. Kêu thức ăn xong, trong khi chờ đợi người hầu bàn mang ra, Vân lấy mấy biên lai ra nhẩm tính số tiền đã tiêu. Vi chống cằm lơ đãng nhìn ra ngoài đường. Còn Hằng đảo mắt nhìn đám thực khách đang ồn ào cười nói. Hằng nhận ra anh Thi đang ngồi với ba người bạn trong một bàn ăn cuối góc. Cả bốn người đàn ông đang bàn cãi một chuyện gì khá sôi nổi nên không để ý đến mọi người chung quanh. Hằng tha hồ quan sát anh Thi. Trí nhớ của Hằng lùi lại 11 năm trước, lần đầu tiên Hằng đến California.
Năm ấy, Hằng khăn gói sang Cali, sống trọn mùa hè với Vân và Vi, hai chị em con chú của Hằng. Cả hai đang theo học tại trường đại học Irvine. Vân và Vi đang thuê một căn nhà đối diện với trường đại học, với 6 bạn gái khác. Vì vào mùa hè, vài đứa bạn của em Hằng đã về nhà với cha mẹ. Căn nhà 2 phòng ngủ bây giờ chứa thêm Hằng cũng không đến nỗi chật lắm. Chỉ cần vài ngày là Hằng quen với tiếng sấy tóc liên tục, tiếng điện thoại reo, tiếng bàn bạc ỏm tỏi về thời trang, bạn trai, và phòng tắm hình như lúc nào cần cũng đều bị bận.
Lúc đó Hằng ít đi chơi đâu, vì chưa quen ai ở California. Chỉ khi nào Vân, Vi rảnh rỗi mới chở Hằng đi mua bánh mì Ba Lẹ ở khu Phước Lộc Thọ, món ruột của ba chị em. Thời gian còn lại cứ ru rú ở nhà, trả lời điện thoại dùm cho các "tấm lụa đào". Ôi, những tấm lụa đào không phải phất phơ vì gió, mà vì những trái tim từ bi, thấy anh nào cũng tội nghiệp nên hồn cứ nghiêng chao. Khổ cho mấy anh chàng và cho Hằng, cô "telephone operator" bất đắc dĩ.
Sau hai tuần liên tiếp, Hằng rành ai là bồ của ai, bồ chính hay bồ phụ. Có vài cô nhờ Hằng nói dối dùm vì có hai ba người đang tán tỉnh. Lỡ chọn anh này, anh kia khá hơn, thì sẽ đau khổ vì tiếc. Thành thử, Hằng nghe mãi điệp khúc: "Nếu em bận đi chơi với anh nào, anh khác gọi lại, nhờ chị Hằng cứ trả lời là bận tắm, về nhà mẹ... dùm em, miễn là đừng bao giờ nói em đi chơi với bạn trai là được".
Hằng không thông cảm sao được. Các cô hay mua quà vặt tặng chị Hằng.
Một buổi chiều đang nằm đọc sách, thì điện thoại reo. Hằng nhấc phone:
- Hello!
Tiếng người đàn ông:
- Hello! Xin lỗi, ai ở đầu dây vậy?
Hằng bực mình, thằng cha này kỳ cục, gọi điện thoại nhà người ta mà không chịu xưng tên, mà còn hỏi chủ nhà là ai:
- Xin lỗi, ông muốn nói chuyện với ai?
Có tiếng cười nho nhỏ trên phone:
- Tôi muốn nói chuyện với cô đang cầm điện thoại!
Hằng cũng không vừa:
- Không có cô nào cầm điện thoại cả, tôi chỉ là robot nhận message dùm!
Sau đó, người đàn ông cho Hằng biết anh là Thi, trưởng ban văn nghệ nhóm sinh viên Việt Nam, gọi để nhắc Thủy, bạn của Vi, tập dợt trước ngày trình diễn. Hằng phá:
- À mà ông trưởng ban văn nghệ có biết hát không?
Anh Thi tỉnh bơ khoe:
- Chẳng những biết hát, còn biết viết nhạc và chơi guitar một cây xanh dzờn nữa!
Hằng đùa:
- Ông hát đi, tôi mới tin!
Anh Thi không ngần ngại hát trên phone cho Hằng nghe hai bài do chính anh sáng tác. Giọng anh ấm, khá hay, làm máu yêu văn nghệ từ lâu chết tiệt trong Hằng bỗng nổi dậy.
Vừa nghe anh Thi hát, Hằng vừa nhớ cái thuở theo bạn bè vào ký túc xá đàn hát. Có lần, sau khi son phấn, áo quần kỹ lưỡng, bầy con gái kéo vào một đám cưới không quen biết, giúp vui văn nghệ, trước hát sau ăn. Cô dâu chắc tưởng bạn chú rể và ngược lại. Cả bọn sau đó được một mẻ cười thích thú. Hằng bắt đầu thoải mái nói chuyện với anh Thi. Điện thoại có hai đường dây, nghe click click hoài mà Hằng và anh Thi cứ mãi nói chuyện. Cuối cùng trong nhà có người cần điện thoại nên Hằng phải cúp phone. Anh Thi quên hỏi tên Hằng.
Phần Hằng, Hằng nghĩ chắc sẽ không có dịp nói chuyện với nhau nữa, nên quên chuyện người đàn ông xa lạ đã hát trên phone.
Hai ngày sau, anh Thi gọi phone lại, không tìm Thủy nữa mà tìm Hằng. Thủy, sau lần đi tập văn nghệ, có nói sơ sơ về Hằng cho anh Thi biết. Anh Thi biết Hằng từ xa về Cali lần đầu, cứ ru rú trong nhà chứ chưa đi chơi đâu. Anh mời Hằng đi chơi để giới thiệu Cali. Hằng còn do dự. Hằng có thể bỏ hàng giờ thưởng thức văn chương, âm nhạc bằng tất cả tim óc mình, nhưng để thân quen một con người nghệ sĩ sáng tác ra nó thì Hằng không nhiệt tình mấy. Hình như đó là một thành kiến sai lầm trong Hằng. Hằng nghĩ đa số nghệ sĩ có trái tim lang thang. Sẽ không bao giờ là của riêng Hằng. Gặp nhau, biết nhau chi, cho thêm phiền toái cuộc đời.
Anh Thi tiếp tục gọi cho Hằng mỗi tối, anh cho Hằng số phone ở nhà anh, lúc nào buồn cứ gọi. Hằng chưa kịp buồn, vì anh Thi gọi phone rất thường. Hơn ba tuần, Hằng như quen giọng nói của anh Thi nên không cảm thấy anh xa lạ. Hằng bắt đầu hỏi Thủy về anh. Thủy bảo anh Thi chưa có vợ và "tiền án" gì, nên đi chơi với anh chắc không sao đâu. Vân và Vi phản đối ầm ĩ, vì nghĩ bà chị Hằng thuộc nhà quê lên tỉnh, làm sao đối phó với cạm bẫy Cali - đi dễ khó về. Vi chọc thêm, lỡ có bề gì thì ba chị em làm sao "nuôi" nổi.
Cuối cùng, vì tò mò, Hằng nhận lời gặp anh Thi.
Anh chẳng có dáng dấp của một nghệ sĩ như Hằng tưởng tượng. Kiểu như Trịnh Nam Sơn, không biết đâu là râu đâu là tóc, và ốm tong teo. Anh tóc tai gọn gàng, chỉnh tề trong chiếc sơ mi trắng và chiếc quần màu xám đậm. Nịt trễ xuống chút xíu vì cái bụng hứa hẹn một tương lai phát tài. Trông anh Thi giống như mấy ông bán nhà đất hơn là một nghệ sĩ. Hằng có thì giờ quan sát kỹ, vì khi Vân xuống lầu mở cửa cho anh Thi, Hằng kín đáo rọi tấm gương nhìn xuống cổng nhà.
Đúng ra bề ngoài của anh Thi chẳng ăn nhằm gì đối với Hằng, nhưng Hằng muốn mình phải có ít nhất năm phút để nhập cái người trên phone với người trước mặt, cho dễ nói chuyện. Hơn nữa, anh Thi chưa biết mặt Hằng, lỡ anh đẹp trai hơn Tom Cruise thì cũng tự ái cho Hằng, vì Hằng nhan sắc chỉ trung bình. Biết mình biết ta trăm trận trăm thắng mà. Nhìn anh Thi, Hằng không lo nữa. Anh lớn tuổi hơn Hằng và diện mạo cũng bình thường.
Hằng thong thả bước xuống cầu thang. Cả chục con mắt trong nhà đang nhìn hiện tượng "blind date", mà theo các cô, chỉ dành cho người nào thật ế ẩm. Hằng nghĩ các cô chắc sau này sẽ bị trời trả báo. Gặp bồ toàn là trên Internet. Anh Thi đang ngồi ở bộ salon, cười cười. Hằng làm bộ tự nhiên:
- Hi anh Thi!
Anh Thi đứng dậy:
- Chào Hằng! Trông Hằng còn vị thành niên quá! Có mang giấy tờ theo không?
Nhìn ánh mắt của anh Thi, Hằng đoán là anh sẽ là người dẫn đường tự nguyện cho Hằng chứ không phải vì lỡ dại rủ Hằng đi chơi. Hằng lật đật kéo anh Thi ra khỏi nhà, vì nói chuyện lâu, hai cô em quái quỷ của Hằng sẽ có đề tài chọc Hằng. Nhất là chuyện bà chị Hằng nói chuyện với người lạ thì êm như sương khói, mà với lũ em thì không xẹt ra lửa cũng đứt cầu chì.
Anh Thi chở Hằng đến những nơi danh lam thắng cảnh ở Nam Cali. Anh là người dẫn đường khá sành sỏi. Anh lo cho Hằng ăn sáng, ăn trưa, ăn tối nếu đi chơi nguyên ngày. Có khi chu đáo mua thức ăn mang về cho Vân và Vi. Hằng ngại kinh khủng nhưng anh Thi nói mãi. Hơn nữa, không lẽ đi chơi mà chỉ đem theo bánh mì, món duy nhất mà Hằng có thể mua nổi, vì lúc đó Hằng còn là sinh viên, tiền bạc phải tính từng đồng mới đủ sống qua mùa hè. Cuối tuần anh Thi còn dẫn Hằng đi nghe nhạc ở những phòng trà anh quen. Anh lên sân khấu hát cho Hằng nghe những bài Hằng thích. Giọng hát của anh, bây giờ có thêm nhạc đệm, hay hơn trên phone rất nhiều. Có bài hát anh chọn, nội dung giống như dành cho Hằng. Một thoáng cảm động. Nhưng hình như tình cảm chỉ dừng ở đó. Hằng phục kiến thức của anh Thi về văn thơ, nhạc và thắng cảnh Cali. Anh Thi thích Hằng điểm gì Hằng không rõ. Bạn bè anh nhiều người xinh đẹp, khôn ngoan hơn Hằng rất nhiều. Hằng chỉ biết là những buổi đi chơi có vẻ thoải mái cho cả hai. Quá đủ để những ngày hè ở Cali không dài lê thê.
Có hôm anh Thi hỏi Hằng:
- Đi chơi vui không cô bé?
Hằng thật tình:
- Vui lắm. Nhờ anh Thi Hằng mới biết được nhiều về thắng cảnh Cali trong một thời gian ngắn. À mà, anh Thi có thích làm người dẫn đường không vậy? Hằng sợ làm phiền anh!
Anh Thi cười:
- Hằng vui tính và sôi nổi. Anh nghĩ Hằng mới là người dẫn đường...
Rồi anh Thi lặng im không nói. Đó là lần duy nhất cả hai không nói chuyện liên quan đến thơ, nhạc, thắng cảnh và đồ ăn.
Tối về, ba chị em hay nằm tán dóc. Vân và Vi đều tưởng anh Thi và Hằng là bồ của nhau, vì gặp gỡ nhau thường xuyên. Hằng cứ mãi đính chính chỉ xem anh Thi như bạn. Đôi lúc Hằng nghĩ có phải mình lợi dụng lòng tốt của anh Thi không, vì anh tốn thời giờ và tiền bạc vì Hằng, mà Hằng không yêu anh. Nhưng anh Thi có ngỏ ý gì đâu. Phải chi anh Thi tỏ tình, Hằng đã có lý do từ chối không đi chơi với anh nữa. Đằng này, anh chẳng nói gì cả. Vẫn vui vẻ và đàng hoàng như một người anh. Trong thâm tâm, Hằng ghi khắc một dịp nào đền trả lòng tốt của anh. Nhưng hoàn cảnh lúc đó chưa cho phép Hằng thực hiện.
Ba tháng hè qua thật nhanh. Lúc Hằng sắp rời California mà chẳng thấy anh Thi hỏi địa chỉ hay số phone của Hằng. Hằng nghĩ chắc anh ngại liên lạc xa xôi nên cũng không cho, nếu anh không hỏi. Hình như anh chờ đợi một điều gì đó nơi Hằng. Mấy lần đi chơi cuối thấy anh Thi buồn buồn. Hằng hỏi, anh không nói, nên Hằng cũng lờ đi.
Hằng rời California sớm hơn một ngày. Hằng nói với anh Thi. Anh có đến tiễn đưa Hằng, theo lời Vân, Vi kể lại, thì Hằng đã biến mất. Không một dấu vết. Hằng biết mình có lỗi nhưng Hằng sợ những cuộc tiễn đưa. Hằng rời Cali, đã không "bỏ quên con tim" mà còn xách thêm món nợ ân tình của một người anh tốt bụng. Món nợ rồi cũng trôi vào quên lãng. Cho đến hôm nay gặp lại anh Thi.
Người bồi bàn mang thức ăn ra. Vân và Vi liền tấn công hai tô bún bò Huế đang bốc khói, vì chờ khá lâu. Hằng tính chỉ cho hai em thấy anh Thi, nhưng lại đổi ý. Hai em Hằng làm sao biết được những diễn tiến trong đầu Hằng. Hằng với tay lấy miếng chanh nặn vào tô bún riêu, miên man suy nghĩ. Hằng không biết mình phải làm gì để cảm ơn anh Thi đây. Bước lại chỗ anh Thi đang ngồi và tự giới thiệu mình sao được, vì anh và bạn bè đang bàn thảo chuyện riêng. Hay là trả tiền dùm bàn ăn của anh và để lại vài dòng chữ lâm ly bi đát, giống như trong mấy cuốn tiểu thuyết chăng. Hoặc viết cho anh Thi vài dòng cảm ơn cùng địa chỉ của Hằng, vì tối nay Hằng phải bay về San Jose. Mà cho địa chỉ để làm gì. Liệu anh ấy có nhớ về Hằng sau 11 năm không. Hằng thở dài, cúi xuống ăn tô bún một cách uể oải.
Vân và Vi đã ăn xong và ngồi chờ Hằng.
Ba chị em ăn xong, tính tiền, rồi bước ra khỏi quán. Hằng liếc thấy anh Thi vẫn còn đang tranh cãi hăng say. Gió lùa vào mặt làm Hằng tỉnh táo. Hằng bỗng mỉm cười trấn an chính mình: "Món nợ đã quên 11 năm, có quên thêm chút xíu nữa chắc cũng chẳng chết ông Tây nào".
Hằng cúi xuống cột sợi dây giày vừa tuột ra. Tiếng Vi đề máy xe át tiếng thì thầm của Hằng: "Cám ơn anh Thi và những ngày hè đáng nhớ".
Lillian Nguyễn