vhnt, số 311
8 July 1997
Trong số này:
T h ơ:
1 - Như đã xa xôi................................................Ý Liên
2 - Vì sao sao lại rụng giữa trời...........................Hoàng Vỹ
3 - Anh..........................................................Ðinh Thăng
4 - Em, và khoảng cách...................................Trần Thái Vân
5 - Ðêm mất ngủ................................................Song Vinh
6 - Thơ cho tháng bảy.........................................Minh Nguyên
7 - Tiễn trăng.......................................................Chinh
8 - Mưa nơi xứ lạ................................................Ðan Hà
9 - Ðã chín mong chờ....................................Ngô Minh Hằng
D i ễ n Ð à n V ă n H ọ c:
10 - Trực giác..................................................Khải Minh
11 - Giới thiệu sách mới..............................................
T r u y ện N g ắn / S án g T ác:
12 - Mùa hè 72......................................................Mnguyen
Như đã xa xôi
Tôi lại gặp người sáng hôm nay
mộng cũ xa xôi mộng đã gầy
cơn mưa cổ tích còn đâu nữa
hai đứa đầy hồn mưa bụi bay
Người đứng chờ tôi sáng hôm nay
hai bên đường phố nắng lên đầy
bước chân thần thoại còn rưng rức
hai đứa nhìn nhau buồn ngất ngây
người đứng chờ tôi như đã lâu
lâu rồi tự thuở biết nhớ nhau
mùa xuân ấm nắng mà không đủ
ấm lại hồn tôi chút mộng đầu
tôi lại xa người sáng hôm nay
ngại ngùng chưa kịp nắm bàn tay
quay lưng tôi biết người vẫn đứng
bụi mù che khuất lối thơ ngây
tôi không tiễn người tối hôm nay
để nụ tình thơ theo chuyến bay
người đã xa xôi tôi thầm hỏi
không biết là mưa hay nắng đâỷ
Ý Liên
95
VÌ SAO SAO LẠI RỤNG GIỮA TRỜi?
Tôi còn nhớ
một đêm trăng sao mùa hạ
nơi quê hương tôi xa lắm
đêm trăng tròn mười sáu
đêm trên bầu trời chi chít những vì sao
thuở ấy tôi còn là cậu bé ngây thơ
thích ngồi vắt vẻo trên cây sầu đông ngoài ngõ
ngắm ánh trăng tan chảy xuống ruộng đồng
hương hoa sầu đông thơm ngát
gió hạ vàng thổi mênh mang
tôi khẽ hát một bài đồng dao
và vạch nhiều trò chơi mơ tưởng
nếu chị Hằng lạc bước xuống đây
tôi sẽ nhốt chị vào túp lều mới cất chiều nay
ai bảo chị không thương chú cuội
để chú ngồi buồn thui thủi gốc cây đa
tôi đang còn mãi nghĩ
chợt thấy vì sao rớt rụng giữa không trung
tôi bỏ cây sầu đông chạy vào hỏi mẹ
mẹ ơi vì sao sao lại rụng giữa trờỉ
mẹ dẫn tôi ra ngồi nơi vạt cỏ xanh
và giảng giải về các vì tinh tú
mẹ bảo sao ở cách xa mình lắm
đây là chòm sao bắc đẩu
bắc đẩu lại đối với nam tào
kia là ông thần nông
khi ông đội nón lá và gù lưng xuống
là đến mùa cày cấy hàng năm
và kia là con sông Ngân
con sông ngăn cuộc tình chàng chăn trâu và cô nàng dệt vải
tôi hỏi vì sao?
mẹ bảo làm sao mẹ biết được
chỉ biết rằng vào mùng bảy tháng bảy hàng năm
có con quạ đen bắc cầu cho hai người gặp mặt
rồi họ lại phải chia tay
tôi lại hỏi vì saỏ
mẹ bảo làm sao mẹ biết được
chỉ biết rằng họ khóc ngày khóc đêm không ngừng nghỉ
nước mắt đổ thành giòng
rớt xuống trần gian làm mưa ngâu ngày tháng tám
tôi nghe mê mải mải mê
quên mất mình đang hỏi
vì sao sao lại rụng giữa trờỉ
Hoàng Vỹ
Anh
ngày nào
anh đến
xôn xao đập cuồng ngực trẻ
bừng thức nụ hoa vườn nắng
ngẩn ngơ
hồn hát
tràn hương...
rồi chiều
anh đi
lặng câm bản nhạc rốc
bóng gầy
rơi ngây
giếng vắng
thẫn thờ
nghe vọng niềm đau
ngân những thanh âm của nh
anh đi
em cũng bỏ em
một mình
lang thang buốt chìm quá khứ
hạt nắng nào
đánh thức
ngày mai...
Ðinh Thăng
Em, và khoảng cách
Và nơi xa đó có em
Và nơi xa đó có đêm mong chờ
Và nơi xa đó có mơ
Và nơi xa đó có thơ em làm...
Và nơi xa có hương thầm
Và nơi xa có những mầm chiêm bao
Và nơi xa có vì sao
Và nơi xa có ngọt ngào của đêm
Và nơi xa bóng ngả thềm
Và nơi xa tôi chờ em một mình
Và nơi xa em làm thinh
Và nơi xa cứ tội tình thế thôi
Và nơi ngày xuống lưng đồi
Và nơi đêm xuống chân ngồi trên chân
Và nơi tay khóc bao lần
Và nơi tay dỗ tay dành tay đan
Và tôi bất chợt miên man
Và trong giấc ngủ hoang tàn lên ngôi
Và em từ tạ trong tôi
Và tôi xa cách trong đời của em
Chúng mình như khoảng trời đêm
Nơi xa xa đó có em có đời
trần thái vân
đêm mất ngủ
lại một đêm mất ngủ
nằm đếm những chuyến xe
đưa tôi xa người, đưa người xa tôi
những chuyến xe không chỗ đến, không chỗ về
miệt mài lang thang
lại một đêm mất ngủ
nằm đếm những kỷ niệm
đã nằm lại trong ta, nằm lại trong người
những kỷ niệm phai mờ theo thời gian
thời gian qua vun vút
lại một đêm mất ngủ
nằm đếm những mộng mơ
chia một đôi, tặng người một nửa
người và ta mất mát nhiều rồi
phải không?
lại một đêm mất ngủ
những chuyến xe trong cuộc đời
những kỷ niệm dấu yêu
những mộng mơ bình dị
trôi trong đêm
Song Vinh
thơ cho tháng bảy
tháng bảy ta ngồi nhìn theo ngọn nước
ngọn nước lang thang trong giấc miên trường
ta chợt ước mình làm cây rong nhỏ
theo nước quay về thăm những bến xưa
tháng bảy ta nằm lặng nghe tiếng núi
nghe phấn thông bay da diết trên đồi
ta chợt ước mình làm cơn gió nhẹ
vàng phấn trăm năm ôm dáng em gầy
tháng bảy ta cười hạt mưa vụng dại
rớt xuống môi em yêu dấu, ngọt ngào
ta chợt ước mình làm con tàu giấy
chở nước mưa đầy suối tóc em xanh
tháng bảy ta buồn rưng rưng phượng đỏ
gót ai bâng khuâng phố xá, cổng trường
ta chợt ước mình làm ve khóc hạ
vang lộng phố phường chào đón em qua
tháng bảy bây giờ còn đâu phượng đỏ
còn đâu rong rêu, phấn núi, mưa nguồn
ta chợt ước mình làm tên phiêu bạt
gõ cửa gọi hồn phượng đỏ và em
7/97
Minh Nguyen
Tiễn Trăng
ngày tiễn M.
Ngày loá dậy, thổi nồng hơi đất đá
Ðoá trăng bay cho biển vỡ thai đầu
Âm của đất ngậm ngùi mang nỗi nhớ
Thế giới còn rớt lại bóng hình ta.
Ta vẫn đứng tiễn trăng về ngàn dặm
Bào thai đau sót lại lệ- ban - đầu
Ta cũng sót bên đời dăm hạt lệ
Trăng đi quanh thế giới, có buồn vui?
Trăng là vạc. Ta cũng là cánh vạc
Thân gầy khô vác nặng mộng không bền
Chờ nhau mãi cũng là xa nhau mãi
Biển còn ta lắng biếc sót giọt trăng.
Chinh
7/7/97
Mưa Nơi Xứ Lạ
Mưa làm ướt lá cây rừng
Ướt vai núi đứng ướt lưng suối nằm
Nhìn theo bóng vỡ lăn tăn
Chợt hoang vu rụng xuống hằn bóng đơn
Ðời xa mấy cõi mù sương
Hắt hiu nỗi nhớ thầm thương ngày nào
Em về rớt nụ chiêm bao
Hương tình theo gió bay vào lãng quên
Ngồi trông từng sợi mưa nghiêng
Trôi xuôi quá khứ về miền tịch nhiên
Bữa nay từng giọt mưa hiền
Bay qua ký ức nỗi niềm chìm sâu
Mưa ngày ướt cả đêm thâu
Hồn ta cũng ướt nỗi sầu lạnh tê
Ðan Hà
Ðã Chín Mong Chờ
Những khuôn mặt tươi cười như hoa nở
Cờ trên tay chen chúc đứng bên nhau
Ðàn em bé măt bừng lên rạng rỡ
Bắt chước đoàn quân nhạc hát theo sau…
Có cụ ông nương mình trên chiếc gậy
Nhìn cháu, con trong quân phục diễn hành
Có cụ bà giơ cao cờ vẫy vẫy
Ðể nhớ thời vì độc lập đấu tranh
Cứ như thế bao đoàn người tiếp nối
Từ mọi ngành binh chủng đến địa phương
Họ đi giữa hàng cờ bay trống nổi
Hân hoan mừng ngày Ðộc Lập Quê Hương
Họ có Quê Hương, có ngày Ðộc Lập
Ðể chào mừng và hát những lời vui
Ta mất cả Quê Hương và Ðộc Lập
Nên lời ta, lời cay đắng ngậm ngùi!!!
Ta cũng đứng xem diễn hành như họ
Nhưng hồn ta dòng lệ tủi thầm rơi
Dân nước ta hai mươi năm chưa có
Một Tự Do, Ðộc Lập tựa dân người!
Hai mươi năm ta làm thân vong quốc
Chỉ mong ngày về lại chốn quê xưa
Ôi, ngày ấy, bao giờ ta có được?
Hai mươi năm, thôi đã chín mong chờ!
Ngô Minh Hằng
Trực giác
Sự giao hưởng từ ý thức (ngoại giới, thi giới, nội giới) đến tâm thức, lên tiềm thức cộng hưởng đến vô thức khai sinh nơi chúng ta những trực giác như một cảm quan mới để tiếp nhận và truyê `n đạt sự sáng tạo nào đó. Ðây là bước đầu hình thành cảm giác nơi con người.
Về thân xác, mỗi người chúng ta có cách phản ứng khác nhau trước một sự đau đớn hay khoái cảm. Trước sự việc bị đứt tay, có người la lên: "Ái!", người khác kêu "úi cha!", có người òa lên khóc, có người cắn răng chịu đau, có người bình tĩnh coi như không có gì xảy ra, v.v...
Về phương diện tinh thần, mỗi người cũng sẽ có những trực giác tâm linh khác nhau tạo cảm quan khác nhau trước những vui, buồn, sướng, khổ. Chính cái trực giác này tạo ra cảm xúc mới nơi con người. Từ đây, khí thơ vẫy vùng qua mọi phương tiện truyền thông, mọi hình thái giao cảm để thoát ra.
Nói đến trực giác trong thơ là nói đến cái vận hành của vô thức, nơi kinh nghiệm (tâm thức) và hoàn cảnh sống (tiềm thức) biến dạng thành một hiện tượng thăng hoa,nhảy vọt nào đó để trở về tạo hình thái nơi thần não con người. Từ đây, thất tình lục dục biến dạng thành một cái gì đó khác biệt nơi vô thức mỗi người. Thí dụ như đau đớn biến thành tiếng than "ui cha!", vui mừng biến thành ti ếng cười, thiếu nữ biến thành bóng hồng, cuộc đời biến thành mây khói, cơn gió bụi, tục kiếp... tất cả mọi quan niệm của con người về mọi mặt như văn hóa, tôn giáo, tư tưởng... như bị đổi khác d di theo một cảm quan mới. Thí dụ bài "Thân Phận" sau:
nhạc rót hồn khuya nhạc
tâm tưởng lạc thanh âm
trầm trầm sinh tuyệt đối
lạc lầm
trăng sóng sóng
nhạc khuya khuya
trùng trùng trùng ảo giác
loài mộng xa xưa
hơi thở ngậm thời gian
đáy mắt khát hồng nhan
rợn thần kinh siêu thực
sinh nghiệp tử hoành
đa đoan
thể tụ tan thể phách
thương sử sách hưng tàn
ngữ ngôn sám hối
phàm nhân tận tình
đêm đêm lạ lòng nhau
tình cuồng xuôi nghịch mai sau
thơ từ tuyệt tích
tục ngôn
vong tồn
...
Hình thái một con người ở giữa sinh và tử, vong và tồn, tuyệt đối và vô cực, ảo giác và thực giác, thần thánh và tục tình, v.v... Trực giác bộc phát cho chúng ta thấy cái sống động của "Thân Phận" này. Nó có vẻ như bất động, phụ thuộc, hư không nhưng không gian, thời gian, vong, tồn, sinh, tử là của nó, là sự sống của nó tạo ra. "Thân Phận" ở đây không bi quan, không lạc quan mà sống động tự tại trong cảm quan do chính nó tạo ra.
Trực giác định chế mọi phương tiện truyền thông như âm thanh (ngôn ngữ), mầu sắc (tranh ảnh), hình dạng (hình tượng, điêu khăéc), điệu bộ cách sống (kịch nghệ) v.v... Chúng ta không có luật lệ này, cấ u trúc kia, bố cục nọ rõ ràng nào cho những gì trực giác bộc phát ra. Nó đòi hỏi chúng ta phải dẹp mọi định kiến, chủ quan để khí thơ hòa vào hồn chúng ta trước khi hiện thể bằng những cách truyền tho ^ng, thí dụ như ngôn ngữ trong thơ.
Khải Minh
sách mới
Mười ba năm tranh luận văn học (1932-1945)
Tài liệu sưu tập của Linh mục Thanh Lãng, Văn Học (VN) xuất bản, bản in lại ở hải ngoại dày 3 tập, tổng cộng 1650 trang, do nhà Văn Nghệ tổng phát hành. Giai đoạn văn học 1932-1945 có nhiều biến chuyển quan trọng, đặc biệt là sự phát triển của văn chương quốc ngữ với Thơ Mới và Tiểu thuyết, cũng như sự nở rộ của Báo chí và ngành Xuất bản. Vai trò của Tự Lực Văn đoàn cũng là một chủ đề lớn trong giai đoạn này. Nhưng sự thực về sinh hoạt chữ nghĩa của thời ấy ra sao, ít ai có điều kiện để biết. Sưu tập công phu và đồ sộ của LM Thanh Lãng về những cuộc tranh luận diễn ra trên báo chí thời đó sẽ giúp cho bạn đọc có một cái nhìn chính xác và sinh động hơn về giai đoạn văn học quan trọng này. Giá toàn bộ 3 tập là 50 MK. Liên lạc Nhà xuất bản Văn Nghệ.
Câu Nam ai thất lạc
Tập truyện ngắn và ký của Hồ Minh Dũng, Văn Mới xuất bản, bìa Khánh Trường, phụ bản Ðinh Cường, Khánh Trường, Hồ Ðắc Ngọc, sách dày 200 trang, giá 10 MK. Bạn đọc đã đọc nhiều truyện ngắn của Hồ Minh Dũng trên Văn Học, có lẽ đã nhận ra nét riêng biệt trong bút pháp và thể tai ông chọn. Không giống với các nhà văn đã thành danh ở Miền Nam trước 1975 sang sau qua các đợt HO, Hồ Minh Dũng không viết chuyện lao tù, cải tạo, chuyện thời thế... Ông khai thác trở lại những chuyện thâm cung triều Nguyễn, dùng trí tưởng tượng tái tạo lịch sử theo quan điểm của mình, kéo lịch sử xuống gần với đời thường. Ông đã thành công với một số truyện viết theo khuynh hướng này. Sách do nhà Văn Nghệ tổng phát hành.
Rong biển
Tác phẩm thứ nhì được xuất bản của một nhà văn nữ ở Pháp: Trần thị Diệu Tâm, do An Hiên xuất bản, Tựa của Tiến sĩ Lê Ðình Thông, tranh bìa của Họa sĩ Phạm Tăng, sách dày 260 trang, giá 80 Francs, hoặc 16 MK. Sách gồm hai phần: Phần Một gần 130 trang là bảy chương của truyện dài Rong Biển, Phần Hai là 7 truyện ngắn. Trả lời phỏng vấn của ký giả Từ Nguyên ở Paris trong buổi ra mắt sách do Trung tâm Văn bút VN Hải ngoại tại Âu châu bảo trợ, tác giả cho biết: "Chiến tranh và tình yêu không phải là hai chủ đề của tập truyện. Tập truyện có chủ đề chính là tình yêu. Tình yêu qua chiến tranh, tình yêu qua thù hận, qua lưu lạc, qua nghịch cảnh, qua tuyệt vọng và hy vọng."
Ông Kỳ Lân
Tập truyện ngắn của Trần Long Hồ, bìa Nguyễn Quốc Tuấn, phụ bản Ðinh Cường, Minh Văn xuất bản, sách dày 200 trang, giá 11 MK. Tác phẩm gồm 5 truyện ngắn mới của tác giả bộ trường thiên Dung Thân, và khác với những tập truyện ngắn trước của Trần Long Hồ như Ngày Quanh Quẩn (1991), Niềm vui ung thư (1992), Kẻ đào mồ (1993), Người chị (1995), hình như trong tập này tác giả muốn thử một lối viết khác: dùng chuyện xưa để nói về chuyện nay, pha trộn hư thực để thành một thứ hiện thực khác với lối mô tả hiện thực sống động lâu nay là sở trường của Trần Long Hồ. Ðịa chỉ liên lạc: Minh Văn hoặc 16 MK.
Chung cuộc
Tập truyện của Khánh Trường, Tân Thư xuất bản, tác giả trình bày bìa, tranh Ðinh Cường, phụ lục bài phỏng vấn Khánh Trường của Nguyễn Mạnh Trinh, sách dày 230 trang, giá 14 MK. Tác phẩm gồm 8 truyện ngắn Khánh Trường mới viết trong vài năm gần đây: Vẫn còn khoảng trống trong bộ sưu tập, Những mảnh đạn, Mắt phượng, Chung cuộc, Thằng nhược tiểu, Những vòng tròn không đồng tâm, Tòa lâu đài cổ, Cồ Như tác giả trả lời Nguyễn Mạnh Trinh trong bài phỏng vấn in cuối sách, những truyện ngắn Khánh Trường là những cách phản kháng, bằng dục tính và chính trị.
Băng thơ Vi Khuê
do tác giả thực hiện với một số bạn thơ ở Việt Nam, Ðoàn Yên Linh giới thiệu; Thạch Cầm, Thúy Hạnh đàn tranh đàn bầu; Tô Kiều Ngân, Bảo Cường thổi sáo; Bùi Linh trình bày bìa. Giọng ngâm thơ của Bảo Cường, Hồng Vân, Thúy Vinh, Tô Kiều Ngân, Ðoàn Yên Linh, Huyền Trân, Mai Hiên, đa phần là những giọng ngâm nổi tiếng từ chương trình Tiếng thơ Tao Ðàn trên Ðài phát thanh Sài gòn trước 1975. Mười sáu bài thơ tiêu biểu của thi nghiệp Vi Khuê trong băng thơ này là: Bài thơ xanh, Thiên đường nhỏ, Tôi ra thành phố biển, Vườn, hoa vào thu, Thạch bình thôn, Mai mốt tôi về, Trưa ở Virginia, Mà thương đến cả vệ đường hoa, Giọt lệ, Hoang vu, Chao ôi, Bà hàng xóm Mỹ, Buồn sa, Ôi tiếng gà trưa và bóng mẹ, Võng mẹ, Dâng áo lụa ngấ Một băng thơ thực hiện công phu.
Trích báo Văn Học số 135 tháng 7/1997
MÙA HÈ 72
Chiếc trực thăng bỏ lại quốc lộ 1 với những chấm xe cộ đang di chuyển ở phía dưới, vụt tách lên cao về phía tây, và quang cảnh bỗng dưng thay đổi hẳn... Mặc dù tiếng động cơ vẫn ồn ào, chàng tự nhiên cảm thấy có một sự im lặng đầy đe dọa. Tránh ánh nhìn tò mò của người xạ thủ đại liên, chàng đưa mắt lơ đãng ngó những mảng xanh, đỏ liên tiếp trải rộng phía trước mặt. Trời Quảng Trị nắng gắt và trong xanh. Thỉnh thoảng một cụm khói lan tỏa như nhắc nhở chàng vẫn còn có mặt của sự sống trong nỗi im lặng chàng vừa cảm thấy. Bất chợt, chàng ngẩn người nhìn những thay đổi ở phía dưới. Những hình tròn rải đều như những chiếc nón, hình ảnh thỉnh thoảng chàng bắt gặp ở sân một trường nữ... Phải một phút suy nghĩ, chàng mới nhận ra dấu vết của những bom trải thảm B.52 cho vùng oanh kích tự do. Và chàng ý thức ngay mình bắt đầu dự phần vào cuộc chiến, một cuộc chiến mà trước đó chàng chỉ được nghe và biết đến rất ơ thờ qua báo chí và phim ảnh. Bỗng chốc, chàng thấy thành phố vừa rời bỏ, thật sự cách biệt. Và ngay cả những người thân yêu của chàng nơi đó cũng trở nên xa vời, như chỉ còn những liên hệ thật mơ hồ... Lòng chàng bỗng có một chút gì bồi hồi cảm xúc, như thuở chàng nắm lấy tay mẹ, lần đầu tiên bước chân đến trường. Một chút dĩ vãng vút thật nhanh trong tâm trí chàng, và tim chàng bỗng hụt hẫng khi nghĩ đến mối tình vừa gẫy đổ... Trực thăng xuống thấp hơn, và chàng đã nhận ra những trảng tranh với những thân cây khô cháy. Chiếc máy bay đang lạng thân tầu với những vòng tròn hẹp dần. Tự nhiên một nỗi hồi hộp chen lẫn xúc động dâng lên. Viên hạ sĩ quan tiền trạm ghé miệng hét to bên tai chàng những lời chàng không nghe rõ. Giữa tiếng động cơ gầm thét mỗi lúc mỗi to, và gió ù ù bên tai, chàng gật đầu lia lịa cho anh ta vui lòng. Chàng nhớ lại khi ở bãi chờ "em gái hậu phương", anh ta đã ái ngại nhìn dáng thư sinh của chàng, miệng không ngớt lập lại những lời căn dặn - "Ông thầy nhớ hết sức tỉnh táo, pháo tụi nó chào mình liền đó. Chạy, chạy ngay từ lúc vừa nhẩy khỏi con tầu... Chạy thật xa bãi nghe ông thầy" - Mấy tiếng động ào ào, chàng vừa kịp nhìn thấy những kiện hàng lao vút xuống, đã thấy chàng như phản xạ, đang nhoài mình dậy, phóng chạy về phía những bụi cây, ở đó, lấp ló mấy chiếc nón "bo" nhẹ tênh, so với chiếc nón sắt đang tụt lên tụt xuống ở trên đầu chàng...
Người đàn anh trên chàng hai lớp, mỉm cười khi chàng đứng nghiêm chào trình diện - Thôi toa bầy vẽ làm chi, có chút gì tươi Sài gòn thì bỏ ra đãi moa với xấp nhỏ... Chút xíu nữa moa đưa toa đi giới thiệu với bộ chỉ huy. Phúc đâu, cất đồ cho ông thầy mày - Và anh T. đã giới thiệu chàng với một đám đệ tử rất ngầu qua một buổi nhậu dã chiến nhanh gọn, trước khi rù rì to nhỏ với chàng hết cả chuyện trong nhà ngoài ngõ. đêm đó, những người anh em phía bên kia cũng cho chàng thêm kỷ niệm để ghi nhớ ngày đầu hành quân. Nửa đêm, bỗng cối ròn rã phủ ngọn đồi. Mỗi lúc tạm ngưng, chàng nghe rõ những hồi kèn xung trận, xen với những tiếng hô văng vẳng nhỏ to theo gió. Ngụy dù, ngụy dù! Hàng sống! Chống chết! Ngụy dù, hàng sống, chống chết! Chàng yên lặng ngồi hút thuốc trong chiếc hố cá nhân, bên cạnh anh T. đang lẩm bẩm chửi thề, hàng cái con mẹ mày. Chàng ngẩng đầu nhìn lên trên, một khoảng trời đen thấp thỉnh thoảng xỉn lên trong ánh châu. Tiếng một viên sĩ quan đang điều động la hét - đ.m mày, ngóc cái đầu lên. Chúi xuống bắn ông cố nội mày à! - Sau này, chàng mới biết và quen với đại úy G., còn gọi là Trư bát Giới, một tay điêu khắc không hề xuất thân từ một trường mỹ thuật nào, nhưng đã sáng tạo nên biết bao đời sống cho những khúc cây, những tảng đá, khiến chúng nhiều khi còn sống dai hơn cả kiếp người, vốn dĩ rất mong manh trong thời chiến... Mùa hè 72, còn được biết đến như là mùa hè đỏ lửa, đã bắt đầu với chàng như thế đó. Và rất tự nhiên chàng hội nhập với đời sống mới, theo chân Tiểu đoàn 2 Dù thúc sâu về phía tây Trường Sơn trong chiến dịch giải tỏa Quảng Trị, mở đầu với trận đánh chiếm đồi Trường Phước...
Khi tên đệ tử mới rụt rè, ông thầy, trển tiểu đoàn xin ám danh mới của ông thầy, chàng đã ngẩn người ra. Thì ra, ngoài tên trên khai sinh, M., ngoài tên thường gọi ở nhà, và ngoài những biệt danh cũng như hỗn danh âu yếm từ bạn bè cùng lớp, cùng trường, cũng như trong giới giang hồ nhí, nay chàng lại phải tự mình đẻ ra thêm một cái tên cho ám danh đàm thoại... Cặp mắt ướt đa tình, đôi môi đỏ chu son của người con gái trường luật đã đi qua đời chàng, thoáng hiện ra. Và từ đó, cả tiểu đoàn, kể cả những tên đệ tử trời đánh của chàng, đều tủm tỉm cười mỗi khi nói chuyện với chàng. đằng sau nụ cười, là một vẻ ranh mãnh, tẩm ngẩm làm như biết rõ chàng đang hạnh phúc với một cô con gái nào đó có tên gọi là H.Y. Còn chàng, thì cũng vờ vĩnh cười nhẹ như ngấm ngầm xác nhận những dự đoán của người đối diện. Chỉ đến khi, trong một cơn say ngất trời ngày chàng nhận được thiệp của H.Y. với hàng chữ nhỏ và đều, thế nào anh cũng phải về để mừng cho Y., chàng mới thực sự phá vỡ hết những tưởng tượng của đám đệ tử chàng. Cả bọn vừa tiu nghỉu, vừa có chút hờn giận, làm như chính chúng thất tình cô H.Y. nào đó chứ không phải là chàng. Chúng giận cô H.Y. kia có mắt không ngươi, nỡ phụ bạc ông thầy của chúng. đêm đó, các đệ tử chàng đã thi nhau ca sáu câu tình lỡ mùi tận mạng để an ủi chàng. Và khi men rượu lên cao ngất, có đứa đã xin chàng vài ngày phép để về thành đô thế thiên hành đạo, làm chàng rất ngượng nghịu trong một nỗi cảm động rất cải lương... Và Tư, tên đệ tử có ngón guitare điêu luyện, ngày hôm sau đã lẳng lặng lên ban truyền tin tiểu đoàn, tự động xin đổi ám danh chàng thành tên của chúa những loài chim, như để dè bỉu cái tên của loài chim phụ bạc mà một thời Tư nhất định với chàng là cái tên của loài chim dễ thương nhất em được nghe! Thật sự, khi nhận được thiệp từ tay người lính tăng cường hành quân, chàng đã hết sức ngẩn ngơ, dù rằng chàng đã đoán trước cũng như đã chờ đợi ngày này. Chàng đoán trước và chờ đợi ngay từ hôm chàng còn nén được lòng mình, để kết thúc câu chuyện với người đàn ông, ba của H.Y., khi ông ta sẵng giọng cùng chàng, "Tôi không cãi lý với cậu, tôi không bằng lòng gả con gái tôi cho cậu, thế thôi. Cậu là người có học, tôi mong cậu đừng quấy rầy con gái tôi... " - "Ông yên tâm, từ nay không bao giờ tôi đặt chân lại căn nhà này nữa " - Và chàng chỉ còn kịp chào mẹ H.Y., đứng chờ sẵn chàng nơi cửa ngoài, hấp tấp rời bỏ căn nhà... Người đàn bà đẹp phúc hậu, hết sức dễ thương và dịu dàng với chàng từ những lần gặp gỡ đầu, đã cố cầm giữ chàng lại. "H.Y. rất thương cháu... đợi em về đã... Bác trai chỉ nóng vậy thôi...". Một chút tủi thân lẫn hờn giận trong lòng... Chàng dạ nhỏ, chân vẫn bước... Căn phòng trực sinh viên vắng tanh, và chàng đã một mình chờ giao thừa trong muôn nỗi cay đắng của dư vị cuộc tình. Hình như đêm ấy, chàng đã có ứa chút nước mắt, những giọt nước mắt đầu tiên của đời con trai... Chàng biết, chàng thuở ấy rất thương yêu H.Y., nhưng tuổi trẻ cương ngạnh và nhiều tự ái đã làm chàng phụ nàng, đã không cho chàng giữ được lời hứa với nàng... Thế nào anh cũng phải về để mừng cho Y., nghe như có giọng nũng nịu của nàng ở đâu đây, như đôi mắt nàng đang liếc và cười cùng chàng. Và chàng đã ngớ ngẩn định lên hỏi tiểu đoàn phương tiện để trở về dự đám cưới người yêu cũ đi lấy chồng... Chỉ khi chàng sực tỉnh, với sự nhắc nhở của cả đệ tử ruột lẫn một người bạn thân, chàng mới "hào sảng" uống thấm hết những cay đắng của vị rượu bách nhật dã chiến, gửi mua tận ngoài Phong điền... Sau này, thỉnh thoảng nhớ lại, chàng vẫn tự hỏi, giá như có một cơn say trong tiệc cưới H.Y., cơn say nào sẽ ở trong trí chàng lâu hơn, cũng như cơn say nào sẽ ngất trời hơn?
Chàng hài lòng nhìn vết thương của người lính được di tản về, đang nhe răng cười với chàng. Thật không uổng công dậy dỗ, dù rằng cả chàng lẫn những đệ tử mới đều không có đủ thì giờ để học lẫn nhau. Chàng còn nhớ, khi nhận được công điện của tiểu đoàn cơ hữu cho biết yêu cầu bổ xung quân số mà chàng gửi về gần như hàng ngày được thỏa mãn, cả cái ban còn vỏn vẹn chưa đến chục mống cho cả một tiểu đoàn trải mỏng đều hân hoan ra mặt. Hiện tại, mỗi đại đội chỉ có đúng một con cái chàng, và bên mình chàng không bao giờ quá bốn mạng... Toán tân binh được đón chào nồng nhiệt, còn thơm phức mùi thành phố... Sau khi kiểm tra sơ, chàng chỉ còn biết vò đầu bứt tai kêu trời. Các đệ tử mới của chàng mỗi người mỗi vẻ, nhưng giống nhau ở một điều, ngoài khóa huấn luyện quân sự, cũng như bằng dù, chẳng tay nào có qua một ngày chuyên môn ngoại trừ thời gian được lăng xăng ở nhà bếp hay canh gác vòng ngoài bệnh viện trong khi chờ đợi bổ xung... Khi chàng gọi máy phản đối với người đàn anh thì chỉ được nghe tiếng cười hì hì và sự vỗ về - "Thôi toa, có người là tốt rồi, đào đâu ra cái quý hiếm toa đòi hỏi... Chỗ toa còn mấy thằng cũ là may đấy, mấy chỗ khác mới toanh cả!" - Thôi thì, cái triết lý chàng học được thuở còn đi học một lần nữa lại an ủi chàng... Nếu có một trái chanh, đừng ngồi đó mà than chua với đắng. Hãy đi tìm một chút đường, để sẽ uống ly chanh đường, uống môi em ngọt... Nếu không tìm được đường thì sao? Ơ kìa, ngay khi đi tìm đường là đã có mơ mộng ly chanh đường rồi, và như thế đã chẳng là quá đủ để lãng quên đời, phải không? Thế là chàng lại lên máy năn nỉ mấy thằng con đang lội, rán kiên nhẫn thêm một chút xíu nữa thôi... Và một lớp học cấp tốc mười ngày được mở ra cho một hỗn tạp từ kẻ đã rời lớp ba đến tên khá nhất vừa rớt tú tài một. Và bây giờ chàng đang hãnh diện với những thành quả chàng đã ươm. Những vết thương thật sạch với những đường băng vừa khéo, vừa đẹp, cũng như những phiếu điều trị đúng qui cách đã làm chàng hết sức hứng khởi để tiếp tục những lớp sau này, ngay cả thời gian chàng bị đầy đi T.N.X.P. khi vừa được thả ra khỏi trại cải tạo... Chàng khám kỹ vết thương một lần nữa, rồi nhìn thẳng vào mắt của người lính, chậm rãi: "Không sao đâu, ở lại đây vài ngày là xong...". Ánh mắt người lính bỗng thoáng khựng lại, và chàng hạ giọng - "Mặt trận đang nặng, anh em cần mày. Chữa xong, ra ra Huế chơi bốn mươi tám tiếng dãn gân cốt rồi vào lại với tụi nó". Phải ở nhẩy dù mới thông cảm những người lính dù. đa số những người gia nhập binh chủng đều sinh sống ở Sài gòn và những vùng phụ cận. Nhẩy dù, ngoài sự quyến rũ của mầu mũ và áo saut trận, còn là những quyến rũ của ánh sáng thành phố mỗi lần kéo quân về. Và mỗi chiến thương mặc nhiên như là những phiếu di tản nghỉ phép đặc biệt. Bởi thế, người lính trước mặt chàng đã theo đúng "truyền thống", chia hết thuốc hút, lương khô cho những người còn lại, ba lô trống rỗng, và hồn thì đầy ắp Sài gòn... Sáng hôm đó, chàng đã giữ lại hai người, có thể vì chàng nhiều nhiệt tình, cũng có thể vì chàng muốn có thêm cơ hội chỉ dẫn cho những đệ tử. Và buổi trưa, chàng vui vẻ báo với người tiểu đoàn trưởng tác chiến. "Có hai thương binh tôi giữ lại điều trị, xin trung tá chỉ thị cấp cho họ lương thực". Viên trung tá im lặng. Một ngày trôi qua... Trưa hôm sau, đi vòng quanh tuyến đóng quân, chàng thấy hai người lính đang hòa ca chung với đám đệ tử, vui miệng chàng hỏi: "Sao, tiểu đoàn đã cấp phát gì chưa?" - "Dạ, hạ sĩ T. nói tụi em rán chờ chuyến tiếp tế tới...". Tự nhiên chàng thấy bực mình khi những kẻ chốn an vui luôn luôn làm khó dễ người địa đầu. Buổi chiều giao ban, chàng hỏi thẳng người tiểu đoàn trưởng. "Lương thực có suất của nó. Những đứa này đã lãnh tiếp tế đầy đủ ở đại đội, bây giờ lấy đâu ra mà phát nữa... ". Bỗng nhiên một cơn giận bùng lên. Chàng nhìn thẳng mắt người chỉ huy, rõ từng tiếng: "Trung tá, trung tá biết tụi nó đánh nhau cho ai hưởng không? Trung tá đối xử với tụi nó sao cho những thằng còn mạnh nhìn thấy để khi hô tiến tụi nó còn dám tiến... ". - "Ơ, cái ông này hay nhỉ... ". Chàng không nghe dứt câu, quày quả trở về hầm mình. Một nỗi phiền muộn vô cớ dậy trong lòng chàng. Mới có hai tháng hành quân, giữa chàng và người chỉ huy đơn vị chàng tăng phái đã có nhiều điều không thuận, bắt đầu từ hai lần chàng yêu cầu hủy bỏ tiếp tế vì đồ tươi bị mốc... Ban hỏa thực nhìn chàng e dè mỗi lần chàng ra bãi. Chàng đã đụng đến những quyền lợi thiết thân của người nhiều quyền lực nhất đơn vị. Từ đó, những chuyện vặt vãnh cứ xẩy ra, và thường thì kẻ yếu thế bị chèn ép. Chàng nhớ lại lời của người đàn anh đêm còn nằm tại Huế. Có hai đường tùy toa lựa chọn, một là toa đi hẳn với tiểu đoàn trưởng, toa sẽ có đủ hết, phép, huy chương, thăng thưởng... , nhưng cả tiểu đoàn còn lại sẽ né toa; hai là toa đứng hẳn về phía mọi người, cả tiểu đoàn sẽ thương toa, ngoại trừ tiểu đoàn trưởng, và toa sẽ rời tiểu đoàn trắng tay... Có đường thứ ba nữa, nhưng nhìn là biết toa không làm nổi đâu, đó là toa đi được ở giữa, bình bình làm việc... Thôi, cầu cho toa gặp một tay khá là hơn cả. Bên tác chiến cũng có nhiều tay khá lắm... Chàng đã chẳng gặp được tay khá như lời chúc, và chàng đã chọn lựa. Sau này chưa bao giờ chàng cảm thấy hối hận về sự chọn lựa của mình... Sáng hôm sau, trong lúc chàng đang ngồi khám cho một đợt khác, có tiếng huyên náo bên ngoài. Chàng vừa bước ra đã nhìn thấy người tiểu đoàn trưởng, áo thun trắng, quần soọt ngụy trang, đầu đội nón bo, tay chống cây can bằng mây bóng nước, đang hầm hầm hò hét, "đâu, thằng nào mới về nói lếu láo gì để ông H.Y. lên mắng vốn tao ra đây coi ..." Hai người thương binh còn rụt rè, ấp úng, chàng đã nghe tiếp... "Tại sao tao đã phát tụi bay không giữ để ông ấy hiểu lầm tao, hả, hả, hả...". Cùng với những tiếng dằn giọng, cây can vung lên, đông tây. Hai người lính bị thương vừa khập khiễng lò cò, vừa giơ hai tay ôm đầu né tránh, chịu đựng... Có thể những đòn chỉ để thị uy, không đau, nhưng chàng bỗng thấy nghẹn họng. Cơn giận bất ngờ ập tới. Thoắt một cái, chàng đã thấy tay mình giữ chặt đầu can, tay kia nắm lấy tay người tiểu đoàn trưởng... "Tôi yêu cầu trung tá dừng ngay hành động vũ phu này lại". Viên tiểu đoàn trưởng trừng mắt nhìn chàng. Mắt hai người dán chặt vào nhau. Chàng nghe qua kẽ rít: "Cái ông này hay nhỉ, cứ xía mãi vào chuyện của tôi, bây giờ lại không cho tôi dậy bảo lính tôi nữa sao?" - "Trung tá lầm rồi, lính mạnh khỏe là lính của trung tá. Tụi nó bị thương, tôi đang điều trị, tạm thời đang là lính của tôi". Hai người nhìn nhau. Những lẩm bẩm không rõ. Chàng buông tay. Người tiểu đoàn trưởng quăng mạnh chiếc can mây về phía hàng rào kẽm gai, hậm hực bỏ đi... Cơn giận trong chàng cũng tiêu tan, nhưng nỗi phiền muộn vẫn thấp thoáng. Buổi trưa, chàng từ chối thông lệ lên dùng cơm chung với bộ chỉ huy T.đ., gồm trưởng, phó, ban ba và cố vấn Mỹ tăng phái. Buổi chiều, tiếng tiểu đoàn phó nói chuyện qua điện thoại dã chiến, thôi ông M., lên dùng cơm lại với tụi này. Chàng từ chối. Tiếng ông N. nài nỉ, thôi mà, chuyện gì từ từ tính, lên với tụi này đi, hơi đâu mà hờn giận... Có tiếng cười khúc khích của tiểu đoàn trưởng đang nghe paralell, bỗng dưng chàng thấy cơn giận bùng lên, chàng gằn rõ từng tiếng cho người đang nghe chung, xin lỗi thiếu tá vậy, tính tôi kỳ cục lắm, khinh ai là không thể ngồi chung bàn được... Chàng nghe tiếng máy dằn xuống khô khan, và tiếng thở dài khác của N... Thôi, ông nóng tính quá. để lúc khác vậy ... Và chàng vẫn còn thấy chân tay đang run rẩy nỗi giận, không hay rằng mình vừa nói điều quá nặng với người uy quyền nhất của đơn vị. Sự việc xẩy ra ngay sáng sớm hôm sau chút nữa đã lấy đi mạng sống của chàng như để chứng tỏ quyền uy cũng như vuốt ve chút tự ái của kẻ quyền thế...
Khi trái lựu đạn nổ tung trong hầm, chỉ khoảng hai tháng sau ngày đầu hành quân, chàng đã ra lệnh hậu cứ tuyệt đối giữ im lặng để khỏi mang thêm lo âu cho ba mẹ chàng. Chính lúc ấy, bỗng nhiên chàng nhận được sự nhắn hỏi nhiều lo lắng của H.Y. Tình chàng tưởng đã quên đi, bỗng thức dậy, vì chàng đã nhìn thấy H.Y. cũng đang rõi theo bóng chàng như thuở ấy chàng vẫn dấu kín nỗi nhớ nàng. Chàng cảm động đã muốn nối lại sợi dây liên lạc cùng H.Y., nhưng hình ảnh người đàn ông hãnh tiến, độc đoán và kiêu ngạo đã làm chàng ghê sợ. Khi khinh ai tôi không thể ngồi chung bàn, câu nói ấy chút nữa đã giết chàng ngoài hành quân. Cũng câu nói tương tự như thế, đã kết thúc cuộc tình chàng nửa năm trước, khiến chàng mang mãi nỗi oan khiên, thất tình nên đi nhẩy dù!
Mnguyen