vhnt, số 310
3 July 1997
Trong số này:
thư vhnt..................................................................PCL
T h ơ:
1 - Phố khuya.................................................Ðinh Văn An
2 - Ðêm rơi. Ngoài ký ức. Tôi...............Nguyễn Hiện Nghiệp
3 - Trở lại..................................................Hữu Nguyên
4 - Ðèn đỏ...............................................Ðinh Yên Thảo
5 - Yêu dấu tan theo.............................................Hoài Yuk
6 - Vần thơ không thể khác......................Nguyễn Ðăng Tuấn
7 - Trạm xe bus / Người và máy.........................Phạm Văn Tiên
8 - Khúc tháng sáu...........................................Hoàng Vi Kha
9 - Một kiếp hai đời........................................Hàn Trân
D i ễ n Ð à n V ă n H ọ c:
10 - Mùa chuột ở đồng quê.........................Lương Thư Trung
T r u y ện N g ắn / S án g T ác
11 - Ðối thoại cho vui.........................................Hoàng Vỹ
12 - Quán, nắng chiều.............................Nguyễn Xuân Thiệp
Xin gửi đến bạn đọc nội dung kỳ này với những sáng tác đặc sắc. Số này gồm thơ của những người viết nam (vhnt số 309 kỳ trước gồm những người viết nữ), bài viết về đồng quê của Lương Thư Trung, và 2 truyện ngắn sắc nét của Hoàng Vỹ và Nguyễn Xuân Thiệp.
Chúc bạn đọc một cuối tuần nghỉ lễ Ðộc Lập thật vui, an nhàn và thoải mái.
thân ái,
PCL/vhnt
Phố Khuya
Em chẳng đến để bình minh chợt sáng
Anh khẽ khàng đếm từng giọt thời gian
Góc phố nhỏ đèn võ vàng góc quán
Anh lang thang tìm nhặt giọt trăng vàng
Chỉ còn anh với nỗi nhớ mênh mang
Gọi tên em giữa không gian thầm lặng
Ðốm lửa lòng phập phùng trong đêm vắng
Dãy phố dài ôm nỗi nhớ không tên
Anh nguyện cầu cho em mãi đừng quên
Kỷ niệm mình đừng mờ theo năm tháng
Gửi tiếng lòng về em cùng sương trắng
Chẳng kịp rồi, ngọn gió đã bay đi
Ðêm nghẹn ngào cùng đôi lứa chia ly
Sương từng giọt đọng đọng ngàn thương nhớ
Anh vẫn chờ với đèn đường cháy đỏ
Chỉ còn đêm hoang vắng tựa thiên đường.
Osaka 29/6/1997
Ðinh Văn An
đêm rơi. ngoài ký ức. tôi.
nhớ Văn Cao và Phùng Quán
chiều
ta hái nụ hoàng hôn,
uớp hương dạ tưởng
vào ngôn tứ
trầm.
dạo,
gầy hao phím
tương cầm. rót,
khơi men nhạc
hư âm
võ vàng.
yêu thương rụng lên
héo tàn năm tháng,
triền thác
reo niềm hạn hán chùng
tuôn.
một con sông khóc,
cạn nguồn,
ba trăm sáu chục giọt buồn
mưa.
quanh.
em,
cành bất hạnh tươi
xanh màu oan trái. rễ, tim ta,
niềm tê tái lan sâu.
dưới chồi lộc biếc thương đau
con tằm cuộn
kén ưu sầu,
mộng
say.
ta chiu chắt hơi thở
ngày tắt nắng
nhánh hoang vu đời
bất trắc trổ gai
từ em gót lụy trần ai,
ta lên đỉnh nhớ, ngủ
dài
giấc quên.
đêm. ký ức
vọng lên lời em
hát.
dĩ vãng sang mùa, thơm
ngát hương
đau.
trăm năm,
một khắc tìm nhau,
có là âm vọng
ban đầu?
ngàn sau?
nguyễn hiện nghiệp
Trở lại
Trở lại tìm ta tự thuở nào
Khi trời bát ngát ánh trăng sao
Khi mây mấy nẻo chưa vần vũ
Mặt nước còn yên, sóng chửa xao.
Trả lại hồn ta niềm giản dị
Tình qua thôi động, ý thôi chao.
Hương đêm man mác vần thơ cũ
Lặng lẽ ngồi nghe lá xạc xào.
Hữu Nguyên
Ðèn đỏ
Ðường đến nhà em hơn mười cây số,
Qua tám ngã tư, một lố ổ gặ
Ðường xa, em chẳng thương giùm, lại chớ
Bật đỏ đèn, rồi hờ hững... vu vơ
Nếu không thương, em cũng bật đèn vàng,
Cỏ hoa còn thấy được chút xuân sang
Ðường cuộc đời, còn khi xanh khi đỏ
Ðường duyên tình, đèn đỏ thấy... buồn xo
"Ba đồng một mớ... liền ông "
Trả thêm ít nữa, cho sông liền bờ,
(Anh thời chín dại mười khờ,
Muốn yêu, (chứ) nào muốn...so đo dăm tiền).
Ðinh Yên Thảo
Yêu Dấu Tan Theo
Ừ thôi em về đi
Kẻo hết mùa nắng vội
Yêu dấu nhớ mang theo
Ðể dành ngày lận đận
Chim chiều bay qua phố
Không tính ngày ở đậu
Tôi chợt tỉnh cơn mê
Hóa ra đời vẫn thế
Cơn mưa sớm mùa hạ
Bay về bên phố cũ
Xóa vội vết chân xưa
Cho người bỏ tôi đi
Tôi cũng về phố lạ
Ðã quên ngày tháng cũ
Không điều gì để nhớ
Ai vừa bỏ tôi đi
Mai sau đời nắng tắt
Ðừng phụ rẫy tình yêu
Không còn ai phố cũ
Yêu dấu đã tan theo
Hoài Yuk
VẦN THƠ KHÔNG THỂ KHÁC
con sóng nào tàn tạ
như người đi người đi
tôi hương đời chưa nhạt
sầu riêng sầu riêng tôi
em như cành gai sắc
cứa nát hồn nhân gian
tôi lỡ thời không thể
nuốt trọn vòng oan khiên
có gió nào thoảng lại
tình nhân, gian tôi ngừng
ôi hơi hướm nào lạ
có nhút dòng mây thưa
thừa thãi tôi là một
bon xen chút mỏng thời
em này dao buốt nhọn
suốt tim người gian nan
còn vòng tay oan nghiệt
thả nhớ đời chưa xa
tôi hồn gầy găng gượng
nối đời tăm mất tăm
tôi như đời khánh kiệt
em như dòng thiết tha
thả xuống tôi thua thiệt
như sông núi quê nhà
nguyễn đăng tuấn
Trạm Xe Bus
Tiễn đưa người
Bến xe còn mỗi mình tôi
Thẫn thờ
Người Và Máy
Xịch cái xịch là rớt đánh
Bịch
Xịch cái xịch là rớt đánh
Bịch
Chà
Chưa đầy một phút mà ra hàng tá
Cái long đền nhựa bé
Cứng ghê
Tay đua tay
Ðua vặt với máy
Tháng ngày trôi
Biết thứ mấy đâu
Có nghe tiếng máy
Hỏi nhau
Vờ câm
Giả điếc
Cắm đầu làm
Xong
Phạm Văn Tiên
Khúc Tháng Sáu
Mười năm, tháng sáu vẫn mưa
Mười năm, tình cũ vẫn chưa phai nhòa
Thiên thu còn một bóng hoa
Cửu trùng còn đọng âm ba giọt buồn
Nẻo xa, xa khuất cội nguồn
Trần gian còn một vở tuồng dở dang
Sương mù như áo, như tang
tựa như màu mắt của nàng năm xưa
Năm xưa tháng sáu trời mưa,
lá vàng rụng xuống khóc đưa tiễn nàng
Năm xưa tháng sáu bàng hoàng
có tôi gục chết bên hàng cây khô
Ðại dương sóng vẫn nhấp nhô
Mười năm, tháng sáu vẫn cô liêu nhiều
Làm sao định nghĩa tình yêu?
Làm sao sửa đổi những điều khổ đau?
Mười năm tình chẳng hư hao
Mười năm biển vẫn rạt rào thủy chung!
Trong mơ đôi lúc tương phùng
khi cười, khi khóc, khi cùng lặng im
Mười năm, vẫn một nhịp tim
Vòng tay ôm lấy loài chim uyên buồn
Tháng sáu trời nhạt mưa tuôn
Hồn thơ se lại! Ðiên cuồng nhớ thương.
Mù mờ một dãy sông Tương
Ðường nào về chốn vô thường nàng ơi?
Nhớ nàng tháng sáu mưa rơi
Yêu nàng tháng sáu bời bời giăng mưa
Tôi buồn hát khúc ca xưa
Mưa bao nhiêu hạt cho vừa tình ta
Hoàng Vi Kha
Một Kiếp Hai Ðời
Mặt trời từ giã buổi heo may
Kinh kệ vang vang tiếng gót giày
Vết hồng loang lở đời như cháy
Mọc cánh hoang vu dĩ vãng bay
Chiều ru tuổi bạc xứ lạ lùng
Da thịt hong vàng một chân dung
Rừng đầy hoang thú tên lạc thổ
Thơ thẩn xa đường bụi nhớ nhung
Tiền kiếp bến xưa một con thuyền
Quên lần cháo lú nhớ đảo điên
Kiếp này ngủ xác xa một biển
Giữa đám lau già dây tóc tiên
Hiện kiếp nhân sinh dửng dưng đời
Câu chào xa lắc, lạt lơi lơi
Bên này, bên đó, bên nào nữa
Trùng lai nhân bản rượu xa vời
Duỗi cánh da nhăn ngày cũng tàn
Nửa vùng đất lạ vẫn lang thang
Cuối đường lạc lõng mồ bia đá
Xương trắng cùng màu nhỏ hay dang
Nắng thủng vài đóm cuối chân trời
Mặt vàng bóng tối ập vào ngôi
Con đường kiếp lạ chân hờn dỗi
Một kiếp hai đời xác nổi trôi
Hàn Trân
MÙA CHUỘT Ở ÐỒNG QUÊ
Chim, gà, cá, lợn, cành cau,
Mùa nào thức ấy, giữ màu nhà quê
(ca dao)
Nói đến thôn quê miền Nam, mà không nói đến mùa chuột đồng là một điều thiếu sót. Bởi lẽ rất giản dị, có ruộng lúa, có cỏ lác là có chuột đồng. Sự sanh sôi của chuột đồng tỷ lệ thuâ.n với sự um tùm hoang dã của cỏ lác, của diện tích đất đai chưa khai mở. Ðến khi ruộng đồng được người nông dân cày, bừa, sạ, cấy với những giống lúa mùa ngập trời, những cánh đồng lúa "cò bay thẳng cánh" dường như chuột đồng cũng tiếp tục sanh sôi, khó mà diệt hết được. Nhiều lúc loài vật bé nhỏ, tinh khôn này trở thành mối lo ngại đến mất ăn, mất ngủ của những người suốt đờ i sống chết với ruộng đồng, với lúa thóc, với mùa màng.
Chuột, thật ra, ai cũng biết rồi. Giải thích điều này, đôi lúc thừa chăng? Tuy nhiên, tìm hiểu về mùa chuột đồng, tìm hiểu về cách thức đào chuột, bắt chuột cùng những món ăn làm bằng th ịt chuột... để thấy được phần nào nét đặc trưng cùng sinh thái của vùng đồng quê miền lục tỉnh, mà tổ tiên chúng ta đã đến đây cách nay hơn hai trăm bốn chục năm với một vùng đất được coi là trù phú nhất này.
Ở vùng châu thổ sông Cửu long, mùa mưa tháng ba, tháng tư âm lịch đồng nghĩa với mùa chuột đồng. Vào mùa này tại khắp các chợ làng, chợ quận, các bạn đi đến đâu cũng thấy người ta bán thịt chuột làm sẵn, hoặc những lồng dây chì đựng đầy những con chuột đồng mập ú với bộ lông màu ngà ngà vàng, bụng trắng phau, kêu chí chóe, cắn lộn, rượt đuổi nhau với mùi nước đái chuột hôi ho ^i. Có những xề chuột làm sẵn, những lồng chuột còn sống như vậy, thật ra, cũng không phải dễ dàng gì.
Chuột đồng sanh sản nhanh, mà lớn cũng nhanh. Dường như những ngày nắng là những ngày chuột đẻ. Chúng thường đẻ trong những hang làm dưới đất ruộng. Vì chuột là loài có vú, nên chúng nuôi co n bằng vú mẹ . Có thể hôm nay đi bắt chuột gặp một loạt chuột còn nhỏ, cách tuần lễ sau, trở lại cánh đồng này đào những hang chuột mới đùn hoặc gài rập, chúng ta được những con chuột lớn bằn g nửa cổ tay, gọi là chuột lứa. Tức là chuột mới lớn, không còn nhỏ, mà cũng chưa lớn hẳn. Ở nhà quê người ta hay dùng chữ " lứa " để chỉ môt vài loài vật nuôi trong nhà như vậy. Thí dụ heo " lư 'a " là heo vào khoảng vài chục ký đến ba, bốn chục ký trở lại. Ngoài ra, xin mở ở đây một dấu ngoặc, chữ " lứa " còn dùng để chỉ chung chung những rẫy bái, hoa màu, cây trái được gieo trồng đơm bông kết nụ cùng một lượt.
Chuột đồng nói chung là như vậy, nhưng có nhiều loại. Chẳng hạn, chuột cơm với lông bụng trắng phau, con lớn nhất bằng cùm tay, con nhỏ nhất bằng ngón chân cái. Loại chuột này chiếm phần lớn, sống trên đồng, rãi rác khắp nơi, nhưng nhiều nhất theo bờ kinh, bờ đìa, giồng ranh, những nơi cỏ lác rậm rạp. Vào mua nước ngập lụt, chúng cắn lúa gom lại làm ổ rải rác trong lúa. Nếu những miến g ruộng cặp mé vườn, dịp này chuột cơm tràn vào vườn, trú ẩn trên các bụi tre, trong những vườn dừa, vườn cau, vườn chuối. Lúc bấy giờ chuột đồng này có cái tên mới là chuột vườn.
Còn một loại chuột cũng ở đồng nữa, nhưng lớn con, có khi bằng bắp chân, có lông thưa và hơi cứng, mỗi lần bị người nông dân đào bắt được, nó có tiếng kêu đăc biệt, không chí choé, tí tục như chuột cơm, mà khì khì cùng với bộ lông sù lên, được mọi người gọi là chuột cống nhum hay chuột cống sù. Loại chuột này thường ở những bờ đìa, bờ kinh, bờ trồng khoai mì, trên liếp trồng khóm, ít ở trên đồng trống như chuột cơm.
Có một loài nữa, xin kể luôn ra đây dù cũng giống như chuột, nhưng nhỏ con. Con lớn nhất bằng ngón chân cái, ít ai băt để ăn thịt, chỉ bắt để đừng sanh sôi phá hại lúa thóc, được gọi là co n bọ. Hình dáng giống như chuột lắt trong nhà.
Về đời sống, tùy theo mỗi môi trường như vậy, mỗi loài chuột đồng có những thức ăn tùy theo mùa màng. Ở đồng vào mùa nắng, chưa có cỏ non, mạ non, chuột đồng thường ăn cua, ăn ốc. Ðă.c biệt chuột cống nhum luôn luôn ăn cua, ốc, đôi khi còn ăn khoai lang, khoai mì. Ðến khi mùa mưa, có lúa giống gieo sạ đầy đồng, chuột đồng tha hồ làm tiệc làm tùng, tung hoành một cõi. Ðến mùa nước lụt, chuột lại ăn những đọt lúa có chữa, có đòng đòng, hoặc cua, ốc trên rong, trên lúa. Nếu những đàn chuột nào dạt vô vườn thành chuột vườn thì mùa nào thức nấy với những món ngon vật lạ na `o xoài chín cây, mận, nhản, vú sữa, mẵng cầu, chuối chín bói, cả cau non, và đặc biệt chuột vườn thích nhất là dừa tươi còn non. Những chủ vườn dừa, nhất là miệt Bến Tre, rất khổ tâm phải ứng phó với sự phá hại của loại chuột vườn này. Người làm vuờn phải thường xuyên dọn dẹp lá ủ, gài bẩy, gài rập để bắt chuột. Có nhiều nơi còn lấy những tấm thiếc dài khoảng năm tấc tây, quấn chung quanh thân dừa, ở khoảng giữa cây, cho trơn để chuột đừng bò lên ngọn dừa.
Nhớ thuở nhỏ, lúc còn tản cư Tây, lưu lạc về quê ngoại ở miệt Ðịnh Mỹ, tôi luôn luôn theo Tía tôi cầm giỏ, Tía tôi đi trước với cái suổng trên vai đi về hướng đìa Bèo, chòm Chòi Mòi đào chuột vào mùa mưa tháng tư. Thường thường có con chó mực chạy phía trước để đánh hơi. Chuột thường làm hang theo giồng ranh, bờ đìa, nhưng đôi lúc cũng ở hang cua. Do đó, không phải gặp hang nào cũ ng đào. Vì đào như vậy sẽ tốn sức nhiều, mà nhiều hang không có chuột. Ðể chắc ăn, đỡ tốn công, tôi thấy Tía tôi chỉ đào những hang chuột nào mới đùn, nghĩa là chuột mới bươi đất mang từ tr ong hang đem ra miệng hang, những viên đất ướt còn mới ràng ràng. Hoặc những hang chuột dù cũ, hay hang cua mà con chó mực của tôi đánh hơi khịt khịt hoài, nó cứ ngoắt ngoắt đuôi không chịu đi, là chắc chắn có chuột, không nhiều thì ít. Ít khi nào là không có.
Khi đã có ý muốn đào một hang chuột nào, việc làm trước tiên mà tôi thường phụ Tía tôi là nhém các lỗ ngách. Vì loài chuột là loài tinh khôn, khi đời sống ở hang có nghĩa là đời sống chui rút, ăn sâu dưới đất. Vì bản năng sinh tồn, loài chuột sợ những sinh vật khác ăn thịt nó, nên khi làm hang, chúng thường làm hai ba ngách phụ để có đường chạy thoát khi bị ví bắt. Sau đó, từ từ đào theo hang có sẵn và lúc nào cũng nên cẩn trọng coi chừng rắn hoặc chuột nghe động tỉnh, liều mình chạy thoát ra ngay chỗ miệng hang mà mình đang đào. Có nhiều con chuột ở hang cua, đào rất mệt vì han g cua thường thẳng đứng, rất khó đào. Thông thường, những hang chuột mà do chuột làm hang, đào đễ dàng, không trở ngại vì hang thường nằm theo chiều ngang và chuột ở cũng nhiều hơn. Có một lần, sau những ngày mưa lớn, hang ổ bị ngập nước, chuột mẹ, chuột con, chuột lứa tràn lên những vùng đất gò ở đìa Chòi Mòi. Tôi thấy Tía tôi đi chung quanh bờ đìa, nhìn trước ngó sau với một bờ đìa đ ầy hang chuột. Sau cùng, Tía tôi chọn được một hang bên ngoài miệng hang có ít đất mới, vài vỏ ốc, vỏ cua. Tôi lấy những cục đất cày nhém các lỗ ngách. Tía tôi mới bắt đầu đào vài ba suổng len là đã thấy chuột ló đuôi. Rồi Tía tôi cứ lần lượt tay mặt nắm đuôi, tay trái giữ nhẹ cái đầu chuột, rồi lấy cái nỏ bẻ răng, bỏ vào giỏ và lú c nào cái suổng cũng chận ở miệng hang đề phòng chuột còn lại chạy thoát ra. Cứ thế, mà hang chuột lần đó tôi còn nhớ Tía tôi đã bắt được cả chục con chuột lớn nhỏ. Và cũng lần đào chuột này, tôi nhớ hoài hình ảnh Tía tôi vất vả trên đồng, lo từng miếng ăn thức uống cho chị em chúng tôi, cơ cực biết dường nào. Ðó là chưa kể nào rắn rít hiểm nguy. Nhiều con rắn rượt chuột chạy xuống hang rồi ăn mồi và nằm im ở đó. Vì không đề phòng, nên nhiều người đào chuột bị chết vì rắn là thường.
Dù còn bé thơ, tôi đã biết chia xẻ nỗi nhọc nhằn của Tía tôi thuở ấy. Hôm nay, viết những dòng này, tôi nghe như đâu đây, mới hôm qua, Tía tôi còn sống với cái cảnh ruộng lúa đồng quê, đặt lươn, bắt chuột ngày nào cho con cái có thức ăn mà không hề than cực, than khó bao giờ.
Nói đến bắt chuột, thật ra, chỉ là công việc phụ thuộc ở đồng quê. Người nông dân, họ chỉ đi bắt chuột vì rỗi rãnh, nhằm mục đích kiếm thêm thức ăn, hoặc kiếm mồi để lai rai vài cố c rượu đế sau những ngày vất vả vì mùa màng. Hoặc họ đi bắt chuột vì tới mùa mưa, chuột đầy đồng, người này rũ người kia, có khi cả xóm cùng đi bắt chuột. Có một số đi bắt chuột để bán, nhưng kể ra cũng ít, không mấy người. Tuy nhiên, cách thức bắt chuột được người nôn g dân nghĩ ra rất nhiều cách khác nhau tùy theo loại chuột và cũng tùy theo mùa màng.
Trước nhất là dùng suổng để đào như trường hợp tôi theo Tía tôi ở trên, hồi tôi còn nhỏ. Bây giờ, ở quê tôi, người ta vẫn còn dùng cách này rất nhiều. Mỗi hang ít nhất một con. Có han g hai, ba con chuột lớn. Thỉnh thoảng mới có vài hang chuột dồn vì mưa ngập hang, có đến cả chục con.
Ngoài ra còn những cách bắt chuột khác như gài rập. Có hai loại rập; rập đất và rập bằng lưới dây chì. Rập đất là một miếng vỉ được đan bằng tre, bề dài khoảng năm tấc, bề ngang kho ảng ba tấc. Phiá trên, người ta lấy đất bùn đấp lên làm thế nào đủ sức nặng để đè ép con chuột khi rập bị sập, chuột không chạy thoát được. Còn rập bằng lưới dây chì thường có bán tại các chợ, giống như cái lồng nhỏ với bộ phận gài bẩy rất nhạy. Cả hai loại rập này được gài dọc theo bờ kinh nơi cỏ nhiều. Nền rập được dọn bóng láng. Mồi gài chuột bằng lúa hột hoặc cua được tách ra làm hai. Chiều trước khi mặt trời lặn, những rập chuột phải được gài xong với đầy đủ mồi. Khi màn đêm buông xuống, những chú chuột rời hang đi tìm mồi, gặp những nhúm lúa hột, mon men bò vào ngang qua cái bẩy, miệng rập đóng lại nếu là rập bằng lưới dây chì hoặc rập sập xuống nếu rập chuột bằng đất. Vì mỗi loại rập có đặc tính như vậy nên chuột vào bẩy rập đất chuộ t đều bị chết. Còn chuột mắc bẩy bằng rập dây chì luôn luôn còn sống. Người mua chuột thích chuột sống hơn. Chuột làm sẵn thường là chuột chết do gài rập đất, hoặc chuột bị thuốc, chuột đập.
Thuốc chuột là phương pháp diệt chuột phá hại mùa màng rất hữu hiệu. Những nơi nào chuột nhiều, nhà nông chỉ còn cách hay nhất là mua thuốc chuột về tẩm vào những con cua được tách ra, rồ i đem đặt những con cua dọc theo chỗ lúa bị chuột cắn phá hoặc cặp giồng ranh, bờ kinh. Sau khi chuột ăn cua có tẩm thuốc rồi bò xuống mương uống nước, thắm thuốc và ngã lăn ra chết. Thường chuột bị thuốc, người ta ít ai ăn. Nhưng về sau, dân số càng ngày càng đông, thực phẩm khan hiếm, nên món chuột này cũng bán được tại các chợ làng.
Ðập chuột vào mùa mưa là một cách bắt chuột vừa vui, vừa được nhiều chuột như chạy chơi giỡn ngoài đồng với cái không khí trong lành của đồng quê, cùng khung cảnh đêm tối bao la, u tịch. Trên trời cao một vài vì sao như hoàn hồn trở lại sau cơn mưa lớn buổi chiều treo lơ lững đó đây, chúng tôi cảm nhận ra rằng con người thật qúa nhỏ bé trước thiên nhiên. Ngày nào có cơn mưa lớn như trút nước ào ạt, ban đêm trên những cánh đồng từ vùng Cái Sao vô Bắc Dục, Phú Hoà, Ðịnh Mỹ, Núi Sập, trỗ qua Kinh B, Kinh F, Tân Hiệp... hoặc cánh đồng Mặc Cần Dưng chạy xuống Ba Bần, Ba Dầu, rồi đ ổ lên Cầu Số Năm đường đi Tri Tôn là cả một rừng đèn manchon, thắp bằng dầu lửa bơm hơi, của những người đi đập chuột như một rừng hoa đăng. Thông thường mỗi chiếc đèn như vậy có khoảng b ốn người gồm một người cầm đèn, một người xách giỏ đựng chuột đi phía sau và hai người với hai cây roi bằng nhánh tre đi hai bên người cầm đèn để sẵn sàng đập chuột. Do cơn mưa ban ngày làm ngập hang, chuột không có chỗ trú ngụ, ban đêm túa lên trên đồng chạy lềnh con. Thành ra những toán đi đập chuột mặc tình mà đập. Nhiều con gặp đèn sáng chạy lũi vô chân, chạy tán loạn, không biết đường nào mà đập. Theo kinh nghiệm của dân quê, không nên đập cây roi tre từ trên xuống, chuột chạy nhanh dễ bị trật. Mà nên quét cây roi nằm ngang như quét nhà, cây roi sẽ quét một đường dài, dễ trú'ng vào bốn chân của con chuột hơn. Nhớ hồi còn ở nhà vào những năm còn làm lúa mùa, chuột đồng còn nhiều, có những đêm đi đập chuột như vậy dường như đi sáng đêm mà không biết mệt vì ham chuột. Rồi như bị chuột dắt không bằng. Nhưng lúc trở về thì rất ngán ngẩm vì chuột đầy giỏ mà đường về nhà vì mãi miết theo chuột, nên giờ nhìn lại đã quá xa. Nhưng rồi tối lại, ai ai cũng rạo rực muốn đi đập chuột nữa. Giờ nhớ lại, trong lòng còn thấy nôn nao với một niềm vui ruộng đồng một thời, cùng nét hồn nhiên của tuổi thơ nơi chốn thân thương, trong lành của quê hương ngày nào, khó mà có lại dù chỉ một lần.
Tùy từng mùa, người dân ở thôn quê có những cách bắt chuột khác nhau cho thích hợp. Chẳng hạn như ví cù chuột là bắt chuột bằng cách dùng một cái lọp lớn loại lọp đặt cá tôm mà chúng ta thường thấy ở miền lục tỉnh nhưng những rẽ lọp được bện dày hơn để chuột không chen lọt ra được. Sau khi chọn được một cụm lác, một cum cỏ mù mịt với những vỏ cua, vỏ ốc rải rác, chứng tỏ có chuột đang ở, người ta bắt đầu lựa vị trí đặt cái lọp, có khi phải hai ba cái lọp như vậy mới chứa đủ số chuột trong đám cỏ này. Tiếp theo là lấy lưới hoặc đăng bằng tre bao chung quanh đám cỏ. Ðâu đó xong xuôi, tất cả cùng nhau hợp lực về phía trên, chỗ không có đặt lọp, dùng lưỡi hái cắt một ít cỏ cho trống, rồi dùng cây quơ đập nhằm gây tiếng động dồn đuổi chuột về phía đặt lọp. Tất cả chim chóc, rắn, rùa bị rượt đuổi tìm đường thoát thân nên chui vào mấy cái lọp. Ðuổi chuột cách này thường cũng được nhiều chim như ốc cao, chằng nghịch, cúm núm...
Còn một cách đuổi chuột khác bằng xà di, một loại dụng cụ được bện bằng những rẻ tre chuốt thật bóng, một đầu có hom để chuột chui vào, đầu kia tóp lại và bịt kín. Vòng chu vi của xà d i chỗ lớn nhất khoảng ba hoặc bốn gang tay. Cách đuổi chuột này thường thực hiên vào ban đêm, lợi dụng lúc chuột đi ăn cùng thói quen của chuột luôn luôn chạy theo lối mòn những chỗ mà chúng thường t ới lui trong bụi rậm. Người nông dân chọn vị trí thích hợp rồi đặt xà di nằm vững vàng, nhưng cần lưu ý, loài chuột rất khôn, nên cần phải đặt xà di trong chỗ khuất ngay sau lối mòn chuột chạy vừ a hết để chuột không nghi ngại chạy giạt hai bên. Sau đó, đi lên trên một đỗi, khoảng vài chục thước, rồi lấy roi tre đuổi chuột chạy dồn xuống phía xà di.Thường thường cách đuổi chuột này cùng d di có hai người, để hủ hỉ nói chuyện cho vui và tiếp giúp lẫn nhau. Mỗi luồng đuổi như vậy tùy theo chỗ chuột nhiều hoặt ít mà có từ vài ba con đến cả chục. Thuở nhỏ, tôi có nhiều lần theo ngườ i lớn đuổi chuột loại này, rất thích thú mỗi lần chuột vào xà di cả chục con, đi hoài cũng không biết mệt, dù ban đêm muỗi mòng ì xèo.
Một vài nơi như anh Năm Dân, người bạn gìa kể lại, dưới Chương Thiện nơi đồng bái, người ta còn nghĩ ra cách chất chà chuột. Ðây là hình thức nhữ chuột vào một khu nào đó bằng cách lâ 'y chà chất lên rồi tủ rôm, tủ cỏ cho sầm uất, rãi lúa để chuột vào kiếm mồi, trú ngụ, làm hang... Lâu lâu, người ta dùng đăng hoặc lưới ví cù như cách đuổi chuột bằng lọp vùng Ba Bần, Núi Sập, Ðồng Tháp Mười.
Riêng chuột cơm, chuột đồng mà ở vườn tre, vườn tràm, vườn dừa, người nông dân thường dùng chỉa làm bằng kèo dù hoặc câm xe đạp để đâm hay nạng giàn thung với những viên đạ bằng đấ t sét vo tròn phơi khô để bắn, vì khi bị phá động, chúng thường chạy tuốt lên đọt tràm, ngọn tre cao chót vót. Ở các vườn dừa Bến Tre, người làm vườn cũng dùng hình thức gài rập loại bằng ống tre. Loại rập này thường đặt nơi những tàu dừa giáp nhau, hoặc trên các bẹ dừa ở trên ngọn, tức là chỗ nào chuột dễ vào mà rập không bị gió làm rơi xuống đất. Cách bắt chuột bằng chỉa, bằng nạn g giàn thung thường vào mùa nước lên, khi chuột ngoài đông không có chỗ trú ngụ tràn vào vườn.
Tuy nhiên, những năm còn làm lúa mùa, giữa những cánh đồng lúa tít mù xa, chuột vẫn phải ở trên đồng, rồi làm ổ, cắn lúa, ăn cua, ăn ốc. Người làm ruộng cũng thường đi bắt chuột trên những chiếc xuồng câu mình thon nhỏ. Họ dùng sào dài chống dọc theo những đụn lúa dày vì nơi đây chuột thường trú ngụ. Mỗi khi gặp ổ chuột, người ta dừng xuồng lại, trông trước nhìn sau, rồi dùng câ y sào vừa là cây chỉa đâm vào ổ. Thường chuột nhảy ra khỏi ổ và lặn một hơi dài. Trường hợp này, người đi săn chuột cần theo dõi những bọt nước mà chuột để lại trên lối nó lặn, cho đến khi chuột đuối hơi, nổi lên mặt nước, là dùng chỉa đăm liền, ít khi bị vuột. Trong những dịp này, người nông dân cũng gặp được nhiều ổ le le, cúm núm, trích rừng đẻ đầy ổ. Ðời sống của đồng quê vào những năm tháng còn làm lúa mùa thật là thanh nhàn với ruộng đồng bát ngát, lúa thóc đầy bồ, cá tôm ngừ nước, chim chóc đẻ rải rác khắp lung này vũng kia. Việc bắt chuột vào thời kỳ này như đi chơi, đi dạo, vừa có thức ăn, vừa giữ gìn được lúa thóc, mùa màng. Do đó, những năm tháng xa xưa đó ở nhà quê vui thú điền viên thật sự, mà bây giờ với lúa thần nông hai ba mùa mỗi năm, kho ^ng làm sao có lại được cảnh an lạc này.
Ðại khái, có những cách bắt chuột như vậy rải rác khắp các nơi gần giống như nhau, nếu có khác chăng, chẳng qua người ta dùng một vài dụng cụ cho thích hợp với mỗi địa phương. Ðiều muố n nói ở đây, dù cách nào, mỗi khi bắt được chuột, dù ít dù nhiều, đều có thú vui vui thật khó tả.
Riêng cách làm thịt chuột, mỗi người mỗi cách. Nhưng tựu trung có ba cách thông dụng. Trước nhất là nhún chuột vào chảo nước sôi, rồi lột da, làm ruột. Cách này chuột ít bị hôi. Cách thứ hai, mà người làm ruộng ở trên các trại ruộng giữa đồng hay áp dụng, là sắp những con chuột lên lớp rơm, rồi tủ một lớp rơm khác lên che khuất những con chuột này và đốt lửa. Khi lớp rơm này tàn, người ta trở những con chuột lại và tiếp tục tủ rơm, đốt lần thứ hai. Sau đó lột da và làm ruột. Chuột làm bằng cách này có mùi hơi khét vì da chuột bị lửa cháy. Cách thứ ba rất đơn giản, tức là cắt đầu chuột rồi lột da, làm ruột, không phải nhún nước sôi hay thui gì cả, rất tiện. Những con chuột mà các bạn theo mẹ ra chợ làng thấy người ta bán trong các xề đều làm bằng cách nhún chuột vào nước sôi, chuột vừa trắng vừa ít có mùi chuột.
Nhưng có lẽ những món ăn làm bằng thịt chuột là phần cũng hấp dẫn không thua gì cái thú bắt chuột đồng vào mùa mưa. Tùy theo khẩu vị của mỗi người mà có những món thịt chuột được chế biến thơm phưng phức với những gia vị cây nhà lá vườn. Những món thịt chuột trở thành nét độc đáo của thôn quê miền Nam, mà những nơi đô hội như Sài Gòn không làm sao có được.
Trước nhất là món thịt chuột nướng tươi. Những con chuột sau khi làm sạch sẽ, để cho ráo nước, rồi lấy nhánh tre gai chẻ làm những cái gắp và mỗi gắp như vậy khoảng năm con chuột tươi, không phải ướp gia vị gì hết. Tất cả được đặt lên bếp lửa than hồng, đừng để than áp quá. Chuột sẽ từ từ chín vàng, tươm mỡ thơm ngào ngạt. Chuột nướng tươi cũng như các món thịt chuột sắp kể ra đây đều được chấm với nước mắm bằm xoài sống là hợp khẩu vị nhất. Vì vào mùa chuột ở đồng quê cùng là mùa xoài ở miền Nam với những vườn xoài oằn trái.
Rồi nào là chuột muối sả ớt để chiên hoặc để nướng, chuột khìa nước dừa, chuột xào lá lốt, chuột xào lá cách, chuột xào lá bầu còn non, chuột xào hành, chuôt xào kiệu, chuột xào sả ớt, chuột xào lăn, chuột xào hủ qua còn gọi trái khổ qua, chuột làm nhưn bánh xèo, chuột kho mắm, chuột nấu canh chua, chuột làm mắm, chuột làm khô, chuột kho tương hột.
Ðặc biệt món thịt chuột kho tương hột này, hồi má tôi còn sống, mỗi lần đến mùa chuột, anh em chúng tôi đi học xa về, má tôi cho chúng tôi ăn món kho đặc biệt này đến phát ghiền. Tôi muốn nhắc điều này để thấy má tôi cũng như những bà mẹ quê lúc nào cũng thương con cái thật giản dị, chăm chú trong từng mẽ thịt chuột kho tương hột với lửa riu riu mà thâm thúy, cùng cõi lòng từ tâm, yêu thương con cái của mình bao la biết dường nào. Ðời tôi với những ngày còn lại này, biết đến bao giờ mới được ăn lại những miếng thịt chuột kho tương của Mẹ tôi như ngày nào!!!
Sở dĩ tất cả các món thịt chuột thường được xào vì thịt chuột là loại thịt rừng, nên xào như vậy ít nghe mùi chuột. Một vài món có nước như kho mắm, canh chua, chuột cũng đã được chiên sơ qua một lượt rồi, nhưng cũng ít thông dụng.
Từ xưa tới nay, nói về chuột dường như người đời cũng như sách vở đều chê nhiều hơn khen. Có lẽ những định kiến này đã có từ khi có loài chuột với những phá hại mùa màng của loài ngư ời. Chẳng hạn trong tục ngữ ca dao xuất xứ từ nông thôn, nơi chuột sanh sản vô số, đã có những câu chí lý sau:
Chuột chù chê khỉ rằng hôi,
Khỉ lại trả lời; Cả họ mày thơm.
Hoặc:
Chuột cắn dây buộc mèo.
Hoặc:
Chuột chạy cùng sào.
và còn nhiều câu khác như:
Chuột sa hủ nếp
Có nơi còn viết:
Chuột sa chĩnh gạo.
Ðến như Cống Quỳnh cũng có bài thơ " Con Chuột " như sau:
Ông cống khoa nào chẳng thấy thi,
Chuột thì kêu chuột, Tý làm chi?
Bắt hơi chó sịt cong lưng chạy,
Nghe tiếng mèo ngao rút cổ đi.
Chĩnh nếp rá cơm tha thểnh bậy,
Ðống rơm, bồ lúa ngách hang kỳ,
Phó loài chuột lũ bây nên chạ,
Họa có bầu nan hắn sợ mi.
Riêng về lời khen dành cho chuột cũng có, nhưng rất hiếm hoi:
Chuột chù lại có xạ hương.
Ðặc biệt câu chuyện được kể sau đây trích trong "Truyện giải buồn " của Ông Huỳnh Tịnh Của, được Cụ Vương Hồng Sển kể lại như tấm gương về lòng thủy chung của cặp vợ chồng chuột đồng sau đây:
Hai con chuột là một cặp vợ chồng, rủ nhau đi kiếm mồi lót dạ, rủi bị một con rắn bắt, con kia giận dữ, trố mắt nhìn như hai hạt tiêu, long lanh ướt mi mà cũng chỉ núp xa xa mà dòm, biết mình y ếu sức nên không dám lại gần. Rắn ta nuốt xong, lểnh nghểnh bò xuống hang, nhưng khi vừa chui vào được nửa thân mình, thì con chuột bạn chạy đến xốc lại cắn riết cạnh đuôi rắn, rắn giận rút đầu trở lại, thì chuột ngoài này nhảy trái, rắn rượt thì đã trễ, rắn lui cui lộn lại vào hang, xăm xăm chưa vào hết, thì chuột nọ y như mửng củ, lại cắn đuôi rắn, ạch đụi lằn nhằn, cù cưa cú cứa, hễ rắn đút đầu vào hang thì chuột lại cắn đuôi như trước, và hễ rắn ló đầu lên thì chuột chạy đi... cả hai làm như vậy một hồi khá lâu lâu, rắn thét bực mình,trở ra, mửa ngay con chuột đã nuốt bỏ nằm trên mặt đất rồi bò vào hang êm thắm.
Chuột sống nhìn xác chuột chết, chạy lại hít ngửi, dường như thương tiếc, rồi tha xác ấy đi mất.
Và Cụ Vương Hồng Sển viết tiếp: "Chuyện trong sách vắn tắt như vậy, dám đâu gọi là v ăn, tôi chép lại đây và vẫn bồi hồi, dám hỏi người nào khinh lối viết trong Nam, sẽ nghĩ sao?" (*)
Ðó là chuyện sách vở. Trở lại với sinh hoạt đời sống ở đồng ruộng, mùa chuột ở đồng quê, thật ra chuột có phá hại mùa màng, nhưng vì luá mùa trùng trùng điêp điệp nên mức hư hại cũng không đáng vào đâu. Dưới cái nhìn của một người nông dân và với cảm nhận của một người sanh ra, lớn lên ở đồng quê, phải công tâm mà nhận rằng mùa chuột là mùa nhộn nhịp, vui vui với những đêm đuổi chuột, đập chuột, những ngày đào chuột với những giỏ chuột đầy ấp... tất tất, đều thể hiện tấm chân tình giữa những người bạn nông dân chất phác với nhau, cười đùa với nhau trên những cánh đồng ruộng bát ngát rào rào gió mát, thương cảm đùm bọc nhau trong nghĩa chòm xóm thật thân tình. Ðó là chưa kể những món ăn bằng thịt chuột vào mùa chuột đồng còn là nét đặc trưng của pho ng cách sống của xóm làng miền Nam, một phong cách mộc mạc, bình dị, chân thật như cây nhà lá vườn mà béo ngậy như những miếng thịt chuột thơm thơm ở chốn quê mùa.
Nếu được phép mượn câu ca dao trên để nói về miền quê vào mùa chuột và thêm vào vài chữ như sau, bức tranh đồng quê miền Nam đẹp và thanh tao biết là dường nào:
Chim, gà, cá, chuột, buồng cau,
Mùa nào thức ấy, giữ màu nhà quê.
Lương Thư Trung
Boston, Tháng sáu - 1997
* Trích trong " Nửa Ðời Còn Lại " của Vương Hồng Sển
ÐỐI THOẠI CHO VUI...
- Chào anh Hoangvy.
- Chào anh Không Hoangvy, anh vẫn chưa đi ngủ ạ
- Chưa Anh đang đọc sách gì vậy?
- Ồ, tôi đang đọc tập san "Mầm Sống" *.
- Anh nói gì?
- Tôi đang đọc tập san "mầm sống"
- "mầm sống", danh từ này tôi nghe không quen.
- Ðây là một tập san mới toanh do một nhóm sinh viên chủ trương và thực hiện.
- Úi chao, nhóm nào mà liều mạng vậy anh?
- Tôi cũng không rõ, nhưng tôi đồng ý với anh mấy người này chắc là điếc không sợ súng, mù không sợ ma, hoặc là thấy deadend mà cứ lủi xe vào.
- Anh nói quá, họ có lý tưởng riêng của họ chứ!
- Úi dào anh ơi, lý tưởng lý tiếc cái nỗi gì. Thời buổi bây giờ người ta chạy lên chạy xuống, chạy qua chạy lại, chạy tới chạy lui, chạy thở hồng hộc, chạy thở hổn hển để tìm miếng cơm manh áo, một căn nhà "mát mẻ", vài chiếc xe sì-pọt mui trần. Ai hơi sức đâu mà lo đến chuyện văn chương chữ nghĩa. Và nhất là văn chương Vietnam. Lời của cụ Tản Ðà ngày xưa, nghiệm ra, đúng cả trăm phần trăm, "văn chương hạ giới rẻ như bèo". Rồi đến cụ Nguyễn Vỹ, "nhà văn An Nam khổ như chó", cay đắng không! Rồi gần đây lại có ông Duyên Anh đe dọa: "văn chương là một hệ lụy ê chề nhất trong những hệ lụy của đời sống". Anh nghĩ xem, cái nhóm sinh viên nào đó có phải là cù lần không.
- Này anh bạn, tôi thấy anh hay đọc sách. Chắc anh cũng phải là một người mê mải văn chương chữ nghĩa chứ. Tại sao anh lại bảo những người cùng sở thích với anh là cù lần?
- Anh đừng bắt bẻ tôi, chẳng qua là tôi thấy thương cho họ, rồi mới nói trắng ra thôi. Anh cứ nhìn sự việc mà phán đoán. Anh có đồng ý với tôi là người ta, nhất là lớp trẻ bây giờ, thờ ơ, lãnh đạm với chữ nghĩa Vietnam quá hay không?
- Cái đó còn tùy người ch Anh không thể vơ đũa cả nắm, rồi kết luận hàm hồ như vậy được. Người ta đọc sách ban đêm, ở nhà, anh làm sao biết. Thỉnh thoảng tôi cũng tạt vào thư viện công cộng, thấy sách tiếng Việt nhàu nát, dở ra thì thấy người ta đọc xong rồi bình lên bình xuống anh à. Chữ nhỏ li ti, chữ nhỏ chi chít, viết mực, viết chì. Họ "sốt sắng" như thế với văn chương tiếng Việt, anh còn nói được gì nữa.
- Anh anh bạn, anh nói đến thư viện công cộng. Thế anh có để ý những cuốn sách đó được check in vào năm nào không, và những cuốn sách như anh nói thuộc loại nào không?
- Ấy anh định bảo tôi là những cuốn sách đó không có giá trị hay sao. Anh vẫn chưa thoát được cái câu vơ đũa cả nắm của tôi.
- Anh nói gì lòng vòng tôi không hiểu. Ý anh muốn nói là vẫn có những người quan tâm đến văn chương chữ nghĩa có phải không. Bằng chứng là họ mượn sách trong thư viện, bất kể loại sách gì, đọc xong rồi bình lên bình xuống nữa đúng không? Nhưng tôi cũng xin báo cho anh biết là số người đó cũng không nhiều đâu.
- Anh lại ăn nói hàm hồ. Anh đã thống kê chưa mà anh dám khẳng định là như vậy?
- Tại sao anh cứ bám vào cái thư việt công cộng để chất vấn tôi. Thế anh không mở mắt ra mà nhìn xem sự việc chung quanh anh à. Tôi chỉ cần đan cử vài thí dụ cho anh hiểu. Với tốc độ tiêu thụ sách vở báo chí bây giờ, tôi nghĩ chẳng có nhà văn nhà báo nào sống bằng nghề cầm bút được, chỉ trừ một vài trường hợp rất cá biệt. Nếu số người tiêu thụ ít, sự phổ biến sẽ suy giảm, rồi dĩ nhiên sẽ còn ít người quan tâm đến chữ nghĩa. Còn nữa, điều này kinh khủng hơn nhiều. Tôi hỏi anh nhé, đứa em út của anh hay nói với anh bằng tiếng gì?
- Tiếng Mỹ. Thỉnh thoảng có tiếng Việt, rồi có lúc Việt-Mỹ đề huề.
- Thế thì anh còn được chút an ủi. Bạn của anh nói với anh bằng tiếng gì?
- Tùy theọ Có lúc tiếng Mỹ, rồi có lúc tiếng Việt. Thích tiếng gì tôi chiều tiếng đó.
- Úi choa, bấy lâu nay tôi không biết là anh giỏi như vậy. Ðể tôi mượn ông bạn Trung đông tròn quay của tôi, sổ với anh vài tràng xem anh có chiều được ông ta hay không. Lại còn chuyện này nữa, tôi kể ra anh đừng giật mình. Số là tôi có cô bạn không thân, nói chuyện bằng tiếng Việt với tôi như sáo, rồi tôi lại nghe một người bạn khác của tôi kể về cô ta là cô ta không biết nói tiếng Việt. Tôi lấy làm quái dị, và hỏi kỹ anh ta có lộn người hay không. Anh ta qủa quyết là không, "chính cô bé đó nói với tao là I don't know how to speak Vietnamese mà, rồi lại còn nhướng đôi mắt nai lên nữa". Một chuyện tôi không thể nào hiểu được.
- Mỗi người có một tâm sự riêng, một lối sống riêng của họ. Chuyện anh kể chẳng chứng minh được điều gì.
- Ấy là tôi muốn nói với anh bây giờ người ta xem tiếng Việt mình như bị ghẻ lở vậy, tránh càng xa càng tốt.
- Anh hơi cay độc, tôi nghĩ anh chất chứa quá nhiều tư tưởng yếm thế bi quan.
- Anh anh bạn, chuyện đời có đôi lúc chẳng thể nào lạc quan được nữa, hoặc lạc quan chỉ là một cách suy nghĩ trốn tránh, không đám đối đầu với thực tế.
- Ối, anh lại "triết lý" cả với tôi nữa à?
- Tôi không dám "triết lý" với anh. Nhưng nếu chuyện nào anh cũng giữ một thái độ lạc quan như vậy thì tôi cho anh là một đồ đệ tâm đắc của Lão, Trang. Anh nên lên núi mà sống cho hết cái "tuổi trời" của anh. Tôi có đọc đâu đó bài nhận định của bậc cha anh, nói rắng trong vài thế hệ nữa, tiếng Việt sẽ mất hẳn trên nước Mỹ. Ðồng ý hay không tùy anh. Tôi không tranh cãi với anh nữa. Anh cứ nhìn xem thì biết, trên toàn bộ nước Mỹ này, có được bao nhiêu tờ báo tuổi trẻ.
- Vậy ý chính của anh muốn nói là gì. Hồi nãy anh bảo tôi nhóm sinh viên nào đó chủ trương tập san "mầm sống" là những người cù lần. Bây giờ tôi lại lờ mờ nhận thấy anh ủng hộ họ thì đúng hơn.
- Tôi nhắc lại với anh là tôi thấy thương họ, mới nói thẳng ra thôị Có lẽ anh nói đúng, chắc họ có một lý tưởng nào đó. Anh à, bây giờ nhân tình thế thái đảo lộn. Anh cứ nhìn vào văn chương... tình yêu của Mỹ bây giờ mà cười chua cười chát. Tôi tưởng rằng ngày trước người ta còn đôi co với nhau nghệ thuật vị nghệ thuật, hoặc nghệ thuật vị nhân sinh chứ, nhưng ngày nay thì những điều đó đã hóa cổ lỗ. Người ta đề xướng: "nghệ thuật vị... tình dục". Chủ nghĩa khoái lạc, chủ nghĩa thở hổn hển, nhơ nhớp, nhầy nhụa. Ấy thế mà họ còn cao rao lên là rất đẹp nữa chứ, "look at this, you must see it, did you see the beauty of it?". Quái đản! những cái gì trước kia thường gọi là thô tục, là dâm loạn, nay bỗng biến thành vẻ đẹp kiêu sa đến nỗị.. "you must see it!"...
- Anh cho tôi cắt ngang được không. Phải công nhận anh rất là chua chát. Anh nên biết rằng tất cả mọi sự phải thay đổi với thời gian. Nếu như anh không thay đổi thì anh sẽ hoá thành.. . người xưa, và chính anh mới là người lên rừng ở ẩn, nói chuyện với khỉ. Mà tôi nghĩ anh còn trẻ như thế, lên rừng ở ẩn cũng không xong, năm bữa nửa tháng, thấy nhớ vài cành bông hồng, anh lại đòi về cho mà xem.
- Anh đừng châm biếm tôị Ðồng ý với anh là mọi chuyện cần phải thay đổi để phù hợp với thời đại chúng ta đang sống. Nhưng chỉ nên thay đổi những gì phải thay đổi thôị Luân lý là cái gì đó đã có tự ngàn xưa, là cái thước đo gía trị con người. Không thể một cái rụp là đảo lộn luân thường đạo lý như vậy được. Anh đồng ý không!
- Anh lạc đề rồi, anh bàn qua một chuyện khác qúa là rộng lớn.
- Xin lỗi anh. Tôi sẽ trở về đề tài tiếng Việt trên đất Mỹ nàỵ Tôi nói tới đâu rồi nhỉ? À, tôi nói chắc nhóm sinh viên chủ trương "mầm sống" có một lý tưởng riêng của hỗ Nhưng thôi đó là chuyện của họ. Tôi không dám lạm bàn. Này anh Không Hoangvy, nói thật với anh có đôi lúc tôi muốn viết thật nhiều, viết bằng tiếng mẹ đẻ thân yêu. Anh cứ tưởng tượng vào một đêm khuya, ngồi một mình, thấy bóng của chính mình in xiêu xiêu trên vách, rồi anh chộp bắt những suy nghĩ, dàn trải ra trên trang giấy trắng. Ðó không phải là một lạc thú sao?
- Anh nói nghe hay thật. Nhưng đó là sở thích của anh, còn tôi thì ban đêm tôi chỉ thích đi ngủ cho khoẻ (ngáp...).
- Anh nói chuyện chán thật. Thôi chào anh, tôi cũng phải đi ngủ đây. Ngủ ngon!
Hoàng Vỹ
* Báo "Mầm sống" chỉ là chuyện tưởng tượng. Nếu có sự trùng hợp, xin được thứ lỗi.
QUÁN, NẮNG CHIỀU
Quán thưa khách. Hai người ngồi ở một góc sát tường.
Nắng chiều từ ngọn cây cao đổ xuống, nhảy múa trên mặt bàn ghế, nền nhấ Một con ong bay vù theo đám bụi gió vừa thổi bốc lên. Mùi hương xoài, mùi khói quyện trong màu nắng tháng tư. Lẫn trong tiếng xe cộ từ xa nghe như có cả tiếng sấm ở phía chân trời.
Ðộ dùng thìa khuấy tan đường trong ly đá chanh của Hát. Anh hỏi thứ bảy này em đi, mấy giờ thì máy bay cất cánh. Một cụm mây vừa bay qua, bóng mát rợp cả một vùng. Hát nói: lúc năm giờ sáng, nhưng em phải có mặt ở phi trường lúc ba giờ để làm thủ tục. Hát đưa tay gỡ mấy sợi tóc vướng trên má ướt đẫm mồ hôi. Cổ Hát trắng và cao. Cô cười, miệng rộng, hàm răng trắng đều. Chắc đêm nay em không ngủ được. Ðã nhiều đêm em thao thức, nghe như có tiếng sóng biển trong đầu. Ðộ thấy một vệt nắng vừa tắt trong mắt Hát. Anh ơi, bao giờ mới gặp lại nhau. Ðộ nheo mắt, ngước nhìn lên vòm cây bông giấy, nghĩ tới những ngày trước mặt. Anh không biết, nhưng chắc còn lâu lắm. Anh sẽ không ra phi trường đưa em đâu. Ðông người, ồn ào. Anh không thích. Và anh không muốn nhìn Hát khóc. Ðộ cầm bàn tay cô, lòng bàn tay khô nhám. Tim anh chợt đau nhói. Mười mấy năm trôi qua trong nắng cháy mưa xiên. Con người có khi phải cào rác, bứt lá cây rừng kiếm miếng ăn. Bàng hoàng, Ðộ vuốt những hàng lông nâu đen trên cánh tay Hát, nhìn thật sâu vào đôi mắt. Gió xô giạt nắng trên cây và trên vai áo cô. Có tiếng cành khô gãy. Một chiếc lá dầu màu nâu đỏ rơi trên mặt bàn, chạm vào ly nước. Hát cúi xuống, nhìn cườm tay mình, chỗ có vết dao cắt. Em thực chẳng muốn ra đi chút nào, chỉ vì con em thôi. Thằng Thảo cần được học hành tới nơi tới chốn, như bố nó từng kỳ vọng lúc còn sống.
Trời bắt đầu xế chiều. Gió động cuồng dại trên vòm cao. Khoảnh khắc, mây xám về đầy trời. Một mùi hương ngái thoảng nồng, có lẽ từ áo, từ tóc Hát. Mùi hương gợi nhớ, đã trở thành ám ảnh rướm máu trong hồn. Ðộ thấy bàng hoàng, ngây dại và đau đớn đến ngộp thở. Ký ức chàng bật sáng như những khung cửa sổ trong đêm. Ngày ấy, Hát đến thăm Ðộ nơi chàng ở trỗ Mùa hạ Cành phượng trên mái trường nâu đã nở đồ Hát gửi xe đạp lại, hai người nắm tay nhau đi xem chiếu bóng. Bàn tay Hát ấm dịu như con chim nhỏ trong tay anh. Rạp chiếu phim gì, cả hai đều không biết tới. Hai người hôn nhau thật sâu, thấy nắng rực rỡ trên đồi, thấy cỏ xanh và suối chảy, mây bay. Ðó là lần đầu tiên và cuối cùng trong đời.
Rồi hai người xa nhau, như con sông bỗng chia làm hai nhánh, chẳng hiểu vì đâu. Hát lấy chồng, có con, rồi chồng chết. Chiến tranh cuốn Ðộ đi trong cơn lốc mịt mù. Rồi vợ, con, gia đình, bao nhiêu hệ lụy chằng chịt. Sau năm 1975, Ðộ đi tù cùng với bao đồng đội khác. Mãi tới gần đây, hai người mới gặp lại nhau. Nhưng chuyện đã khác xưa. Hát học may, chuẩn bị đi nước ngoài sinh sống, đoàn tụ cùng bố mẹ.
Nắng chiều vụt tắt trên ngọn cao. Gió vào đầy quán, cuốn theo lá úa, những cánh hoa giấy màu đỏ và những mẩu vụn của cành khô gãy. Mái tóc Hát rối tung. Ðộ quàng tay qua đôi vai tròn nhỏ của Hát. Tóc cô xoã xuống vai anh, tưởng như hằng ngủ yên ở đó cùng ký ức của một mùi hương đau đớn. Anh nói: mái tóc này lẽ ra đã là của anh từ những ngày nào. Bây giờ, trước lúc xa nhau, anh chỉ xin em một sợi thôi. Hát im lặng, mở túi xách, lục tìm trong mớ đồ may, lấy ra cái kéo nhỏ. Rồi nhẽ, nhanh và sắc, cô cắt lìa một lọn nhỏ, gói vào chiếc khăn tay, trao cho Ðộ. Trong bóng chiều, mắt Hát đầy gió.
Trời đã bắt đầu chuyển mưa.
Nguyễn Xuân Thiệp
Dallas, TX.